BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA BẰNG
GIỐNG LÚA HT1 TẠI HUYỆN PHÚ THIỆN – GIA LAI
TRƯƠNG THỊ THỦY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
LUẬN VĂN CỬ NHÂN
NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ KHUYẾN NÔNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2010
Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận luận văn “Đánh giá hiệu quả kinh
tế sản xuất lúa bằng giống lúa HT1 tại huyện Phú Thiện – Gia Lai” do Trương Thị
Thủy, sinh viên khóa 32, ngành Phát Triển Nông Thôn Và Khuyến Nông, đã bảo vệ
thành công trước hội đồng vào ngày ________________.
Trần Đắc Dân
Người hướng dẫn,
______________________________
Ký tên, ngày tháng năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo
_______________________________ _______________________________
Ký tên, ngày tháng năm Ký tên, ngày tháng năm
LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên cho con xin gởi tất cả lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cha mẹ, là người
đã sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục, động viên... để con có được như ngày hôm nay.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thành phố
Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm khoa và tất cả các thầy cô khoa Kinh Tế đã truyền đạt cho
tôi những kiến thức quý báu, những bài học bổ ích trong thời gian tôi học tập tại trường.
Xin chân thành cảm ơn thầy Trần Đắc Dân, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn
tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp.
HT1 đã mang lại thu nhập và lợi nhuận cao hơn các giống lúa khác của nông hộ, làm
giảm sức ép của nạn thiếu việc làm, do quá trình phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa
trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số khó khăn về kỹ thuật canh tác, thị trường, thiếu
vốn trong quá trình sản xuất, … Đó là những vấn đề cần được các cấp chính quyền xã,
huyện quan tâm hỗ trợ để việc canh tác lúa phát triển theo hướng bền vững, phù hợp với
tình hình thực tế
MỤC LỤC
Trang
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
XĐGN Xóa đói giảm nghèo
BQ Bình quân
BVTV Bảo vệ thực vật
CNH-HĐH Công Nghiệp Hoá-Hiện Đại Hoá
ĐVT Đơn vị tính
DT Doanh thu
CP Chi phí
CPBQ Chi phí bình quân
CPVC Chi phí vật chất
TCP Tổng chi phí
LĐ Lao động
CPLĐ Chi phí lao động
TN Thu nhập
LN Lợi nhuận
KQ, HQ Kết quả, hiệu quả
DTTS Dân tộc thiểu số
KHKT Khoa học kỹ thuật
ND Nông dân
vào chính sách chỉ đạo của Đảng, nhà nước mà còn nhờ vào khả năng ứng dụng, tìm
kiếm kỹ thuật, mô hình sản xuất mới của người nông dân trên khắp cả nước. Người dân
Việt Nam đã không ngừng tiếp thu và ứng dụng các loại giống cây trồng, vật nuôi mới.
Họ đã thử nghiệm và chấp nhận các loại giống mới có hiệu quả kinh tế cao, đối với
ngành lúa gạo Việt Nam việc đưa nguồn giống mới vào sản xuất đã giúp cho người
nông dân tự tin hơn với sản phẩm của mình trên con đường xuất khẩu lúa gạo trên thế
giới.
Gia Lai là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên được biết đến với các sản phẩm cây
công nghiệp như cà phê, cao su, hồ tiêu... Nhưng bên cạnh đó cây lúa cũng góp phần
không nhỏ vào sự phát triển của tỉnh nhà. Với diện tích gieo trồng là 36.280 ha (theo
Tổng cục thống kê năm 2008), cây lúa được xem là cây ngắn ngày chủ lực của tỉnh. Đối
với người dân nơi đây, việc chọn giống lúa vừa thích nghi với điều kiện tự nhiên, vừa
đạt hiệu quả kinh tế cao đã gây trở ngại cho người nông dân trong khâu chọn giống để
đưa vào sản xuất đại trà.
Huyện Phú Thiện thuộc phía Đông Nam Gia Lai là huyện mới được thành lập
năm 2007, có diện tích tự nhiên 50.191 ha, trong đó diện tích sản xuất nông nghiệp là
21.303,70 ha, với diện tích sản xuất lúa khá lớn (7.680,74 ha), được cung cấp nguồn
nước dồi dào từ hồ chứa Ayun Hạ, là điều kiện rất thuận lợi để canh tác lúa nước. Và
chính nơi đây được coi là vựa lúa của Tây Nguyên bởi sản lượng mà nó cung ứng mỗi
năm, nguồn lúa gạo ở đây không những đáp ứng cho huyện nhà mà còn cho các tỉnh lân
cận như Kon Tum, Đăklăk, Bình Định,... Với điều kiện thuận lợi như vậy, nhưng người
dân địa phương vẫn còn trăn trở trong việc lựa chọn giống lúa thích hợp để đưa vào sản
xuất. Đó là làm sao chọn được loại giống phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng,
kháng sâu bệnh tốt lại cho hiệu quả kinh tế cao.
Trong các nhóm giống mà người nông dân canh tác, HT1 là giống lúa hiện đang
được sản xuất khá phổ biến ở vùng này bởi năng suất và hiệu quả kinh tế của nó hơn
hẳn với các giống lúa khác. Với mong muốn sau đề tài này người dân sẽ biết tới giống
lúa HT1 và chọn nó canh tác để mang lại hiệu quả cao nhất. Đó cũng chính là lý do tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất bằng giống lúa
HT1 tại huyện Phú Thiện - Gia Lai”.
nghiên cứu.
Chương 2. Tổng quan
Giới thiệu một số tình hình cơ bản của huyện Phú Thiện như: điều kiện tự nhiên,
kinh tế xã hội, giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng…đồng thời sơ lược hiện trạng chung về sản
xuất nông nghiệp ở địa phương.
Chương 3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Giới thiệu về các khái niệm sử dụng phục vụ cho đề tài nghiên cứu như: khái
niệm kinh tế hộ, vai trò kinh tế hộ, đặc điểm một số giống lúa tại địa phương,các chỉ
tiêu đánh giá kết quả kinh tế…cũng như phương pháp thu thập và xử lí số liệu.
Chương 4. Kết quả và thảo luận
Tìm hiểu cụ thể về thực trạng sản xuất giống lúa HT1 của nông hộ, lịch thời vụ
của bà con nơi đây, so sánh KQ, HQ giữa giống lúa HT1 và các giống lúa khác ở hiện
tại và trước đây (năm 2007). Bên cạnh đó, nêu lên những ưu nhược điểm của giống lúa
HT1 và giống lúa thường để thấy được hiệu quả khi canh tác giống HT1. Đồng thời
cũng nêu lên các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa, những nguyện vọng, dự định của
người dân trồng lúa tại địa phương và đề xuất một số biện pháp để nâng cao năng suất
đối với người trồng lúa.
3
Chương 5. Kết luận và kiến nghị
Tóm lược kết quả nghiên cứu và đề xuất một số kiến nghị đối với quá trình canh tác lúa
HT1 nói riêng và ngành trồng lúa nói chung.
4
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về tình hình lúa gạo Việt Nam
Theo kết quả điều tra ngân hàng thế giới, tổng sản lượng tiêu thụ lúa gạo không
ngừng gia tăng, trong đó Châu Á chiếm tới 88%, nhưng tổng sản lượng trên thế giới
tăng rất chậm do thiên tai gây nên. Cùng với sự bùng phát dân số ở các nước kém phát
triển và đang phát triển (Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh) cộng với tình trạng thiếu
lương thực đang và sẽ xảy ra. Để đảm bảo an ninh lương thực cho con người, đòi hỏi
Phía Nam giáp thị xã Ayun Pa
Phía Bắc giáp huyện Chư Sê
Huyện Phú Thiện có quốc lộ 25 là trục giao thông chính của huyện kéo dài từ
đầu đến cuối huyện .
2.2.2 Địa hình
Huyện Phú Thiện có độ cao trung bình từ 200 – 250m so với mặt nước biển và
nằm trên địa hình trung du của cao nguyên Gia Lai. Cấu trúc địa hình phức tạp, bị chia
cắt bởi nhiều khe suối, địa hình có hai dạng chính:
Địa hình bằng phẳng có độ dốc từ 0
0
– 20
0
, phân bố ở phía Đông Nam, đất đai màu mỡ
kết hợp với hệ thống kênh mương thủy lợi Ayun Hạ rất thuận lợi cho việc sản xuất nông
nghiệp (sản xuất lúa và hoa màu …) và nuôi trồng thủy sản.
Địa hình đồi núi phân bố ở phía Tây và Tây Bắc, có độ dốc từ 20
0
– 25
0
, đất đai
chủ yếu cho việc phát triển rừng, trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng.
2.2.3 Thời tiết, khí hậu
Điều kiện khí hậu huyện Phú Thiện ngoài những đặc điểm chung của khu vực
Tây Nguyên còn mang đặc điểm riêng của tiểu vùng. Do ảnh hưởng của điều kiện địa
hình có dãy núi cao bao bọc xung quanh và ở giữa là thung lũng bằng phẳng thấp đã tạo
nên tiểu vùng khí hậu có đặc điểm khô nóng, biên độ nhiệt ngày đêm lớn.
6
Huyện Phú Thiện là một trong những vùng nóng nhất của tỉnh Gia Lai, mang tính
nhiệt đới gió ẩm và khí hậu Cao Nguyên. Một năm có hai mùa khô và mùa mưa rõ rệt,
mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 11, lượng mưa phân bổ không đều trong năm,
nhờ có sông Ayun chảy qua đã tạo nên thung lũng rộng lớn thuận lợi cho phát triển sản
xuất nông nghiệp đặc biệt là sản xuất lúa nước, hoa màu và cây lâu năm.
Đất của huyện Phú Thiện chủ yếu là đất Ferarit màu nâu xám phát triển trên đá
mẹ Macma acid. Với đặc điểm địa tầng, độ dày tầng đất khoảng 20cm, thành phần cơ
giới từ cát pha đến thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình thuận lợi cho việc sản xuất nông
nghiệp.
Về đất đai thổ nhưỡng có những loại đất sau:
Đất phù sa bồi tụ
Đất vàng trên phù sa cổ
Đất cát pha thịt nhẹ
Đất xám trên đá Macma acid
Đất vàng đỏ trên đá Granit, nolit
Các loại đất khác
Nhìn chung với điều kiện khí hậu, đất đai thổ nhưỡng của khu vực huyện Phú
Thiện rất thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng ngắn ngày đặc biệt là cây lúa
nước, cây công nghiệp, … mang lại hiệu quả kinh tế cao.
2.2.6 Các nguồn tài nguyên khác
Ngoài các nguồn tài nguyên trên trong huyện còn có nguồn tài nguyên sinh vất
rất phong phú với diện tích rừng 23.901ha. Trong đó có rất nhiều loại quý như: sao,
hương, cate, trắc, cẩm lai,… các sản phẩm ngoài gỗ như: dược liệu, măng, nấm, mật
ong, củi tre… Thu nhập từ khai thác các nguồn tài nguyên trên cũng góp phần thu nhập
cho một số bà con DTTS khi chưa thu hoạch lúa. Tuy nhiên, việc khai thác quá mức
cũng làm tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt đòi hỏi cần có biện pháp bảo vệ và phát
triển khả năng tái sinh rừng.
2.3 Tình hình kinh tế xã hội
2.3.1 Dân số và lao động
Dân số và lao động là các yếu tố quan trọng và có nhiều ảnh hưởng tới việc phát
triển cũng như kinh tế xã hội của huyện nhà.
8
Huyện Phú Thiện hiện tại có tổng số 103 thôn, làng, tổ dân phố với tổng số hộ
Thuận lợi nhất của huyện Phú Thiện là có nguồn nước do công trình thủy lợi
Ayun Hạ cung cấp, nên việc sản xuất lúa nước rất thuận lợi, cho năng suất cao. Ngoài ra
còn một số loại cây trồng khác cũng mang hiệu quả kinh tế cao như: mía, mì, bắp,…
Diện tích sản xuất các loại cây trồng:
Lúa Đông Xuân: 5.900 ha; năng suất bình quân đạt 6,77 tấn/ha
Lúa Mùa: 6.150 ha; năng suất bình quân đạt 5,14 tấn/ha;
Cây ngô cả năm: 2.260,0 ha; năng suất bình quân đạt 3,7 tấn/ha;
Cây mì (sắn): 850 ha; năng suất bình quân đạt 10 tấn/ha;
Cây mía: 2.901,0 ha; năng suất bình quân đạt 44,7 tấn/ha
Bên cạnh đó, còn một số cây trồng khác như: đậu, mè, lạc và rau củ các loại cũng
đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân.
Về chăn nuôi : Trên địa bàn huyện tổng đàn gia súc có 48.567 con, trong đó đàn
trâu có 752 con, đàn bò có 24.056 con, đàn heo có 22.073 con, đàn dê có 1.686 con;
tổng gia cầm hiện có 273.400 con và tổng diện tích nuôi thủy sản 300 ha. Với số lượng
trên cũng đã góp phần tăng thêm thu nhập của huyện nhà.
2.3.3 Sản xuất lâm nghiệp
Trên địa bàn huyện, ngoài diện tích rừng các xã quản lý theo quyết định 245 còn
có Ban quản lý rừng phòng hộ Ayun Pa và Ban quản lý rừng phòng hộ Chư A Thai.
Công tác giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa gắn kết với
các cơ chế hưởng lợi, chính sách hỗ trợ đi kèm. Vì vậy, hiệu quả của việc sử dụng rừng
và đất rừng còn thấp, tài nguyên rừng vẫn bị suy giảm liên tục theo thời gian. Nhận thức
của người dân về chế biến khai thác lâm sản vẫn còn hạn chế, nhiều diện tích rừng khai
thác và sử dụng chưa hợp lý.
2.3.4 Sản xuất các ngành nghề khác
Trên lĩnh vưc sản xuất công nghiệp của huyện chủ yếu là các cơ sở sản xuất và
gia công cơ khí, vật liệu xây dựng, sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến lượng thực thực
phẩm ở quy mô nhỏ. Đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và tiêu dùng tại địa phương. Hoạt
động dịch vụ của trung tâm thương mại huyện đã tăng lên nhiều so với những năm
trước đó.
10
đai.
a) Cơ cấu sử dụng đất
Hiện nay tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Phú Thiện là 50.191 ha trong đó:
Diện tích đất nông nghiệp là 21.303,7 ha chiếm tỷ trọng 42,45 % diện tích đất tự
nhiên. Diện tích trồng lúa là 7.680,74 ha chiếm tỷ trọng khá lớn so với diện tích các cây
trồng khác.
Diện tích đất lâm nghiệp là 23.901,00 ha chiếm tỷ lệ 47,62 % diện tích đất tự
nhiên.
Diện tích đất nhà ở là 1.705,4 ha chiếm tỷ lệ 3,40 % diện tích đất tự nhiên.
Diện tích đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá là 432,00 ha chiếm tỷ lệ 0,86 %
diện tích đất tự nhiên.
Diện tích đất khác là 2.848,90 ha chiếm tỷ lệ 5,68 % diện tích đất tự nhiên.
b) Tình hình biến động đất
Trong những năm gần đây, sự biến động trong việc sử dụng đất diễn ra rất
thường xuyên do quá trình đô thị hóa nên địa bàn huyện cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng.
Về sơ bộ diện tích đất sử dụng cho ngành công nghiệp tuy có gia tăng nhưng tốc độ
chưa cao. Diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp theo kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi của huyện khuyến khích bà con gia tăng sản xuất theo quy mô nên diện
tích đất sử dụng trong nông nghiệp ngày càng tăng. Diện tích đất lâm nghiệp đang giảm
rõ rệt do người dân phá rừng để canh tác nương rẫy, nếu tốc độ khai thác rừng của
người dân vẫn tiếp tục tăng cao sẽ dẫn đến suy kiệt nguồn tài nguyên rừng, kèm theo đó
là các vấn đề lo ngại khác. Dân số huyện tăng lên kèm theo đó là diện tích đất sử dụng
để xây dựng nhà ở cho người dân cũng tăng lên. Bảng số liệu sau sẽ cho thấy tình hình
biến động về mục đích sử dụng đất tại huyện từ năm 2008 – 2009.
12
Bảng 2.3: Tình Hình Biến Động Đất tại Huyện Phú Thiện từ năm 2008 đến 2009
Diễn giải Năm 2008 Năm 2009
So sánh
± ∆ %
Đất sản xuất NN 20.484,00 21.303,70 819,70 4,00