ảnh hưởng của biến động tăng giá đầu vào đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh thái nguyên - Pdf 24

1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

NGUYỄN THỊ PHƢƠNG HẢO ẢNH HƢỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG TĂNG GIÁ ĐẦU VÀO
ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CHÈ CỦA CÁC HỘ
NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN NÔNG NGHIỆP


NÔNG NGHIỆP

: Kinh tế nông nghiệp
: 62.62.01.15
:
1. TS. Đoàn Quang Thiệu
2. PGS.TS. Nguyễn Đình Long
THÁI NGUYÊN – 2014

3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chè là cây công nghiệp lâu năm, có đời sống kinh tế dài, trồng một lần có
thể cho thu hoạch 30 - 40 năm hoặc lâu hơn nữa. Cây chè rất thích hợp trồng ở
vùng đồi núi, trung du. Vì thế, một quốc gia với ¾ diện tích là đồi núi nhƣ Việt
Nam thì cây chè rất phù hợp để phát triển. Hiện nay, trong khoảng 40 quốc gia

Đối với sản xuất chè, các yếu tố đầu vào có vai trò rất quan trọng, nó ảnh
hƣởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông
dân. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, thị trƣờng đầu vào của sản xuất chè biến
động rất bất lợi cho các hộ nông dân. Giá các yếu tố đầu vào nhƣ phân bón, thuốc
bảo vệ thực vật, thuốc kích thích, công lao động, nhiên liệu… liên tục tăng cao
làm cho một bộ phận nông dân gặp không ít khó khăn, đặc biệt là nông dân
nghèo, đồng thời gây ảnh hƣởng xấu đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ
nông dân. Trong bối cảnh hiện nay, đứng trƣớc những khó khăn chung của ngành
chè Thái Nguyên và của các hộ nông dân trồng chè trên địa bàn Tỉnh, việc
nghiên cứu đánh giá ảnh hƣởng của sự biến động tăng giá đầu vào đến tình hình
sản xuất, kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân từ đó đƣa
ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè cho các
hộ nông dân Thái Nguyên là hết sức cần thiết và thiết thực.
Xuất phát từ lý do trên chúng tôi lựa chọn vấn đề: "Ảnh hưởng của biến
động tăng giá đầu vào đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên" làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ nhằm góp
phần thúc đẩy việc sản xuất và xuất khẩu chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
2. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn ảnh hƣởng của biến động tăng
giá đầu vào đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm khuyến cáo
chính phủ và hộ nông dân có những ứng xử phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh tế
trong sản xuất chè của các hộ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
* Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa những vấn đề mang tính tổng quan về hiệu quả kinh tế, giá
và biến động giá trong sản xuất chè, ảnh hƣởng của biến động giá đầu vào đến
hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân.
- Phân tích, đánh giá thực trạng ảnh hƣởng của biến động tăng giá đầu vào
đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân ở tỉnh Thái Nguyên.

Giới hạn thời gian để phân tích biến động giá: Luận án chọn mốc trƣớc
khi biến động giá là năm 2007, đây là năm giá các đầu vào sản xuất chè chƣa
tăng cao, giá các đầu vào sản xuất chè không có biến động gì đặc biệt. Nghiên
cứu chọn mốc sau biến động giá năm 2011, đây là năm sau khi giá các đầu vào
sản xuất chè đã tăng cao và đi vào ổn định, không có biến động gì bất thƣờng, lãi
suất vay ổn định, lạm phát không đáng kể, thời tiết biến động không đáng kể.
6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Đối với nghiên cứu tổng quan, các thông tin đƣợc thu thập thông qua các
tài liệu đã công bố trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay. Các số liệu đánh
giá thực trạng ở tỉnh Thái Nguyên đƣợc thu thập trong khoảng thời gian từ 2006
đến 2012. Số liệu sơ cấp đƣợc thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp hộ năm
2008 và năm 2012.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là
tài liệu giúp hộ nông dân, xã, huyện và tỉnh đánh giá ảnh hƣởng của biến động
tăng giá đầu vào đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè của các hộ nông dân,
đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của các loại yếu tố đầu vào tới năng suất và hiệu quả
kỹ thuật sản xuất chè của các hộ và đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của việc tăng chi
phí sản xuất chè tới hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên. Từ đó, đƣa ra đƣợc các giải pháp làm giảm thiểu tác động
không tốt của việc tăng giá đầu vào tới sản xuất chè của các hộ nông hộ dân,
khuyến cáo các hộ nông dân có những ứng xử phù hợp để sản xuất chè của các
hộ nông dân đạt hiệu quả kinh tế cao, có cơ sở khoa học.
Đề tài giúp cho các hộ nông dân sản xuất chè có giải pháp để phát triển
kinh tế cây chè, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng năng suất và hiệu quả kỹ thuật
trong sản xuất chè, giúp cho nhà quản lý địa phƣơng có giải pháp phát triển kinh
tế xã hội và là tài liệu có giá trị cho những nhà nghiên cứu, những ngƣời giảng

Luận án chỉ ra đƣợc việc tăng giá các yếu tố đầu vào gây cản trở tới việc
nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè cho các hộ nông dân, từ đó có các giải
pháp nhằm hạn chế tác động không tốt của các yếu tố này, khuyến cáo các hộ có
ứng xử phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ.
6. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án đƣợc kết cấu gồm 04 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về ảnh hƣởng của biến động tăng giá đầu vào đến
hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân.
Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu.
Chƣơng 3: Phân tích thực trạng ảnh hƣởng của tăng giá đầu vào đến hiệu quả
kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Chƣơng 4: Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè
của các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện tăng giá đầu vào.

8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Chƣơng 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG
TĂNG GIÁ ĐẦU VÀO TỚI HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CHÈ
CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN
1.1 Cơ sở lý luận về giá, biến động giá và hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè
của hộ nông dân
1.1.1 Đặc điểm kỹ thuật và kinh tế của cây chè
1.1.1.1 Đặc điểm sinh vật học
Theo Willson, K.C (1992), Cây chè có tên khoa học là Cmaellia sinesis, là
loài cây mà lá và chồi của chúng đƣợc sử dụng để sản xuất chè. Chè là loại cây
xanh lâu năm đƣợc mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thƣờng đƣợc xén tỉa
thấp hơn 2m khi đƣợc trồng để lấy lá. Lá chè có chiều dài từ 4 - 15cm, lá non có
màu xanh lục nhạt, lá già có màu lục sẫm. Các độ tuổi khác nhau của lá chè tạo

doanh và cạnh tranh trên thị trƣờng.
- Kỹ thuật chăm sóc gồm tƣới nƣớc cho chè, đốn chè, bón phân. Bón phân
là biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm tăng năng suất và chất lƣợng chè. Nhiều
công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc cho thấy hiệu
quả của bón phân cho chè chiếm từ 50 – 60%. Trong các loại phân bón cho chè
thì đạm có vai trò hàng đầu, sau đó đến lân và kali. Do vậy, khi giá phân bón
tăng cao có ảnh hƣởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất chè của
các hộ.
- Kỹ thuật thu hái và bảo quản: Nguyên liệu chè sau khi thu hái có thể đƣa
thẳng vào chế biến, có thể để một thời gian nhƣng không quá 10 giờ, do vậy khi
thu hái không để dập nát búp chè.
- Kỹ thuật chế biến. (Cao Ngọc Lân, 1992), [26]
1.1.1.3 Đặc điểm của thị trường tiêu thụ sản phẩm chè
- Tính ổn định và tính ít co dãn về mặt cung cầu: Trong thị trƣờng tiêu thụ
chè, quan hệ cung cầu thay đổi chậm, độ co dãn của cung cầu thấp hơn các sản
phẩm khác. Vì sản phẩm chè là đồ uống hàng ngày nhƣng không phải là mặt
hàng thiết yếu nhƣ các loại lƣơng thực, thực phẩm khác. Khi có sự biến động về
giá thì cung - cầu thay đổi chậm, không vì sản phẩm chè trên thị trƣờng nhiều và
rẻ mà ngƣời tiêu dùng cần nhiều sản phẩm hơn. Khối lƣợng sản phẩm chè đƣa ra
thị trƣờng tuy có thay đổi nhƣng không thể có biến đổi lớn trong một thời gian
nhất định. Không phải vì có nhu cầu tiêu dùng lớn, giá cao mà ngƣời sản xuất có
thể cung ngay một khối lƣợng lớn cho thị trƣờng do đặc điểm của sản xuất nông
nghiệp cần phải có thời gian sản xuất nhất định. Do vậy, muốn ổn định và mở
rộng thị trƣờng tiêu thụ chè cần nghiên cứu đƣợc nhu cầu thị trƣờng để đẩy mạnh
sản xuất, tăng cung đáp ứng cầu một cách chủ động.
10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- Thị trƣờng tiêu thụ chè gắn với tính thời vụ: Do đặc điểm này mà ngƣời

một đơn vị kinh tế giống nhƣ các công ty, xí nghiệp khác”.
11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Theo lý thuyết về hệ thống nông nghiệp (FAO, 1999), hộ nông dân là đơn
vị cơ bản cho các phân tích KTXH, là hệ thống sản xuất có cấu trúc phức hợp,
quan hệ chặt chẽ với các hệ thống khác ở mức độ cao hơn.

Hình 1.1 Hộ nông dân trong mối quan hệ với các hệ thống sản xuất
(Nguồn: FAO(1999), Guidelines for Agrarian Systems Diagnosis, Rome)
Theo Frank Ellis (1993) “Hộ nông dân là hộ có phƣơng tiện kiếm sống
dựa trên ruộng đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm
trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhƣng về cơ bản đƣợc đặc trƣng bởi sự tham gia
từng phần vào thị trƣờng với mức độ không hoàn hảo”. Theo ông các đặc trƣng
của đơn vị kinh tế để phân biệt gia đình nông dân với những ngƣời làm kinh tế
khác trong một nền kinh tế thị trƣờng là: Thứ nhất, đất đai: Ngƣời nông dân với
ruộng đất chính là một yếu tố hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó;
nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trƣớc những thiên
tai. Thứ hai, lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc tính
kinh tế nổi bật của ngƣời nông dân. Ngƣời “lao động gia đình” là cơ sở của các
nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tƣ bản. Thứ ba, tiền vốn và
sự tiêu dùng: Ngƣời ta cho rằng: “ngƣời nông dân làm công việc của gia đình
chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy” (Woly, 1966) nó khác với
12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tƣ bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tƣ vào
tích lũy cũng nhƣ khái niệm hoàn vốn đầu tƣ dƣới dạng lợi nhuận.

13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- Việc tối đa hóa lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất và không phải
mục tiêu chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân.
- Hộ nông dân có thể vƣợt qua áp lực của thị trƣờng bằng việc sử dụng lao
động của gia đình.
- Lao động quản lý và lao động trực tiếp trong hộ nông dân có sự gắn bó
chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống. Tính thống nhất giữa lao động quản
lý và lao động trực tiếp rất cao.
- Hộ nông dân có khả năng đa dạng hóa các hoạt động kinh tế của hộ, do
đó họ có thể giảm thiểu bớt rủi ro.
- Hộ nông dân là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhƣng hiệu quả, có khả
năng thích nghi và sự điều chỉnh rất cao. (Chu Văn Vũ, 1995) [58]
Hộ nông dân sản xuất chè ở Thái Nguyên ngoài mang những đặc điểm
chung của hộ nông dân nêu trên còn mang một số đặc điểm:
- Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún.
- Tiềm lực, nguồn lực (nhƣ vốn, lao động…) để sản xuất yếu nên các hộ
nông dân sản xuất chè không dự trữ đƣợc các vật tƣ, yếu tố đầu vào cho sản xuất
chè. Do đó, khi có biến động tăng giá đầu vào các hộ chịu sự tác động lớn.
- Trình độ dân trí thấp, vì thế cho dù có đủ nguồn lực để đầu tƣ cho sản
xuất chè thì hộ nông dân cũng không đủ kiến thức để tính đoán đƣợc mức dự trữ
tối ƣu.
- Hộ nông dân sản xuất chè ở vùng cao của Thái Nguyên có địa hình đồi
núi phức tạp, sản xuất của các hộ chịu ảnh hƣởng lớn của điều kiện tự nhiên, nhất
là vào mùa mƣa.
- Điều kiện sản xuất của hộ nông dân vùng cao còn nghèo nàn, giao thông
đi lại khó khăn, khả năng tiếp cận thị trƣờng kém, nguồn thông tin bị hạn chế dấn
đến kinh tế chậm phát triển.

khác biệt cơ bản giữa lao động hộ nông dân và các thành phần kinh tế khác. Sức
lao động trong hộ nông dân có đặc trƣng là họ không đƣợc coi là hàng hóa. Lao
động này chủ yếu đƣợc sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất và sự nghỉ ngơi
của gia đình họ. Ở những gia đình có tỷ lệ số lao động trên số nhân khẩu thấp thì
thời gian nghỉ giảm đi hay nói cách khác là họ phải làm việc vất vả hơn và ngƣợc
lại. Lao động trong hộ nông dân ở Việt Nam hiện nay có một số đặc điểm: đa
dạng nhƣng ít chuyên sâu, mang tính thời vụ; dƣ thừa nên việc tìm kiếm việc làm
trong nông thôn gặp nhiều khó khăn mà thu nhập lại thấp; trình độ học vấn và kỹ
năng của ngƣời lao động thấp, ít đƣợc đào tạo, chủ yếu là tự đào tạo và truyền
nghề, tôn sùng kinh nghiệm. Điều này hạn chế đến việc tiếp thu kỹ thuật và công
nghệ mới, nhất là ứng dụng các tiến bộ trong sản xuất của các hộ trồng chè trên
15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Thực tế hiện nay ở các vùng nông thôn cho thấy, hầu
hết các lao động trẻ khỏe, có học vấn đều dời các làng quê thuần nông lên các
thành phố tìm kiếm cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho hộ. Mặc dù vậy, một hệ
lụy đang diễn ra trong vùng là lao động còn lại cho sản xuất nông nghiệp nói
chung và sản xuất của các hộ trồng chè nói riêng chủ yếu lại là lao động nữ. Việc
sử dụng nhiều lao động nữ trong sản xuất nông nghiệp phần nào có ảnh hƣởng
tới khả năng áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Để sử dụng và nâng cao
nguồn nhân lực trong hộ nông dân cần đẩy mạnh đào tạo kỹ năng lao động thông
qua các hoạt động khuyến nông. Xét về lâu dài, việc đầu tƣ cho giáo dục và công
tác khuyến nông là những phƣơng tiện hữu hiệu nhằm nâng cao năng lực cho
nguồn lao động này, góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả
sản xuất và cải thiện thu nhập cho hộ nông dân.
Nguồn vốn cho sản xuất là nguồn lực không thể thiếu của hộ. Nguồn vốn
trong hộ nông dân bao gồm tiền và hiện vật mà hộ có hoặc đi vay để phục vụ sản
xuất. Ở nƣớc ta, do quy mô sản xuất của hộ nông dân nhỏ, lẻ, năng suất lao động

sản xuất và liên quan đến phƣơng diện sản xuất vật chất. Nó phản ánh mối quan
hệ giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra, giữa các yếu tố đầu ra với nhau và giữa
các sản phẩm khi nhà sản xuất quyết định sản xuất. Vì thế, nó đƣợc áp dụng phổ
biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào cụ thể.
Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị chi phí nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao
nhiêu đơn vị sản phẩm.
* Khái niệm về Hiệu quả phân bổ (Allocative Efficiency - AE)
Hiệu quả phân bổ liên quan đến việc lựa chọn đầu vào (vốn, lao động,
công nghệ ) tạo ra đầu ra ở mức chi phí thấp nhất. Hiệu quả phân bổ là thƣớc
đo phản ánh mức độ thành công của ngƣời sản xuất trong việc lựa chọn tổ hợp
các đầu vào tối ƣu, nghĩa là tỷ số giữa sản phẩm biên của yếu tố đầu vào nào đó
sẽ bằng tỷ số giá cả giữa chúng.
Hiệu quả phân bổ là hiệu quả do giá các yếu tố đầu vào và đầu ra đƣợc
tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu
vào hay nguồn lực. Thực chất, hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến
yếu tố giá của đầu vào và giá của đầu ra. Việc xác định hiệu quả phân bổ giống
nhƣ xác định các điều kiện về lý thuyết để tối đa hóa lợi nhuận.
* Khái niệm về Hiệu quả kinh tế (Economic Efficiency - EE)
Xuất phát từ các góc độ xem xét, các nhà kinh tế đã đƣa ra nhiều quan
điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Theo Kar Marx, hiệu quả là việc “tiết kiệm
và phân phối một các hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hóa giữa
các ngành” và hiệu quả cũng là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động”.
Kar Marx cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá
17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

nhân của người lao động là sơ sở tiết kiệm của hết thảy mọi xã hội” (K.Marx,
1962) [24].
Theo David Begg (1992) [8], “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không

18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Hiện nay, theo quan điểm mới, hiệu quả kinh tế (EE) gồm hai bộ phận là
hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả phân bổ (AE). Theo Colman và Young (1990)
[65], hiệu quả kinh tế đƣợc tính bằng tích của hiệu quả kỹ thuật và hiệu quản
phân bổ. Hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ kết hợp tạo ra hiệu quả kinh tế
toàn bộ hay hiệu quả tiết kiệm chi phí (Overall Economic Efficiency/Cost
Efficiency).
Nhƣ vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả kinh tế, tuy nhiên trong đề tài
này chúng tôi đã tham khảo một số tài liệu và tổng hợp thành khái niệm: Hiệu quả
kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất
lượng của quá trình sản xuất chè được xác định bằng cách so sánh kết quả đầu ra
của sản xuất chè với các chi phí đầu vào sản xuất chè.
* Nội dung và bản chất hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân
Nội dung của hiệu quả: Hiệu quả kinh tế là quan hệ so sánh giữa kết quả
thu đƣợc với toàn bộ chi phí các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (đất đai,
vốn, lao động, kỹ thuật, quản lý ). Kết quả và hiệu quả kinh tế là hai phạm trù
kinh tế khác nhau nhƣng có quan hệ mật thiết với nhau. Kết quả thể hiện quy mô,
khối lƣợng của một sản phẩm cụ thể và đƣợc thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu, tùy
thuộc vào từng trƣờng hợp. Hiệu quả là đại lƣợng để đánh giá kết quả đó đƣợc tạo
ra nhƣ thế nào, mức chi phí cho một đơn vị kết quả đó có chấp nhận đƣợc không.
Hiệu quả luôn gắn liền với kết quả của từng hoạt động cụ thể. Trong sản
xuất một sản phẩm cụ thể luôn có mối quan hệ sử dụng yếu tố đầu vào và kết quả
đầu ra. Từ đó, chúng ta xác định đƣợc hao phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm là
bao nhiêu? Mức chi phí nhƣ vậy có hiệu quả không? Tuy nhiên, hiệu quả và kết
quả phụ thuộc vào từng ngành, từng hoạt động ở điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã
hội, môi trƣờng (Phạm Ngọc Kiểm, 2009) [23]
Hiệu quả kinh tế khi tính toán gắn liền với việc lƣợng hóa các yếu tố đầu

của năm. Hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất chè của nông hộ là mức giảm lƣợng đầu
tƣ cho một đơn vị sản phẩm sản xuất ra. Sản xuất chè đạt hiệu quả phân bổ khi
giảm đƣợc chi phí trên một đơn vị sản phẩm hoặc tăng giá bán trên một đơn vị sản
phẩm đầu ra.
1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân
- Nhóm yếu tố về kỹ thuật trong sản xuất chè
Giống: Giống có ảnh hƣởng tới năng suất cũng nhƣ chất lƣợng của chè
thành phẩm. Vì vậy, đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè cần quan tâm
đến nguồn gốc giống và chất lƣợng loại giống mà hộ nông dân sử dụng. Hiện
nay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, giống chè mà các hộ nông dân sử dụng vẫn
là giống chè Trung du (năm 2010 chiếm 65,43% diện tích trồng chè của cả tỉnh).
Các giống chè mới nhập nội và các giống chè trong nƣớc chọn lai tạo có năng
suất là chất lƣợng cao vẫn còn chiếm tỷ lệ hạn chế (năm 2010 chiếm 34,57 %).
20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Phân bón: Phân bón liên quan đến yếu tố đầu vào, việc biến động tăng giá
đầu vào phân bón trong giai đoạn hiện nay ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả kinh
tế của sản xuất chè. Do đó, khi đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè của
hộ cần chú ý tới lƣợng phân bón mà các hộ sử dụng.
Biện pháp canh tác: Sản xuất chè không chỉ có đầu tƣ phân bón mà cần
phải áp dụng các biện pháp quản lý canh tác tổng hợp, bao gồm quản lý dinh
dƣỡng (phân bón: sử dụng phân bón cân đối, áp dụng biện pháp canh tác hữu cơ,
hạn chế sử dụng phân bón vô cơ, hóa chất trừ sâu), nƣớc (tƣới tiết kiệm), áp dụng
quản lý phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM), áp dụng quy trình thực hành sản xuất
nông nghiệp tốt GAP Khi nghiên cứu, đánh giá cần tìm hiểu biện pháp canh tác
mà các hộ áp dụng so với biện pháp canh tác đã đƣợc khuyến cáo, từ đó xây
dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả kỹ thuật, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh
tế của các hộ nông dân trồng chè.

đạm, tƣới tiêu cũng khác nhau, điều đó ảnh hƣởng tới hiệu quả kỹ thuật trong
sản xuất chè của nông hộ.
Dân tộc, giới tính: Trên thực tế, mỗi dân tộc, giới tính có khả năng ứng
dụng các kỹ thuật tiến bộ khác nhau dẫn đến kết quả sản xuất cũng khác nhau.
Thương nhân, tổ hợp tác đây là yếu tố ảnh hƣởng tới việc tiêu thụ và giá tiêu
thụ của sản phẩm chè, nó ảnh hƣởng tới hiệu quả phân bổ trong sản xuất chè của
nông hộ.
- Nhóm các yếu tố về giá
+ Giá các yếu tố đầu vào:
Giá của giống. Để để có diện tích chè cho thu hoạch thì thời gian kiến
thiết cơ bản mất nhiều năm (3 đến 5 năm). Thực tế hiện nay giống chè đƣợc
trồng chủ yếu trên địa bàn nghiên cứu là giống chè Trung du cho năng suất, chất
lƣợng chè không cao, muốn chuyển đổi sang các giống chè mới cho năng suất,
chất lƣợng cao thì mất nhiều thời gian. Trong khoảng thời gian chuyển đổi đó các
hộ nông dân không có nguồn thu. Đây là hạn chế lớn cho việc mở rộng diện tích
giống chè mới của địa phƣơng, nó làm giảm tốc độ thay thế giống chè cũ. Mỗi
loại giống cũng có yêu cầu về kỹ thuật và đầu tƣ chi phí riêng, vì vậy đòi hỏi khi
đánh giá hiệu quả kinh tế nên xem xét nguồn gốc của từng loại chè.
Giá vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Nhu cầu bón phân cho chè
cao, đặc biệt là phân đạm, NPK. Giá phân bón tăng cao trong những năm gần
đây, nhất là giá đạm và kali đã ảnh hƣởng không nhỏ đến khả năng và mức độ
đầu tƣ của các hộ trồng chè. Vì thế, trong đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất
chè đặc biệt chú ý đến hiệu quả của việc đầu tƣ phân bón cho sản xuất chè của
nông hộ. Ngoài ra, cũng cần quan tâm đến hiệu quả sử dụng thuốc BVTV trong
sản xuất chè của nông hộ vì nó liên quan đến hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân
bổ trong trồng chè.
22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


trong việc ổn định sản xuất cho nông hộ, nâng cao thu nhập, tạo việc làm ổn định
cho lao động nông thôn.
23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất các hộ nông dân cần quân tâm
và điều chỉnh theo các hƣớng: một là, mở rộng quy mô sản xuất nhằm tăng kết
quả thu đƣợc, tuy nhiên tốc độ tăng của kết quả đầu ra phải lớn hơn tốc độ tăng
của các chi phí đầu vào. Hai là, tăng kết quả thu đƣợc với chi phí đầu vào không
đổi. Ba là, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các chi phí đầu vào cho sản xuất nhằm
giảm chi phí bỏ ra trong khi kết quả thu đƣợc không đổi.
1.1.4 Giá và biến động giá trong sản xuất chè
1.1.4.1 Khái niệm về giá và các loại giá trong sản xuất chè
Giá trong sản xuất chè bao gồm: Giá sản phẩm đầu vào và Giá các sản
phẩm đầu ra. Trong tiếng Việt “giá” đƣợc một số từ điển kinh tế sử dụng bao
gồm cả 2 nghĩa: Chi phí (the cost) và Giá cả (the price). Theo nghĩa chi phí, giá
là các khoản chi thƣờng xuyên phải trả bằng hiện vật hoặc tiền mặt trong suốt
quá trình sản xuất chè (vật tƣ, giống, phân bón, vận chuyển ). Còn giá cả là biểu
hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm đƣợc hiểu là giá trị đo bằng tiền các vật tƣ,
dịch vụ của các nhân tố đầu vào của sản xuất chè.
Nhƣ vậy, khái niệm chi phí gắn chặt với quá trình hoạt động sản xuất, giá
cả dùng để đo giá trị của một sản phẩm, một dịch vụ hàng hoá cụ thể. Trong
nghiên cứu này, khái niệm chi phí gắn với quá trình sản xuất chè, còn giá cả đo
giá trị của sản phẩm chè.
Theo các học thuyết kinh tế, giá cả luôn biến động quanh giá trị trung
bình, bao gồm giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá. Vì thế một sản phẩm, hay
dịch vụ sẽ đƣợc gắn với giá nhất định khi sản phẩm và dịch vụ đó trở hành hàng
hoá. Trong quá trình lƣu thông hàng hóa, giá sẽ thay đổi ở từng công đoạn lƣu
thông, từng thị trƣờng khác nhau. Giá luôn biến động và nguyên nhân của sự

(1) Giá đầu vào sản xuất chè: Gồm giá của giống chè, giá vật tƣ, giá dịch
vụ và giá thuê lao động (lao động phải thuê).
(a) Giá vật tƣ bao gồm phân bón (chủ yếu là phân vô cơ nhƣ đạm, lân,
kali), thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc kích thích và các loại phân khác…
(b) Giá dịch vụ bao gồm dịch vụ làm đất, tƣới tiêu, dịch vụ BVTV …
(c) Giá công lao động chỉ tính giá công gia đình phải thuê thêm.
Đối với giá cả vật tƣ phân bón đầu vào, nhiều nhà nghiên cứu có chung ý
kiến rằng: nếu giá vật tƣ phân bón đầu vào biến động tăng sẽ làm tăng chi phí sản
xuất và có thể dẫn đến việc nông dân hoặc sẽ hạn chế đầu tƣ thâm canh, hoặc sẽ
chuyển đổi hệ thống sản xuất lựa chọn những cây trồng khác, ít phải đầu tƣ hơn
nhằm giảm sức ép về vốn. Hệ quả là năng suất chè có thể giảm xuống và thu
nhập của ngƣời nông dân cũng bị giảm theo (F. Ellis, 1995) [16]. Cơ cấu sản
lƣợng cung cấp ra thị trƣờng vì thế có thể bị thay đổi.
25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Tuy nhiên, do đặc thù của sản xuất nông nghiệp là mang tính mùa vụ nên
sự tác động của giá có những điểm đặc thù. Ngƣời ta nói nhiều đến “tính trễ” của
sự thay đổi về sản lƣợng nông nghiệp khi có sự thay đổi về giá. Mỗi khi có sự
biến động giá (ví dụ giá tăng), do tính mùa vụ trong nông nghiệp nên phải đợi
đến vụ tiếp sau nông dân mới tăng diện tích gieo trồng lên đƣợc. Và nhƣ vậy phải
đợi thêm một chu kỳ sản xuất nữa sản lƣợng nông nghiệp mới tăng, khi đó giá lại
bắt đầu giảm xuống. Tƣơng tự nhƣ vậy phải mất một chu kỳ sản xuất tiếp theo khi
nông dân không đầu tƣ sản xuất nữa thì sản lƣợng mới giảm xuống và giá lúc đó lại
tăng lên.
(2) Giá đầu ra của sản xuất chè là giá bán sản phẩm chè (giá chè búp tƣơi
và giá chè búp khô).
Giá cả đầu ra ảnh hƣởng lớn đến kết quả sản xuất, thu nhập và hiệu quả
của ngƣời sản xuất chè. Một số tác giả cho rằng giá sản phẩm chè cao không chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status