Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất ổi của các hộ nông dân xã Liên Mạc, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương - Pdf 28

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN





NGUYỄN THỊ THUỲ NGÂN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT ỔI CỦA CÁC HỘ
NÔNG DÂN XÃ LIÊN MẠC, HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI
DƯƠNG.
HÀ NỘI - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN





KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT ỔI CỦA CÁC HỘ
NÔNG DÂN XÃ LIÊN MẠC, HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI
DƯƠNG.
Tên sinh viên : NGUYỄN THỊ THUỲ NGÂN
Lớp : KTC-K56
Chuyên ngành đào tạo : KINH TẾ
Niên khoá : 2011-2015
Giảng viên hướng dẫn : TS. HỒ NGỌC NINH

Hà Nội , ngày 31 tháng 05 năm 2015
Sinh viên thực hiện
4
4
MỤC LỤC
5
5
DANH MỤC BẢNG
6
6
DANH MỤC HÌNH
7
7
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ổi là cây ăn quả được trồng ở hầu hết các quốc gia có khí hậu nhiệt đới
và cận nhiệt đới. Ấn Độ là một trong các nước có diện tích trồng ổi lớn, với
131.625 ha và được trồng ở nhiều bang khác nhau. Các nước và vùng lãnh thổ
có diện tích trồng ổi lớn khác là Trung Quốc, Thái Lan và Đài Loan.
Ổi là là loại quả có hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt có nhiều loại
vitamin và khóang chất, có thể ăn tươi, làm đồ hộp, nước ổi, mứt ổi, quả
non, búp ổi, vỏ cây và rễ có thể sử dụng làm thuốc chữa bệnh. ở nước ta,
cây ổi được đánh giá là loại cây dễ trồng, thích hợp nhiều loại đất, có khả
năng chịu hạn, chịu úng tốt, cho năng suất cao nếu được chăm sóc tốt.
Ở các tỉnh phía Bắc, cây ổi từ lâu đã đem lại thu nhập không nhỏ cho
người sản xuất tại một số vùng như Hải Dương, Thái Bình và Hà Nội. Các
giống ổi địa phương đang được trồng ở một số tỉnh là ổi đào, ổi mỡ, ổi
Đông Dư, ổi Bo, ổi trắng, ổi Vẹt…
Thanh Hà nổi nên nhờ nghề trồng vải , nhưng trước thực trạng hiệu

1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến
hiệu quả kinh tế sản xuất ổi của các hộ dân, từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất ổi góp phần nâng cao thu nhập
cho các hộ nông dân trong xã Liên Mạc, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiển về hiệu quả kinh tế nói
chung và hiệu quả kinh tế sản xuất ổi nói riêng.
- Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất ổi của các
hộ nông dân trên địa bàn xã Liên Mạc.
9
9
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất ổi của
các hộ nông dân trên địa bàn xã Liên Mạc.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất ổi
của các hộ nông dân trên địa bàn xã Liên Mạc trong thời gian tới.
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu
quả kinh tế sản xuất ổi của các hộ nông dân xã Liên Mạc. Để đánh giá hiệu
quả kinh tế sản xuất ổi của các hộ nông dân xã Liên Mạc, nghiên cứu xác
định một số đối tượng khảo sát phục vụ đề tài cụ thể như các hộ nông dân
sản xuất ổi, khuyến nông, và chính quyền địa phương.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung đánh giá thực trạng, các yếu tố
ảnh hưởng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất ổi của các hộ
nông dân trên địa bàn xã Liên Mạc, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện trong phạm vi địa bàn
xã Liên Mạc, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Phạm vi thời gian

cả những nước phát triển.
Đồng tình với quan điểm trên của Tchayanov, hai tác giả Matsludal
và Tommy Bengtson bổ sung đồng thời nhấn mạnh thêm “Hộ nông dân là
đơn vị sản xuất cơ bản”. Vì vậy các cải cách kinh tế ở một số nước trong
những thập kỷ gần đây đã thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ
và cơ bản, từ đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông
nghiệp và phát triển nông thôn.
Frank Ellis nhà nông học người Nga (1998) đã đưa ra định nghĩa:
“Hộ nông dân là hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên
những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để
sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc
trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động
với trình độ hoàn chỉnh không cao.
12
12
Ở nước ta cũng có rất nhiều tác giả đề cập tới khía niệm hộ nông
dân. Tác giả Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã
hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”.
Hộ nông dân có những đặc điểm sau:
+Thứ nhất hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản
xuất vừa là đơn vị tiêu dùng.
+Thứ hai là các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham
gia hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau.
+Ba là quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát
triển của hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn. Trình độ
này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường.
Từ các khía niệm, đặc điểm trên cho thấy hộ nông dân sống ở nông
thôn, có hoạt động sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân còn tha gia hoạt
động phi nông nghiệp ở các mức độ khác nhau, hộ nông dân là một đơn vị
kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng

b) Hiệu quả kinh tế (HQKT)
Farell (1957) đã khẳng định rằng:
Hiệu quả kinh tế của một hãng bao gồm hai bộ phận cấu thành, đó là
hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.
Hiệu quả kỹ thuật được xác định như là khả năng của người nông
dân có thể đạt được một mức sản lượng nào đó so với mức sản lượng tối đa
với điều kiện các đầu vào và kỹ thuật hiện đại.
Hiệu quả phân bổ là việc sử dụng các yếu tố đầu vào theo những tỉ lệ
nhằm đạt được lợi nhuận tối đa khi biết cụ thể các giá trị đầu vào.
Hiệu quả kinh tế = Hiệu quả kỹ thuật * Hiệu quả phân bổ
Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố vật chất và giá trị được tính đến khi
xem xét việc sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu chỉ đạt được một
trong yếu tố hiệu quả kĩ thuật hay phân bổ mới là điều kiện cần chứ chưa
phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế. Chỉ khi nào việc sử dụng
nguồn lực đạt cả hai tiêu chí này mới đạt hiệu quả kinh tế. “ Hiệu quả kinh
14
14
tế thể hiện mục đích của người sản xuất là làm cho lợi nhuận tối đa(Đỗ
Kim Chung,1997)
c)Đánh giá hiệu quả kinh tế là quá trình bao gồm các bước sau:
-Phân tích mục tiêu kinh tế thành các chỉ tiêu kinh tế.
-Đặt ra các yêu cầu về mức độ đạt được các chỉ tiêu kinh tế dựa trên
những dấu hiệu có thể đo lường được hoặc quan sát được.
-Tiến hành đo lường các dấu hiệu đó để đánh giá mức độ đạt đượcvề
các yêu cầu đặt ra, biểu thị bằng số liệu.
-Phân tích so sánh các thông tin nhận được với các yêu cầu đề ra rồi
đánh giá, xem xét kết quả, để từ đó có thể phát huy thế mạnh, cải tiến, khắc
phục nhược điểm.
2.1.2 Quan điểm đánh giá hiệu quả kinh tế
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế, sau đây

Quan điểm này thể hiện tỷ lệ mức độ tăng trưởng của kết quả sản
xuất với mức độ tăng trưởng chi phí của nền sản xuất xã hội. Quan điểm
này phức tạp một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh và chưa thật đầy đủ bởi
trong thực tế, kết quả sản xuất luôn là hệ quả của chí phí sẵn có và chi phí
bổ sung.
d) Quan điểm thứ 4
Theo Samuelson – Nordthuas cho rằng hiệu quả kinh tế là không
lãng phí. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội. Hiệu
quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng thêm sản lượng hàng hoá
này mà không làm giảm một lượng hàng hoá khác, nền kinh tế đạt hiệu quả
khi nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó.
16
16
2.1.3 Bản chất và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất ổi
Trong điều kiện các nguồn lực có hạn không thể tạo ra kết quả
bằng mọi giá mà phải dựa trên cơ sở sử dụng nguồn lực ít nhất. Hiệu quả
kinh tế của sản xuất quế bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố ngay từ trong
quá trình sản xuất cho đến kết quả sản xuất, với những mức độ ảnh hưởng
khác nhau, cụ thể như:
Khoa học công nghệ sản xuất được áp dụng vào sản xuất ổi:
Yếu tố này nghĩa là đổi mới công nghệ có thể hướng tới việc tiết kiệm các
chi phí, nguồn lực. Phát triển công nghệ đòi hỏi phải đảm bảo sử dụng đầu
vào tiết kiệm (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1997). Vì vậy hiệu quả sử
dụng nguồn lực trong sản xuất ổi phụ thuộc vào những thay đổi cải tiến và
kỹ năng sử dụng công nghệ, từ đó sẽ thay đổi hiệu quả kinh tế của sản xuất.
Khả năng tiếp nhận kỹ thuật mới của người sản xuất: Sự tiếp
thu kỹ thuật của người nông dân và năng suất của cây có mối quan hệ chặt
chẽ đến kiến thức và kỹ thuật canh tác (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung,
1997). Vì vậy trình độ và kinh nghiệm có thể thấy sẽ ảnh hưởng đến hiệu
quả kinh tế của sản xuất.

giảm nghèo. Nhưng tuỳ điều kiện tự nhiên, năng suất, sở thích tiêu dùng
của khách hàng từng nơi mà có các giống ổi được ưa chộng trồng phổ biến
hơn. Như :
Ổi lê đài loan: Sau 1 năm rưỡi đầu tư, cây ổi Lê Đài Loan bắt đầu
cho thu hoạch. Bình quân mỗi năm, 1 công ổi lê Đài Loan thu được 3 tấn
trái, bán với giá 10 ngàn đồng đến 12 ngàn đồng/1kg, trừ chi phí thu lãi
trên 12 triệu đồng. Giống ổi Lê Đài Loan là giống ổi mới, dễ trồng, ít tốn
phân bón, công chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh, chủ yếu là định kỳ phun
thuốc phòng trừ các loại rệp sáp, sâu ăn lá non, nên chi phí đầu tư thấp, lợi
nhuận kinh tế đem lai rất cao, cây tự ra hoa đâu trái cho thu hoạch quanh
năm và có thể trồng bất cứ thời gian nào trong năm”. Khoảng từ 25-50
ngày sau khi bọc, trái có thể thu hoạch. Ngoài ra còn có nguồn thu từ bán
18
18
cây con,mỗi nhánh ổi bán với giá 10.000 đồng, sau khi trừ chi phí thu lãi
từ việc cung cấp cây giống khoảng 12 triệu đồng. Như vậy, tổng lợi nhuận
từ việc bán trái và cây giống mỗi năm là 33 triệu đồng/1 công đất canh
tác.Mô hình trồng ổi lê Đài Loan đã khẳng định được tiềm năng của giống
ổi mới trên vùng đất Vĩnh Long và Đồng Tháp. Đặc biệt, giống ổi Lê Đài
Loan rất thích hợp cho những hộ muốn có nguồn thu nhập nhanh, bởi ổi Lê
Đài Loan từ khi trồng đến thu hoạch chỉ mất từ 6-8 tháng và đây cũng là
mô hình phù hợp cho những hộ nghèo, ít đất sản xuất, có ý chí vươn lên
thoát nghèo làm giàu chính đáng.
Ổi thái : Ổi Thái trái to, có màu xanh vàng, sáng bóng. Không chỉ
đẹp ở mẫu mã, mà ổi Thái ăn rất ngon, giòn và có vị chua ngọt vừa phải.
Cây trồng này đã chứng tỏ được giá trị kinh tế. Ở thị trấn Ma Lâm, huyện
Hàm Thuận Bắc chỉ với 2 sào đất ruộng mà trồng được 450 cây ổi Thái.
Đây là giống ổi ngắn ngày, 60 ngày là khoảng thời gian từ khi trồng cho
đến khi ra lứa trái đầu tiên. Ổi Thái cho trái quanh năm và năng suất đạt
cao, nếu người trồng biết cách xử lý để ổi ra trái nghịch vụ. Trong hai năm,

0
C cả cây lớn cũng chết, nếu từ
18
0
C-20
0
C quả bé, phát triển chậm chất lượng kém. Được biết, giá bán lẻ
hiện nay giao động từ 20 - 25 nghìn/ kg. Còn bán buôn từ 7 - 10 nghìn/ kg.
Trừ chi phí sản xuất và vận chuyện, người dân có thể thu lãi cả triệu đồng
tiền ổi mỗi ngày.
2.2.2 Bài học kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất ổi cho các
hộ nông dân rút ra từ nghiên cứu thực tiễn các địa phương
Các giống ổi trên tuy được trồng tập trung và phổ biến nhưng vẫn
còn nhiều khó khăn .
Không phải giống ổi nào cũng có thể trồng trên mọi loại đất, ví dụ
như ổi bo xù, ổi Đông Dư,…tuy cây cho thu hoạch nhưng tỉ lệ đậu quả
nhiều vùng lại không cao, hoặc cây chết sớm, … nhưng cũng có nhiều
giống ổi phù hợp với nhiều loại đất nhưng lại không thể làm nổi lên đặc
trưng của vùng như ổi thái, ổi lê Đài Loan,… vì vậy dẫn đến sức hấp dẫn
20
20
trên thị trường cũng kém, cộng thêm việc sản xuất ồ át dẫn đến không có
sức cạnh tranh về giá. Vì vậy họ thường cải tiến giống ổi để biến thành
giống ổi phù hợp với địa phương mình, nâng cao được chất lượng của
giống ổi.
Thời gian từ khi trồng đến khi cho thu hoạch lâu, năng suất thấp như
giống ổi bo Thái Bình, tuy được nhiều nơi trồng hoặc lai giống nhưng lại
không đem lại hương vị giống như ở vùng đất Thái Bình nên giá thành rẻ
hơn. Chính vì vậy nhiều nơi đã chọn phương pháp ghép cành hoặc chiết
cành để rút ngắn thời gian từ khi bắt đầu trồng đến khi ra hoa.

của gió mùa đông bắc. Mùa mưa nóng ẩm kéo dài từ tháng 5-tháng 10,
lượng mưa tập trung vào các tháng 7,8,9 chiếm tới 80% lượng mưa cacr
năm.
Qua nghiên cứu đặc điểm khí hậu, có thể thấy rằng điều kiện khí hậu
của vùng có nhiều điểm thuận lợi cho yêu cầu sinh thái của cây ổi, Đặc
22
22
biệt là vào 2 vụ ổi chính trong năm, vụ thứ nhất từ tháng 3 đến tháng 6, vụ
thứ 2 từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Vụ mùa đông là vụ trái mùa nhưng
sản lượng cao hơn vụ xuân vì thời điểm này có nhiều ngày lễ lên việc tiêu
thu dễ hơn và giá cả cao gần gấp đôi so thời điểm vụ mùa( từ tháng 3-8 âm
lich).
Điều kiện khí hậu thời tiết xã Liên Mạc là vùng có lượng mưa lớn,
độ ẩm không khí cao 85%, lượng mưa trung bình hàng năm 1626mm/năm,
nhiệt độ trung bình từ 24
0
C- 31
0
C, nhiệt độ thấp nhất trong năm từ 9
0
C-
13
0
C . Thuận lợi cho cây ra hoa và đậu quả nhiều.
Gió thổi chủ yếu theo hướng Đông Nam - Tây Bắc từ tháng 11 đến
tháng 3 năm sau, mùa hạ chủ đạo vẫn là gió đông nam từ tháng 4 đến tháng
10 mang theo hơi nước và không khí ẩm với vận tốc trung bình là 1,2m/s.
Bão áp thấp nhiệt đới thường xuất hiện vào các tháng 7,8,9 gây mưa lớn
tuy nhiên ít ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp vì thời kì này người dân
thường để cây nghỉ.

và do cát sông chảy, có lượng hạt thô, đặc biệt dung tích hấp thu thấp, độ
keo liên kết kém hàm lượng mùn thấp.
-Đất phù sa nhiễm mặn, phèn,chua: bản chất là phù sa bồi đắp nhưng
nhiễm mặn theo thời gian đặc biệt là thành phần cơ giới nặng đến rất nặng.
- Đất phù sa: gồm đất ngoài đê được bồi tụ thường xuyên và trong đê
không được bồi tụ .
Tổng diện tích đất tự nhiên :747,77 ha, được phân bố khá đồng đều
ở các khu. Đến nay, hầu hết diện tích xã được sử dụng vào mục đích khác
nhau.
Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 :
+ Đất nông nghiệp 493,73 ha
-Đất sản xuất nông nghiệp:164,32 ha
-Đất trồng cây lâu năm: 307,74 ha
-Đất nuôi trồng thuỷ sản: 3,83 ha
+ Đất phi nông nghiệp: 254,04 ha
-Đất ở: 96,05 ha
-Đất chuyên dùng: 74,76 ha
-Đất tôn giáo tín ngưỡng: 1,52 ha
-Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 5,71 ha
-Đât sông có mặt nước chuyên dùng:76,30 ha
Trong đó đất trồng cây lâu năm đã chuyển đổi hầu như toàn bộ sang
đất trồng ổi và đất trồng cây hàng năm cũng đã và đang chuyển đổi sang
đất trồng ổi gần hết. Hiện tại diện tích sản xuất ổi trên địa bàn xã là 468 ha.
24
24
Thực trạng môi trường :Là một xã nông nghiệp đang trên đà đổi
mới trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các ngành kinh tế xã
hội đang được hình thành và phát triển mạnh nên mức độ ô nhiễm môi
trường nước, không khí, đất đai ở xã chưa thật sự nghiêm trọng.
b) Tình hình dân số và lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status