HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY LẠC TẠI XÃ DIỄN KỶ - HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN - Pdf 20

HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY LẠC TẠI XÃ DIỄN KỶ - HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
PHỤ LỤC
NỘI DUNG
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II: Nội dung nghiên cứu
Chương I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1. Đặc điểm sinh thái và giá trị kinh tế của cây lạc
1.1 Đặc điểm sinh thái của cây lạc
1.1.1 Khí hậu
1.1.2 Đất trồng lạc
1.2 Giá trị kinh tế của cây lạc
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng
1.2.2 Giá trị xuất khẩu
1.2.3 Giá trị công nghiệp
1.2.4 Giá trị nông nghiệp
2. Tình hình sản xuất lạc
2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
2.3 Tình hình sản xuất lạc ở Nghệ An
2.4 Tình hình sản xuất lạc ở Diễn Châu
2.5 Tỉnh hình sản xuất lạc ở Diễn Kỷ
3. Phương pháp nghiên cứu
Chương II: Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hộicủa xã Diễn Kỷ
1. Điều kiện tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
1.3 Thời tiết, khí hậu
1.4 Sông ngòi
2. Tình hình kinh tế-xã hội
2.1 Tình hình dân số và lao động
2.2 Tình hình sử dụng đất đai

2
HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY LẠC TẠI XÃ DIỄN KỶ - HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây công nghiệp ngắn ngày. Sản xuất cây công nghiệp ngắn ngày đã trở
thành tập quán sản xuất của bà con nông dân Việt Nam.
Từ khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, cùng với xu thế áp dụng khoa học
kỹ thuật vào trồng trọt, người nông đã và đang sản xuất theo hướng thâm canh, chuyên canh có
hiệu quả sản xuất ngày càng cao. Nhiều cây công nghiệp đã trở thành thế mạnh của nước ta. Sản
phẩm cây công nghiệp đã sử dụng hết sức đa dạng, là nguồn thực phẩm giàu đạm và chất béo, là
thành phần không thể thiếu trong những bữa ăn của con người, không chỉ để tiêu thụ trong nước
mà còn để xuất khẩu. Các cây công nghiệp ngắn ngày này nay có vị trí quan trọng trong hệ thống
nông nghiệp giúp cho hệ thống luân canh, xen canh, gối vụ, tăng vụ và cải tạo đất. Sản phẩm cây
công nghiệp cũng là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp chế biến.
Trong các cây công nghiệp ngắn ngày đang được sản xuất ở Việt Nam, cây lạc có một vị
trí rất quan trọng. Lạc là cây thực phẩm, cây có dầu quan trọng trong số các loại cây có dầu hàng
năm trên thế giới, sản phẩm của lạc có nguồn prôtêin cao làm thức ăn tốt cho người và gia sức,
làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Sản phẩm lạc là một mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu
khá lớn. Hằng năm, Việt Nam xuất khẩu 100.000-135.000 tấn (65-120 triệu USD). Riêng Nghệ
An, hằng năm xuất khẩu khoảng 40.000 – 45.000 tấn lạc (24-26 triệu USD). Huyện Diễn Châu là
một huyện sản xuất lạc trọng điểm của tỉnh Nghệ An. Hằng năm xuất khẩu từ 10.000 – 14.000 tấn
(6.5- 9 triệu USD). Đối với chất đất có thành phần cơ giới nhẹ, bạc màu và không chủ động được
thuỷ lợi thì cây lạc là cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp, nông thôn, tạo điều kiện công ăn việc làm và sử dụng hợp lý đất đai, vốn và lao động.
Diễn Kỷ là một xã nằm ở phía Bắc huyện Diễn Châu. Điều kiện đất đai, điều kiện khí hậu,
thuỷ nông tương đối khó khăn trong việc phát triển cây lương thực. Tuy nhiên những điều kiện đó
lại thuận lợi va thích hợp cho việc sản xuất cây công nghiệp ngắn ngày. Trong những năm gần
đây, huyện Diễn Châu nói chung và xã Diễn Kỷ nói chung, vì vậy cây lạc trở thành cây hàng hoá
của các nông hộ của vùng. Năng suất lạc đã từng bước được tăng lên so với các vùng khác trong

C.
Thời kỳ cây con đến trước hoa, cây lạc cần tổng tích ôn khoảng 700-1000
0
C. Nhiệt độ
thích hợp cho thời kỳ này là 25-30
0
C.
Thời kỳ cây lạc ra hoa, đâm tia, hình thành quả cần tổng tích ôn là 1600-3500
0
C. Đây là
thời kỳ cây lạc có hoạt động sinh lý mạnh về cả sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực.
Nhiệt độ không khí trung bình thích hợp cho lạc là 25-28
0
C. Lúc hình thành quả là 31-33
0
C. Nếu
nhiệt độ cao trên 34
0
C kèm theo gió tây nóng, độ ẩm thấp nên khoảng 50% lạc ra hoa rất ít, quả
nhỏ, một hạt.
- Nước: Nước là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và khả năng cho năng
suất của cây lạc. Mặc dù được coi là cây tương đối chịu hạn nhưng nhiều kết quả nghiên cứu đều
khẳng định sự thiếu hụt một lượng nước tối thiểu ở bất cứ giai đoạn sinh trưởng nào cũng đều ảnh
hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây lạc.
Trên thế giới các vùng trồng lạc có năng suất cao thường có lượng mưa từ 1000-
1300mm/năm và phân bố đều. Để cây lạc đạt năng suất tối đa cần đảm bảo lượng nước tối thiểu
cho các thời kỳ sinh trưởng như nhau:
+ Thời kỳ nảy mầm hạt cần đủ lượng nước tối thiểu là 60-65% trọng lượng hạt, độ ẩm
thích hợp là 70-75%.
+ Thời kỳ cây con đến trước ra hoa cần độ ẩm khoảng 65%.

Trong hạt hầu như có đầy đủ các chất đại diện cho tất cả các nhóm chất hoá học hữu cơ và rất
nhiều chất vô cơ như lipid, protein, glucid, và các amin… Trong đó lipid (dầu) chiếm tỉ lệ lớn
nhất, sau đó là protein và glucid. Nó cung cấp một nguồn năng lượng rất lớn. Trong 100g hạt lạc
cung cấp 590kcal, trong khi trị số ở đậu tương là 411kcal, gạo tẻ là 353 kcal, thịt lợn nạt là
286kcal…
1.2.2 Giá trị xuất khẩu
Trên thị trường thế giới, lạc là mặt hàng của nhiều nước. Do giá trị nhiều mặt của hạt lạc
nên chưa bao giờ lạc mất thị trường tiêu thụ. Theo số liệu của FAO 1999, hiện đang có 100 nước
đang trồng và xuất khẩu lạc. Ở Xênêgan, giá trị lạc chiếm 80% giá trị xuất khẩu, ở Nigiêria chiếm
60% giá trị xuất khẩu.
Hiện nay có 5 nước xuất khẩu lạc chủ yếu, đó là: Trung Quốc, Mỹ, Achentina, Ấn Độ và
Việt Nam. Các nước phải nhập khẩu lạc là Nhật Bản, Inđônêxia, Canada, Philipin, Đức…Ở Việt
Nam sản lượng lạc xuất khẩu dao động từ 100-130 nghìn tấn. Khối lượng xuất khẩu từ năm 1990
đến nay có chiều hướng tăng, tuy nhiên sự tăng ấy còn ở mức độ chậm. Mặt hàng xuất khẩu chủ
yếu là hạt, song về chất lượng của chúng ta còn rất thấp vì kích cỡ hạt nhỏ, hàm lượng dầu thấp
nên giá trị chưa cao. Năm 1990, sản lượng của xuất khẩu Việt Nam chỉ đạt 70 nghìn tấn trong khi
tổng sản lượng sản xuất ra là 213 nghìn tấn.
1.2.3 Giá trị công nghiệp
Do giá trị dinh dưỡng của lạc, con người đã sử dụng như một nguồn thực phẩm quan
trong. Ngoài việc dùng để ăn dưới nhiều hình thức như luộc, rang, nấu xôi, làm bánh kẹo, chao
dầu… lạc được dùng để ép dầu ăn và khô dầu để chế biến nước chấm và chế biến các mặt hàng
khác. Gần đây nhờ công nghiệp thực phẩm phát triển, người ta chế biến nhiều mặt hàng thực
phẩm có giá trị từ lạc như lạc rút dầu, bơ lạc, chao,phomat sữa, sữa lạc… được sử dụng chế biến
nhiều loại thuốc trong y dược, dùng làm dầu nhờn để xoa máy, bỏ trục xe, loại dầu xấu dùng để
nấu xà phòng.
1.2.4 Giá trị nông nghiệp
Lạc là cây trồng có ý nghĩa nhất là đối với các nước nghèo vùng nhiệt đới. Sản phẩm phụ
của lạc là thức ăn quý cho động vật nuôi. Khi ép dầu sản phẩm phụ là khô dầu với lượng dinh
dưỡng khá cao làm thức ăn cho gia súc gia cầm. Dùng khô dầu trong khẩu phần thức ăn sẽ làm
tăng sản lượng trứng của gà, làm lợn tăng trọng nhanh hơn. Khi phân tích thân lá lạc thì có 47%

Qua bảng 1 ta thấy, diện tích lạc trên thế giới đạt trên 20triệu ha được tập trung chủ yếu ở
Châu Á. Ấn Độ là nước đứng đầu thế giới về diện tích trồng lạc với 7,5 triệu ha. Trung Quốc
đứng thứ hai sau Ấn Độ với trên 4 triệu ha, chiếm 16% tổng diện tíc trồng lạc của thế giới. Ở Việt
Nam, tình hình sản xuất lạc có chiều hướng phát trển ngày càng gia tăng.
2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, gần 10 trở lại đây, việc thực hiện chính sách chuyển đổi cơ chế quản lý trong
sản xuất nông nghiệp đã góp phần tích cực vào ngành sản xuất lúa, đưa nước ta từ chỗ thiều lương
thực trở thành một nước đứng thứ hai về xuất khẩu gạo. Do giải quyết được vấn đề lương thực
nên nông dân có điều kiện chủ động để chuyển dần một phần diện tích trồng lúa nước sang sản
xuất các cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn, trong đó cây lạc có vị trí quan trọng trong nền sản
xuất nông nghiệp hàng hoá cũng như góp phần cải tạo và sử dụng lâu bền tài nguyên đất đai,
nhằm khai thác lợi thế của vùng khí hậu nhiệt đới.
Bảng 2: Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam giai đoạn 1999-2004
Năm Diện tích (1.000 ha) Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng
(1.000tấn)
1999 247.6 12.8 318.1
2000 244.9 14.5 355.3
2001 244.6 14.8 363.1
2002 246.7 16.2 400.4
2003 243.8 16.7 406.2
2004 258.7 17.4 451.1
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2005
6
HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY LẠC TẠI XÃ DIỄN KỶ - HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
Trong thời kỳ này, diện tích trồng lạc có xu hướng giảm dần tuy nhiên dao động không
lớn, đến năm 2004 diện tích tăng. Tốc độ tăng trưởng của lượng lạc trong thời kỳ này chủ yếu là
do sự nhảy vọt về năng suất, từ 12.8 tạ/ha năm 1999 lên 17.4 tạ/ha năm 2004. Đây là kết quả của
việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt kết hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác
mới.

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An
Diện tích lạc ở Diễn Châu có chiều hướng tăng. Nguyên nhân này do năm 2004 đã chuyển
đổi một diện tích lúa cao cưỡng sang làm cây màu và chuyển dịch ngô đông sang làm lạc đông
nhằm mục đích làm giống cho vụ động xuân. Năng suất lạc bình quân tăng lên 15,5 tạ/ha năm
2001 lên 24,7 tạ/ha năm 2004.
2.5 Tình hình sản xuất lạc ở xã Diễn Kỷ
7
Năm
2001 2002 2003 2004
So sánh
2004/2001
+
-
%
Diện tích (ha) 3,587 3,546 3,626 3,880 + 293 108,2
Năng suất
(tạ/ha)
15,5 23,6 21,3 24,7 + 9,2 159,4
Sản lượng
(tấn)
5,564 8,510 7,730 9,600 + 4036 172,5
HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY LẠC TẠI XÃ DIỄN KỶ - HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
Diễn Kỷ là một trong những xã trọng điểm sản xuất lạc của huyện Diễn Châu. Trong 4
năm gần đây phong trào chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá nổ ra mạnh
mẽ. Theo đó cây lạc là cây công nghiệp ngắn ngày có hiệu quả cao được người dân của xã chú
trọng.
Bảng 5: Tình hình sản xuất lạc xã Diễn Kỷ giai đoạn 2001-2004
Năm
2001 2002 2003 2004
So sánh

1. Điều kiện tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
Diễn Kỷ là một xã nằm về phía Bắc huyện Diễn Châu – Tỉnh Nghệ An cách thị xã Diễn
Châu 4,5 km.
- Phía Bắc: giáp xã Diễn Hồng, Diễn Tháp
- Phía Nam: giáp xã Diễn Hoa
- Phía Tây: giáp xã Diễn Xuân, Diễn Hạnh
- Phía Đông: giáp xã Diễn Bích, Diễn Vạn, Diễn Ngọc
Diễn Kỷ có các tuyến đường 1A, đường sắt Bắc Nam chạy xuyên qua, ngoài Diễn Kỷ có
đuờng Tỉnh lộ 38 đoạn Cầu Bùng đi Yên Thành và nhiều đường liên thôn, liên tỉnh khác. Hệ
thống đường giao thông nói trên tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế, giao lưu và tiếp xúc văn
hoá với các xã phụ cận, phát triển các loại hình dịch vụ vận tải. Địa hình đồng bằng là điều kiện
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status