LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là do tự bản thân thực hiện và không
sao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của
riêng mình, chưa sử dụng trong các công bố. Các thông tin sử dụng trong
khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng. Tôi hoàn toàn chịu trách
nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của khóa luận.
Sinh viên
Phạm Thị Mai
LỜI CẢM ƠN
1
Thực tập tốt nghiệp là nội dung quan trọng đối với mỗi sinh viên trước
lúc ra trường. Giai đoạn này vừa giúp cho sinh viên kiểm tra, hệ thống lại
những kiến thức, lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học,
cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn.
Để đạt được mục tiêu đó, đồng thời đáp ứng những yêu cầu nhà tuyển
dụng sau khi ra trường. Được sự nhất trí của nàh trường và khoa, tôi tiến hành
thực tập với tên đề tài: “ Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến miến
dong của các hộ nông dân xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam
Định”.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trường Học Viện
Nông Nghiệp Việt Nam đã giảng dạy, giúp đỡ tô trong suốt quá trình học tập
tại trường.
Hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới thầy TS. Hồ Ngọc Ninh- Khoa kinh tế và phát triển nông thôn , người
đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể cán bộ UBND xã Giao Tiến, và
bà con nông dân tại xã đã tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa luận
các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nghề chế biến miến dong của các hộ nông
dân xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định và đề xuất giải pháp
nâng cao hiệu quả nghề chế biến miến dong của các hộ nông dân ở địa bàn
nghiên cứu trong thời gian tới.
Để đạt mục tiêu đề ra thì đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ làm
nghề chế biến miến dong. Các đối tượng liên quan đến nghề chế biến miến
dong: chính quyền địa phương, các đầu mối thu mua, tiêu thụ miến dong trên
địa bàn.
MỤC LỤC
3
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
……………………………………………………57
Biểu đồ 4.4: Hiệu quả kinh tế trên một đồng chi phí trung gian của các hộ
nông dân theo số năm kinh nghiệm…………………………………………59
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
BQ
Bình quân
Quy mô
QMN
Quy mô nhỏ
QMV
Quy mô vừa
QML
Quy mô lớn
SL
Sản lương
5
SX
Sản xuất
THCS
Trung học cơ sơ
UBND
làm từ bột sắn dây hay bột dong riềng.Tuy nhiên, loại miến làm từ bột dong
riềng là loại miến ngon nhất. Món ăn từ miến dong là nét đặc sắc của người
Việt, trước chỉ có người Thanh Oai – Hà Tây ( nay thuộc Hà Nội) làm nghề
truyền thống này, nhưng nay có nhiều nơi, nhiều địa phương, nhiều làng nghề
truyền thống làm miến đã xuất hiện và phát triển mạnh mẽ.
Xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cũng là nơi nghề làm
miến dong đã có từ lâu đời và trở thành một trong những sản phẩm nổi tiếng
địa phương, được người tiêu dùng ưa chuộng. Nghề chế biến miến dong đã có
mặt ở thôn Việt Hòa của xã Giao Tiến khoảng hơn 30 năm nay.Lúc mới xuất
hiện nghề sản xuất miến dong mang tính nhỏ lẻ, manh mún. Cùng với sự phát
triển công nghệ và thúc đẩy phát triển làng nghề nó được mở rộng và chú
trọng. Nghề chế biến miến dong mang lại thu nhập, tạo việc làm, cuộc sống
ấm no cho người dân nơi đây. Song hiện nay, việc sản xuất và tiêu thụ miến
dong còn gặp nhiều khó khăn cần đươc tháo gỡ.
Từ những vấn đề trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Đánh giá hiệu quả
kinh tế nghề chế biến miến dong của các hộ nông dân xã Giao Tiến,
huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá hiệu quả nghề chế biến miến dong của các hộ nông
dân xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, từ đó đề xuất giải pháp
7
nhằm nâng cao hiệu quả nghề chế biến miến dong góp phần nâng cao thu
nhập của người dân ở địa phương trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá hiệu quả nghề chế
biến miến dong;
- Hiệu quả đạt được của các hộ chế biến miến dong tại xã như thế nào?
- Đâu là yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả nghề chế biến miến dong tại xã?
- Làm thế nào để nâng cao hiệu quả nghề chế biến miến dong của các hộ
nông dân xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định?
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Hộ nông dân
Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu trong nông nghiệp và
phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp
ở nông thôn do hộ nông dân thực hiện.
Theo Ellis nhà nông học người Nga (1988): “ Hộ nông dân là hộ có
phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào
sản xuất, luôn nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản
được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức độ hoàn
hảo không cao”.
Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào thần kinh xã hội, là
hình thức kinh tế cơ sở trong Nông nghiệp và Nông thôn”.
Đào Thế Tuấn (1997): “ Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động
nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi
nông nghiệp ở nông thôn”.
9
Hộ nông dân vừa là đơn vị sản xuất và vừa là đơn vị tiêu dùng. Theo
Đỗ Văn Viện và Đặng Văn Tiến (2006) thì căn cứ theo tính chất ngành sản
xuất, hộ nông dân phân thành: Hộ thuần nông, nông hộ kiêm, nông hộ chuyên
và nông hộ buôn bán. Hộ thuần nông chỉ chuyên sản xuất nông nghiệp; những
Theo tạp chí Di sản văn hóa 4- 2003:Làng nghề là một thực thể vật chất
và tinh thần được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay
một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một sản
phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại lưu truyền trong dân gian. Khái niệm
về làng nghề theo cách nhìn văn hoá bao gồm các nội dung cụ thể, như:
Một làng được gọi là làng nghề khi hội tụ 2 điều kiện sau:
- Có một số lượng tương đối các hộ cùng sản xuất một nghề;
- Thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong
tổng thu nhập của làng.
Như vậy, không phải bất kỳ làng nào có hoạt động ngành nghề cũng gọi là
làng nghề mà cần có qui định một số tiêu chuẩn nhất định. Vấn đề này Vụ
Thống kê Nông, Lâm nghiệp và thuỷ sản có qui định trong phương án Tổng
điều tra Nông nghiệp năm 2001 và uỷ ban ND tỉnh Hà Tây cũng có ban hành
qui định tạm thời về làng nghề theo 4 tiêu chí:
• Là một địa danh gắn với một cộng đồng dân cư có một nghề truyền
thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan toả mạnh mẽ.
• Ổn định về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau
trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm.
• Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ có tay nghề cao, có bí quyết nghề
nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế hệ sau.
• Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và
quan trọng hơn là nó mang những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh
được lịch sử, văn hoá và xã hội liên quan tới chính họ.
Nghề
11
Phạm Sơn( 2012). ‘ Làng nghề và thống kê lang nghề’, Viện khoa học
thống kê: Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, hầu hết dân cư sống ở vùng nông
Hiệu quả sản xuất
• Hiệu quả kinh tế
Là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả
phân bổ (Đỗ Kim Chung 2009, Nguyên lý kinh tế nông nghiệp, NXB Nông
nghiệp Hà Nội)
Theo quan điểm truyền thống là:
- Hệ thống quan điểm thứ nhất: HQKT được đo bằng tỷ số giữa kết quả thu
được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó H = Q/C.
Đây là tương quan phản ánh mức độ nguồn lực sử dụng, khi sử dụng một đơn
vị nguồn lực sẽ thu được kết quả bao nhiêu. Chỉ tiêu càng cao kết quả càng
cao, tức HQKT tỷ lệ thuận với giá trị sản lượng và tỷ lệ nghịch với chi phí
đầu tư.
- Hệ thống quan điểm thư hai: HQKT là phần còn lại của kết quả sản xuất
kinh doanh sau khi trừ chi phi .
H=Q–C
H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả thu được
C: Chi phí bỏ ra
Qua điểm này xác định được chỉ tiêu tuyệt đối của HQKT: Hiệu số Q –
C đạt Max là trị số tuyệt đối của HQKT và quy mô sản xuất được phản ánh
rõ. Nhược điểm quan điểm này là không phản ánh được sự tác động của từng
yếu tố vào quá trình sản xuất kinh doanh đến hiệu quả sản xuất.
- Hệ thống quan điểm thứ ba: HQKT được xem xét trong phần biến
động giữa kết quả sản xuất thu được với chi phí bỏ ra.
H = (Q1 – Q0)/(C1 – C0) =
Q1,Q0 : Lượng kết quả ở hai thời kỳ khác nhau
13
- Lao động là một trong những yếu tố chính cho quá trình sản xuất, nó
chiếm phần lớn chi phí cho quá trình sản xuất. Do đó yếu tố này có sức ảnh
hưởng lớn đến quá trình sản xuất và cũng như ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế
nghề chế biến miến dong. Gía thuê lao động tăng theo xu hướng thị trường.
Mỗi công đoạn quá trình chế biến miến đều có sự tham gia của người lao
động. Trong đó, có công đoạn tráng bánh kinh nghiệm của người lao động
được đề cao. Độ chín của miến, độ dày hay mỏng của sợi miến do bàn tay
của người thợ làm miến quyết định. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng sợi miến.
- Thị trường bột dong ngày càng có xu hướng giảm và khan hiếm.Do
giá trị kinh tế cây dong riềng không cao nên các vùng nguyên liệu ở địa
phương đã mất đi, diện tích dong riềng ở các khu vực khác cũng giảm. Đầu
vào bột dong phải mua ở các tỉnh. Việc mua bột dong với khoảng cách xa như
vậy dẫn tới chi phí tăng. Điều đó, đẩy giá thành sản phẩm miến dong lên cao
kéo theo giảm sức cạnh tranh của sản phẩm miến của địa phương.
- Quy mô sản xuất: xã Giao Tiến gồm 25 hộ sản xuất miến dong. Các
hộ sản xuất có sự khác nhau lớn về quy mô điều đó sẽ dẫn tới doanh thu, chi
phí giữa các nhóm hộ có sự khác biệt lớn. Nhưng quan trọng hơn là cần phân
tích và đánh giá xem nhóm hộ nào sản xuất miến dong có hiệu quả cao hơn và
điều gì dẫn tới hiệu quả nhóm hộ đó lại cao hơn.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Một số chủ trương chính sách liên quan đến phát triển làng nghề chế
biến miến dong
Đảng và nhà nước ta đã tập trung chỉ đạo và ban hành nhiều chính sách
phát triển làng nghề nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc
sống và thu nhập của người dân, đồng thời hoạt động thương mại quốc tế
được đẩy mạnh như Nghị định 66/2006/NĐ- CP ngày 07/07/2006 về phát
đại, nhất là công nghệ sinh học. Đảng ta cũng chủ trương phát triển nhiều
16
hình thức sản xuất nông nghiệp như phát triển kinh tế hộ, trang trại, tổ hợp
tác, hợp tác xã nông nghiệp, vùng chuyên môn hóa… để phát huy lợi thế của
vùng, miền, từng tổ chức.
Nhờ những chủ trương, chính sách đó, nông nghiệp đã tiếp tục phát triển
nhanh, với số lượng hàng hóa lớn, hình thành vùng sản xuất chuyên canh gắn
với chế biến, tạo ra sản phẩm hàng hóa có tính cạnh tranh trên thị trường quốc
tế như: cao su, cà phê, điều, lúa gạo… góp phần giúp nhiều cơ sở sản xuất
thoát nghèo và cũng làm xuất hiện nhiều “ tỷ phú nông dân” ở nhiều vùng,
miền trong cả nước. ( Nguồn: Đặng Hiếu “Đẩy mạnh liên kết trong sản xuất
nông nghiệp: Một chủ trương đúng đắn của Đảng” Ngày 17/04/2011. Báo
Đảng Cộng Sản Việt Nam).
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thu miến dong tại một số tỉnh thành
Xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây là một trong những địa
phương có nghề chế biến miến dong lâu đời. Mỗi ngày, Dương Liễu cung cấp
hàng chục tấn miến cho các chợ đầu mối, nhà hàng ăn uống tại các tỉnh Hà
Nội, cùng các tỉnh lân cận phía Bắc. Miến dong Dương Liễu được biết đến
không tẩy, sợi vụn, vàng, hoặc xanh ngà ngà cho đến những phiến miến trắng
bóc. Và nguyên liệu làm miến thì được lấy từ bột dong riềng ( chủ yếu nhập
từ Trung Quốc). Có thể, chuỗi sản phẩm miến dong của Hà Tây có sự khác
biệt là lượng bột thì nhập chủ yếu từ Trung Quốc và qua các tác nhân trung
gian thì được mở rộng hơn vào các siêu thị các nhà hàng ăn và xuất khẩu ra
nước ngoài. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất cũng đã đăng ký được thương
hiệu miến Dương Liễu, vì vậy miến dong Dương Liễu có chỗ đứng trên thị
trường. Công nghệ làm miến thủ công trước đây đã dần thay đổi bằng máy.
Ngoài làm miến bằng bột dong riềng, bột sắn, Dương Liễu còn làm các loại
2.3 Tổng quan các nghiên cứu liên quan
- Hoàng Văn Thịnh ( 2011), “Đánh giá hiệu quả chế biến miến dong tại
làng Lại Trạch, xã Yên Phú, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên” , trường đại học
Nông Nghiệp I, Hà Nội.
18
Đề tài đã đánh giá được thực trạng nghề chế biến miến dong tại làng
nghề Lai Trạch. Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn trong chế biến
miến dong. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình
chế biến miến dong
Đề tài sử dụng thêm phương pháp PRA để tập hợp tổ chức họp nhóm
người dân khích lệ, lôi cuốn họ thảo luận, phân tích, đánh giá đưa ra giải
pháp. Nhưng phương pháp này khó thực hiện.
- Đặng Xuân Lợi (2004), “ Đánh giá hiệu quả trong hoạt động chế biến
một số loại nông sản của hộ nông dân ở tỉnh Hưng Yên”, luận văn thạc sỹ
kinh tế, Trường đại học Nông Nghiệp I, Hà Nội.
Đề tài cũng đưa ra được thực trạng hoạt động chế biến các nông sản;
hiệu quả đạt được từ hoạt động chế biến nông sản; những khó khăn, thuận lợi
trong quá trình chế biến nông sản; đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả.
Đề tài có hạn chế là các giải pháp nâng cao hiệu quả còn chung chung
chưa cụ thể.
Qua một số nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế chế biến miến dong, chế
biến một số loại nông sản ta thấy được những điểm giống nhau. Các nghiên
cứu giúp ta thấy được quá trình chế biến được từng loại nông sản cũng như
miến dong. Những thuận lợi, khó khăn trong chế biến miến dong. Từ đó đi tới
đánh giá hiệu quả để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả nghề. Qua các đề
tài ta thấy được các điểm giống trong quá trình chế biến, những khó khăn gặp
phải để tập trung vào tìm giải pháp khắc phục nâng cao hiệu quả.
Giao Tiến thuộc đồng bằng sông Hồng, địa hình tương đối bằng phẳng,
hướng dốc dần từ phía Đông Bắc xuống Tây Nam, cốt đất chênh cao trung
bình không quá 0,5m. Đất đaicủa xã có nguồn gốc từ phù sa sông Hồng được
bồi đắp hàng năm, đặc điểm của loại đất này là trung tính không chua mặn,
thành phần cơ giới thịt nhẹ, tơi xốp, hàm lượng dinh dưỡng rất cao thuận lợi
cho phát triển rau màu có tác động tích cực đến nâng cao thu nhập cho nhiều
người dân.
c. Khí hậu, thủy văn
Xã Giao Tiến nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng đồng
bằng Bắc Bộ. Là khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa
rõ rệt và khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau.
+) Nhiệt độ không khí:
- Nhiệt độ trung bình năm: 23- 240C
- Nhiệt độ trung bình mùa hạ: 270C
- Nhiệt độ trung bình cao nhất: 240C
- Nhiệt độ trung bình thấp nhất: 130C
+) Lượng mưa phân bố không đông đều trong năm.
- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1700 mm.
21
- Lượng mưa năm lớn nhất: 1800 mm.
+) Nắng: hàng năm trung bình có tới 250 ngày nắng, tổng số giờ nắng 16501700 giờ. Vụ hè thu có số giờ nắng cao khoảng 1100 – 1200 giờ, chiếm 70%
số giờ nắng trong năm.
+) Gió, bão: hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, tốc độ gió trung bình cả
năm là 2 – 3 m/s.
Mùa đông hướng gió thịnh hành là gió Đông Bắc với tần suất 60 – 70%. Tốc
độ gió trung bình 2,4 – 2,6 m/s, những tháng cuối mùa đông, gió có xu hướng
chuyển dần về phía Đông.
nhiên là 858,02 ha. Xã đã quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn đất tự nhiên.
23
Bảng 3.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai xã Giao Tiến giai đoạn 2012- 2014
Năm 2012
Diện
CC
tích
(%)
(ha)
858,02 100,00
Năm 2013
Diện
CC
tích
(%)
(ha)
858,02 100,00
Năm 2014
Diện
CC
tích
(%)
(ha)
858,02 100,00
30,35
574,18
461,97
66,66
45,55
271,56
66,92
53,84
7,77
5,31
31,65
1. Đất ở
105,02
12,24
108,35
12,63
113,06
13,18
2. Đất chuyên dùng
0,41
3,68
0,43
5,57
0,65
120,05
13,99
128,38
14,96
132,92
15,49
4,65
7,42
0,54
0,86
4,65
7,45
106,9
2
136,1
1
103,3
7
106,9
4
100
100,4
100,00
100,00
98,38
98,39
100
96,02
104,29
98,27
98,14
100
97,18
104,57
104,34
103,76
0,85
1,76
7,29
14,01
0
0,85
7,29
0,88
100
100
100
1,63
12,28
1,43 92,78
87,65
90,18
Nguồn: Ban thống kê tại UBND xã Giao Tiến