LÝ ĐỨC MINH
Mã số SV : 4054173
Lớp: KTNN 1 K31
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ
KINH TẾ CỦA HỘ NUÔI CÁ TRA TẠI
QUẬN THỐT NỐT – CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
VÕ HỒNG PHƯỢNG
Tháng 05/2009
Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ
GVHD: Võ Hồng Phượng Trang 1 SVTH: Lý Đức Minh
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Theo xu thế chung của thế giới ngày nay, sự tăng trưởng mạnh của nền kinh
tế toàn cầu cùng với sự gia tăng về dân số kéo theo sự gia tăng mạnh mẽ nhu cầu
tiêu dùng của con người mà đặc biệt là những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu
thiết yếu hằng ngày. Do đó nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy sản trên thế giới ngày
càng tăng. Mức tăng của các sản phẩm thủy sản nhiều hơn so với các sản phẩm
trên cạn khác do con người có xu hướng sử dụng sản phẩm thuỷ sản thay thế cho
các loại sản phẩm trên cạn.
Trong những năm gần đây ngành thủy sản Việt Nam đã có những bước phát
triển kỳ diệu trong tất cả các lĩnh vực sản xuất (đánh bắt, nuôi trồng, chế biến,
sản xuất giống, cảng cá và các dịch vụ nghề cá khác). Vì vậy, thủy sản đã trở
thành một trong những ngành kinh tế chủ đạo với giá trị xuất khẩu đứng thứ 3 cả
nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân về tình hình nuôi cá tra là vấn đề hết sức cần
thiết. Vì vậy, đề tài “Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của người nuôi
cá tra ở quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ” được thực hiện.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của người nuôi cá tra ở Quận Thốt
Nốt- Tp Cần Thơ. Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
cá tra trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Đánh giá thực trạng chung của nông dân nuôi cá tra ở Q. Thốt Nốt- Tp Cần
Thơ.
Phân tích chi phí, doanh thu, lợi nhuận đạt được của nông dân và các nhân
tố ảnh hưởng đến quá trình nuôi cá tra ở Q. Thốt Nốt- Tp Cần Thơ.
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi cá.
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Thực trạng nuôi cá tra của nông dân ở Quận Thốt Nốt- Tp Cần Thơ như thế
nào?
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.novapdf.com)
Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ
GVHD: Võ Hồng Phượng Trang 3 SVTH: Lý Đức Minh
Chi phí, doanh thu, lợi nhuận của người nuôi cá tra hợp lý và đạt hiệu nhất
chưa?
Có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả sản xuất, tiêu thụ cá tra ở
Thốt Nốt- Tp Cần Thơ trong thời gian tới?
1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Địa bàn nghiên cứu là Q. Thốt Nốt– TP.Cần Thơ, gồm xã Tân Hưng và Tân
Lộc.
1.4.1. Không gian nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu là Q. Thốt Nốt-Tp Cần Thơ.
- Hiệu quả: là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các nguồn lực sao cho
đạt kết quả cao nhất. Hiệu quả bao gồm ba yếu tố: không sử dụng nguồn lực lãng
phí, sản xuất với chi phí thấp nhất, sản xuất để đáp ứng nhu cầu của con người.
- Hiệu quả sản xuất: bao gồm :
+ Hiệu quả kinh tế: Tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị. Nghĩa là
khi sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại thì
không có hiệu quả.
+ Hiệu quả kỹ thuật: là việc tạo ra một số lượng sản phẩm nhất định từ việc
sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất. Nó được xem là một thành phần của hiệu
quả kinh tế. Bởi vì muốn đạt được hiệu quả kinh tế thì trước hết phải đạt được
hiệu quả kỹ thuật.
2.1.2. Khái niệm hộ.
Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ, hộ
là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm
những người cùng chung huyết tộc và những người làm công.
Về phương diện thống kê, Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người
cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
Qua các điểm khác nhau về khái niệm hộ có thể nêu lên một số điểm cần
lưu ý khi phân định hộ:
- Hộ là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc.
- Họ cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà.
- Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung.
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.novapdf.com)
Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ
GVHD: Võ Hồng Phượng Trang 5 SVTH: Lý Đức Minh
- Cùng tiến hành sản xuất chung.
Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có một cuộc thảo luận nghiêm túc nào về
khái niệm hộ và các phương pháp nghiên cứu hộ. Hầu như từ trước tới nay người
ta mặc nhiên thừa nhận “hộ” là “gia đình”, “kinh tế hộ” là “kinh tế gia đình”.
GVHD: Võ Hồng Phượng Trang 6 SVTH: Lý Đức Minh
đời sống cho nông dân luôn là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân. Đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp để nâng cao thu
nhập và cải thiện đời sống cho nhân dân, trong đó đề tài “Thị trường nông sản và
các giải pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hoá ở Đồng
bằng sông Cửu Long: trường hợp sản phẩm heo ở tỉnh Cần Thơ” (tháng 9/2002)
do tiến sĩ Mai Văn Nam - trưởng Khoa Kinh Tế & Quản Trị Kinh Doanh trường
Đại học Cần Thơ làm chủ nhiệm là một điển hình.
2.1.4. Một số chỉ tiêu kinh tế để đánh giá hiệu quả kinh tế:
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của người nuôi cá tra, trong đề tài có sử dụng
các tỷ số tài chính:
Tổng thu nhập = Giá bán x Tổng sản lượng
Tổng chi phí = Chi phí lao động + Chi phí vật chất + Chi phí khác
Lợi nhuận = Tổng thu nhập - Tổng chi phí
Tỷ số giữa thu nhập ròng trên chi phí công lao động nhà (TNR/CPLDN):
nhằm biết thu nhập có bù đắp được chi phí công lao động nhà hay không.
Tỷ số giữa thu nhập ròng trên chi phí chưa có công lao động nhà
(TNR/∑CLDN): một đồng chi phí bỏ ra sẽ cho bao nhiêu đồng thu nhập.
Tỷ số giữa lợi nhuận ròng trên chi phí công lao động nhà (LNR/CPLDN):
lợi nhuận đạt được có đủ bù đắp chi phí công lao động nhà hay không.
Tỷ số giữa lợi nhuận ròng trên tổng chi phí đã có công lao động nhà
(LNR/∑CP): một đồng chi phí bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Đây
chính là tỷ suất lợi nhuận của việc nuôi cá.
Tỷ số giữa thu nhập ròng trên tổng doanh thu (TNR/∑DT): trong một đồng
doanh thu tạo ra có bao nhiêu đồng thu nhập ròng.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.2.1. Chọn địa bàn nghiên cứu:
Địa bàn khảo sát tại Q. Thốt Nốt là thị trấn Thốt Nốt gồm xã Tân Hưng và
Tân Lộc. Phương pháp chọn địa bàn nghiên cứu dựa theo một số tiêu chí sau:
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.novapdf.com)
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.novapdf.com)
Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ
GVHD: Võ Hồng Phượng Trang 8 SVTH: Lý Đức Minh
2.2.3. Phân tích dữ liệu
Sử dụng phương pháp hồi quy bội tuyến tính đa chiều là phương pháp
dùng để dự đoán, ước lượng giá trị của một biến (được gọi là biến dự báo hay
biến phụ thuộc) theo giá trị của một hay nhiều biến khác (được gọi là biến dùng
để dự báo, biến độc lập, biến mô tả). Mô hình tổng quát hàm thu nhập có dạng:
Y
1
= β
0
+ β
1
X
1i
+ β
2
X
2i
+ … + β
p
X
pi
+ u
i
= f(X
, X
6
, X
7
, X
8
, X
9
, X
10
)
Các biến số X
1
…X
7
được thiết lập trên cơ sở tập hợp các yếu tố ảnh hưởng
đến chi phí và doanh thu của hoạt động nuôi cá tra, bởi vì thu nhập là hiệu số
giữa doanh thu và chi phí chưa tính công lao động nhà. Còn biến số X
8
,X
9
là kinh
nghiệm thể hiện trình độ kỹ thuật của người nuôi nên cũng có tác động đến
doanh thu và chi phí do đó cũng có ảnh hưởng đến thu nhập.
Kết quả in ra từ phần mềm SPSS có các thông số sau:
Multiple R: hệ số tương quan bội, nói lên mối liên hệ chặt chẽ giữa biến
phụ thuộc Y và các biến độc lập X. R càng lớn, mối liên hệ càng chặt chẽ.
Hệ số xác định R
2
(R – Square): Tỷ lệ % biến động của Y được giải thích
- Thời Pháp, Thốt Nốt là tên thuộc tỉnh Long Xuyên. Thời Việt Nam Cộng
Hòa, Thốt Nốt là quận của tỉnh An Giang. Sau năm 1975 là huyện của tỉnh An
Giang,sau đó lại thuộc tỉnh Cần Thơ.Cuối năm 2003 Cần Thơ trở thành thành
phố trực thuộc trung ương thì quận Thốt Nốt cũng được tách thành 2 huyện là
Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh thuộc ngoại ô thành phố Cần Thơ.
3.1.3. Khí hậu
- Quận Thốt Nốt có đặc tính khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng đồng bằng
miền Nam bộ của Việt Nam. Có hai mùa rõ rệt: mùa khô (bắt đầu từ khoảng
tháng 12 đến khoảng tháng 04 của năm sau) và mùa mưa (bắt đầu từ khoảng
tháng 05 và chấm dứt vào khoảng cuối tháng 11).
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.novapdf.com)
Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ
GVHD: Võ Hồng Phượng Trang 10 SVTH: Lý Đức Minh
- Nhiệt độ không khí trung bình dao động khá rộng từ 22,3
0
C đến 33,6
0
C.
Tháng 12 và tháng giêng hằng năm thường có nhiệt độ thấp nhất khoảng 19,4
0
C,
trong khi đó tháng 04, tháng 05 có nhiệt độ cao nhất, lên đến 34,8
0
C.
- Số giờ nắng thấp nhất là bình quân cả năm nắng khoảng 2.242,9 giờ.
Trong đó tháng nắng cao nhất là tháng 3 có 238,4 giờ nắng; tháng nắng thấp nhất
là tháng 07 có 135,3 giờ nắng.
- Độ ẩm tương đối trung bình của huyện cả năm là 84%. Trong đó tháng 02
có độ ẩm thấp nhất là 77%, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 9 với 89%.
trường tiểu học, 7 trường trung học cơ sở, 35 trường trung học phổ thông,1 trung
tâm giáo dục thường xuyên, 1 trung tâm dạy nghề và 8 trung tâm học tập cộng
đồng. Tuy nhiên, trong số này mới có 1 trường mầm non, 2 trường tiểu học và 1
trường THCS được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Phần lớn cơ sở vật chất trường
học trên địa bàn huyện đã được xây dựng lâu năm, bán kiên cố, đang bị xuống
cấp nghiêm trọng. Đáng chú ý là quận vẫn còn có 29 phòng học xây dựng tạm
bằng cây.
- Về cơ sở y tế, năm 2007, toàn huyện chỉ có 01 bệnh viện, 01 phòng y tế,
08 trạm y tế xã với 249 giường bệnh, 60 y, bác sĩ. Số xã chuẩn Quốc gia về y tế.
- Đào tạo ngành nghề: Quận Thốt Nốt từ năm 2007 đến nay đã giới thiệu
và giải quyết việc làm cho trên 16.000 lao động trên địa bàn. Tuy nhiên, do đa số
học viên lao động ngoại thành và lực lượng vũ trang xuất ngũ đêu có hoàn cảnh
kinh tế khó khăn, trình độ học vấn thấp, chất lượng đào tạo nghề hạn chế, ngán
ngại tìm việc làm, nên cơ hội có việc làm ổn định, thu nhập cao rất khó.
3.2.4. Kinh Tế
- Quận Thốt Nốt nằm cặp bờ sông Hậu. Trên quốc lộ 91 từ trung tâm
thành phố Cần Thơ đi Long Xuyên, An Giang phải qua quận Thốt Nốt. Quận
Thốt Nốt địa thế thấp, độ cao 4m trên mặt nước biển. Kinh tế chủ yếu là nông
nghiệp với các cây trồng chính là lúa, hoa màu và cây ăn trái, nuôi thủy sản…
Trong đó cù lao Tân Lộc là vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản của quận. Hiện
nay một khu công nghiệp đang xây dựng ở Thốt Nốt với tổng diện tích giai đoạn
1 và 2 là 55 ha. Khu này định hướng là khu công nghiệp năng động thứ 3 của Tp
Cần Thơ, sau khu công nghiệp trà nóc và Hưng Phú.
3.2.5. Cơ cấu ngành nghề
Theo phòng kinh tế quận, tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP tăng bình quân
hằng năm 21%. Riêng năm 2006, tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn quận đạt
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.novapdf.com)
Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ
GVHD: Võ Hồng Phượng Trang 12 SVTH: Lý Đức Minh
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CÁ TRA Ở
QUẬN THỐT NỐT – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
4.1. Nguồn và đặc điểm tự nhiên của cá tra
4.1.1 Nguồn gốc cá tra
Cá tra (Pangasius hypophthalmus Sauvage) là một trong số 14 loài được
nhận biết ở hạ lưu sông Mekong thuộc địa phận Việt Nam. Từ năm 1940, nuôi cá
trong ao mới xuất hiện ở đồng bằng nam bộ. Hầu như nhà nào cũng có một vài
ao lớn nhỏ và đối tượng nuôi chính là cá tra. Do đó, nghề nuôi cá tra ở Việt Nam
được phát triển mạnh nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và có
truyền thống nuôi từ những năm 1940.Năm 1985 có hơn 90% diện tích ao nuôi
cá ở nông thôn (cùng với Đồng Tháp) có nguồn cá tra giống phong phú vớt trên
sông và nghề cá tra giống phát triển nhất trong cả nước. Tài liệu của Ủy hội sông
Mê Kông cũng đề cập về hiện trạng nuôi cá tra ở miền nam Việt Nam những thập
kỷ 1940- 1970. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá tra để chủ động cung cấp giống
cho người nuôi và góp phần bảo vệ nguồn lợi tự nhiên đã là một nhu cầu quan
trọng và cấp thiết. Từ năm 1978 với sự phối hợp nghiên cứu giữa khoa Thủy sản
trường Đại học Nông lâm Tp Hồ Chí Minh và trường Trung học kỹ thuật Nông
nghiệp Long Định (nay là Viện cây ăn quả miền nam) lần đầu tiên đã nuôi nhân
tạo thành thục cá tra bố mẹ trong ao và năm 1979 đã cho đẻ thành công. Từ năm
1980 Viện Nghiên cứu NTTS II cũng bắt đầu chương trình nghiên cứu sinh sản
nhân tạo cá tra, suốt thập niên 1980- 1990 qui trình nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ
trong ao và cho đẻ nhân tạo đã tương đối hoàn chỉnh, năm 1997 công nghệ sản
xuất giống và ương nuôi cá tra đã đạt kết quả tốt, năm 2002 công nghệ sản xuất
giống cá tra nhân tạo đã được chuyển giao cho nhiều tỉnh trong cả nước. Năm
1999, sản lượng cá tra bột sản xuất nhân tạo của các tỉnh ĐBSCL đã cao hơn số
lượng vớt ngoài tự nhiên. Công nghệ ương cá tra bột lên thành cá giống đã phổ
cập và xã hội hoá, và bắt đầu từ năm 2000 các tỉnh ĐBSCL nơi có nghề truyền
thống vớt và ương cá bột bắt đầu chấm dứt vớt cá tra bột trên sông. Hiện nay với
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.novapdf.com)
4.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng .
Điều này có thể giải thích tại sao chúng ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp,
thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vợt vớt cá bột. Cá
bột ăn các loại động vật có kích thước vừa cỡ miệng của chúng như ấu trùng côn
trùng ở nước, cua, tôm cá con, trai ốc. Khi cá lớn, tính ăn tạp thiên về động vật
và dễ chuyển đổi loại thức ăn. Trong ao nuôi cá tra có khả năng thích nghi với
nhiều loại thức ăn bắt buộc phế phẩm, phân hữu cơ, động vật đáy . Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.novapdf.com)
Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ
GVHD: Võ Hồng Phượng Trang 15 SVTH: Lý Đức Minh
4.1.5. Đặc điểm sinh sản của cá tra
Tuổi thành thục: cá tra đực ở 2t, cá tra cái ở 3t trở lên, trọng lượng khi đó
đạt trung bình 3kg trở lên. Tuy nhiên sự thành thục ở cá còn phụ thuộc rất nhiều
vào điều kiện môi trường sống, trong đó nhiệt độ là yếu tố tiên quyết. Cá tra
không có cơ quan sinh dục phụ, nên nhìn hình thái ngoài khó phân biệt đực cái.
Cá đẻ tự nhiên ở lưu vực sông Mekong tại Campuchia từ tháng 3 đến tháng 8,
trong tự nhiên không thấy hiện tượng tái phát dục. Trong sinh sản nhân tạo, ta có
thể cho thành thục sớm, cho đẻ sớm khoảng tháng 3, có thể cho đẻ tái phát dục 1-
2 lần trong năm. Hệ số thành thục cá đực 1- 3%, cá cái có thể đạt tới 20%. Sức
sinh sản tương đối của cá tra có thể từ 200 ngàn đến vài triệu trứng. Sức sinh sản
tuyệt đối dao động từ 70- 150 ngàn trứng.
4.2. THÔNG TIN VỀ HỘ NUÔI CÁ TRA
Mẫu số liệu dùng để xử lý, phân tích trong đề tài được thu thập trực tiếp từ
các hộ nuôi cá tra tại địa bàn quận Thốt Nốt, tổng số mẫu thu được là 49 mẫu.
4.2.1. Tổng quan về hộ nuôi cá tra
Để thấy được hiệu quả sản xuất của nông hộ nuôi cá tra ở Quận Thốt Nốt ta
tiến hành phân tích diện tích, nguồn lực và độ tuổi lao động, trình độ học vấn của
100
Nguồn: số liệu điều tra năm 2009 Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.novapdf.com)
Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ
GVHD: Võ Hồng Phượng Trang 16 SVTH: Lý Đức Minh
Kết quả khảo sát 49 hộ nuôi cá tra tại vùng nghiên cứu, cho thấy diện tích
đất canh tác bình quân của nông hộ là 0,6286 ha (nhỏ nhất là 0,3 ha, lớn nhất là 2
ha).
Từ bảng số liệu trên cho thấy diện tích nuôi cá tra giữa các hộ tại địa bàn
nghiên cứu có sự chênh lệch lớn. Các hộ có diện tích đất sản xuất từ 0,3 ha đến
0,5 ha chiếm đến 57.1%. Trong khi đó, các hộ có diện tích đất trồng nhiều nhất
tại vùng nghiên cứu chỉ chiếm 4,1%. Điều này cho thấy nguồn lực về đất sản
xuất tại vùng khảo sát tương đối không đồng đều. Đa số các hộ có diện tích đất
nuôi nhỏ nhưng các hộ này không có điều kiện về vay vốn để mở rộng diện tích
hoặc một số hộ có diều kiện vay vốn để mở rộng diện tích nhưng họ không vay
vì họ mang tâm lí đầu tư càng lớn thì họ càng lỗ vì biến động giá cả cá tra trên thị
trường rất thất thường nhất là trong tình hình hiện nay. Chỉ có một số hộ có diện
tích đất tương đối lớn. Đồng thời, thực trạng trên cũng cho thấy diện tích đất nuôi
cá tra tại địa bàn nghiên cứu còn manh mún, quy mô nhỏ lẻ, thường mang tính tự
phát. Điều này cũng là một hạn chế về nguồn lực sản xuất của nông hộ.
4.2.1.2 Vị trí ao nuôi:
Vị trí ao nuôi đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi cá, ao nuôi nên gần
nguồn cấp – thoát nước, thuận lợi nhất là gần sông lớn. Hiện nay đa số ao nuôi cá
tra được xây dựng trên đất bãi ven sông Hậu, ao nuôi có hình chữ nhật, diện tích
tùy theo khả năng, nhưng thích hợp nhất là từ 500-1.500m
trong đó nhỏ nhất là 1 người và cao nhất là 5 người tham gia nuôi cá tra, lao động
thuê trung bình 2,45 người, số lượng thuê ít nhất là 1 người và nhiều nhất là 6
người.
4.2.1.4 Trình Độ Văn Hóa
Theo kết quả điều tra cho thấy: Tỷ lệ mù chữ của chủ hộ chiếm trên 4,1%,
tỷ lệ người học cấp I đối với chủ hộ chiếm 20,4% trong 49 hộ phỏng vấn, học cấp
II chỉ có 51% đối với chủ hộ, còn tỷ lệ học cấp III của chủ hộ chiếm 24,5% trong
49 hộ phỏng vấn.
Bảng 3 : Thông tin về trình độ văn hoá của chủ hộ năm 2008.
Trình độ Tần số
Tỷ trọng hợp
lệ (%)
Tỷ trọng
tích luỹ (%)
Mù chữ 2
4,1
4,1
Cấp I 10
20,4
24,5
Cấp II 25
51
trình nuôi cá tra của nông hộ nhằm để giảm chi phí và năng cao năng suất của
nông hộ nuôi cá tra ở Quận Thốt Nốt. Vì vậy yếu tố kĩ thuật là một khâu rất quan
trọng không thể thiếu trong quá trình nuôi cá tra. Để thấy được yếu tố kĩ thuật tác
động như thế nào đến năng suất, lợi nhuận của nông hộ ta dựa vào bảng dưới đây
và một số yếu tố khác.
Bảng 4: Thông tin tình hình nuôi cá ở Thốt Nốt năm 2008.
Chỉ tiêu ĐVT Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình
Mật độ thả nuôi Con/m
2
24
76,4
46,88
Sản lượng thu hoạch Tấn 46
1.200
298,08
Kích cở thả nuôi gam 10
80
53,98
Kích cở thu hoạch Kg 0,9
1,4
Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ
GVHD: Võ Hồng Phượng Trang 19 SVTH: Lý Đức Minh
những trường hợp cá biệt, thông thường nông hộ thả với mật độ dao động từ 20
con đến 40 con/m
2
, Trong thời gian gần đây do mức độ ô nhiễm nguồn nước
ngày càng trầm trọng do đó mức độ rủi ro của việc nuôi cá cũng cao hơn nên có
một số hộ chủ trương nuôi cá với mật độ thấp (có thể từ 15 - 20 con/m
2
) để đạt
mức an toàn cao nhưng vẫn cho kết quả tốt, bên cạnh đó cũng có những hộ nâng
mật độ nuôi ngày càng cao để nâng cao năng suất và sản lượng cá nuôi (trên 50
con/m
2
), tuy nhiên việc thả cá với mật độ dày hộ nuôi cho rằng sẽ sinh lợi, tiết
kiệm diện tích nuôi nhưng sẽ làm cho cá bị stress và phát sinh dịch bệnh. Khi đó,
người nuôi phải sử dụng hóa chất, thuốc men rất nhiều trên diện tích ao nuôi làm
gia tăng chi phí, gây ô nhiễm môi trường nuôi, tồn lưu thuốc, hóa chất độc hại
trong thịt cá và năng suất ao nuôi ngày càng thấp.
b. Kích cỡ thả nuôi:
Giống là yếu tố rất quan trọng trong quá trình thả nuôi của nông hộ. Bởi
nguồn giống không đạt tiêu chuẩn chất luợng về kích cỡ (nếu kích cỡ thả nuôi
nhỏ quá thì làm cho con giống tăng trưởng chậm hay lớn quá làm cho giảm đầu
con trên một diện tích). Qua kết quả điều tra cho ta thấy kích cỡ thả nuôi trung
bình là 53,98 gam, trong đó kích cỡ thả nuôi thấp nhất là 10 gam và kích cỡ thả
nuôi cao nhất lên đến 80 gam là tương đối phù hợp với điều kiện của vùng, hay
nói khác hơn kích cỡ nguồn con giống đạt tiêu chuẩn.
c. Thời gian nuôi
Ngoài những yếu tố nêu trên thì thời gian nuôi cũng góp phần quyết định
thu hoạch được trong năm qua là tương đối thấp. Nguyên nhân là do năm qua
chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên: nguồn nước, mầm bệnh, nguồn thức ăn
không đảm bảo nguồn dinh dưỡng cho cá tăng trưởng. Mặt khác, phần lớn nông
hộ nuôi với mật độ khá cao nên làm cho cá lớn không đồng đều. Vì vậy mà sản
lượng thu hoạch vừa qua của nông hộ không khả quan.
f. Tỷ lệ sống của hộ nuôi cá tra
Tỷ lệ sống là một trong những yếu tố quyết định không nhỏ đến năng suất,
doanh thu cũng như lợi nhuận của nông hộ nuôi cá tra, bởi vì tỷ lệ sống của cá là
phần trăm cá còn sống sau khi thu hoạch, nếu tỷ lệ sống của cá tra thấp sẽ làm
giảm năng suất, lợi nhuận của nông hộ nuôi cá tra. Trong 49 hộ điều tra thì tỷ lệ
sống của cá tra thấp nhất là 38.3%/vụ và tỷ lệ sống cao nhất là 92.4%/vụ, tỷ lệ
sống của cá tra trung bình của 49 hộ nuôi là 67.48%/vụ tương đối phù hợp với
tình hình nuôi cá tra ở Thốt Nốt, vì tỷ lệ sống của cá tra còn bị ảnh hưởng rất
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.novapdf.com)
Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ
GVHD: Võ Hồng Phượng Trang 21 SVTH: Lý Đức Minh
nhiều các yếu tố khác như: chất lượng nước, bệnh, nguồn thức ăn, chất lượng
thuốc, con giống……
g. Thức ăn và cho cá ăn:
Chất lượng thức ăn
Bảng 5:Thông tin chất lượng thức ăn ở Thốt Nốt năm 2008.
Tần số Tỷ trọng hợp lệ (%)
Tốt 16
32,7
Không tốt 33
67,3
GVHD: Võ Hồng Phượng Trang 22 SVTH: Lý Đức Minh
thời kỳ này giảm xuống 15-20%. Cho cá ăn hai lần/ngày và cần cho cá ăn đến no
thì thôi, thường là lượng thức ăn bằng 4-6% trọng lượng cá. Thành phần thức ăn
của cá như sau: 20% rau xanh, 50% cám, 30% cá, ốc, hến, đầu cá xay nhỏ.
Thức ăn được nấu chín, nhồi dẻo, cho ăn ở dạng viên.
Thực tế khi khảo sát cho thấy nông hộ nuôi không quan tâm nhiều đến các
định mức kỹ thuật khi cho cá ăn như trên, mà thông thường họ cho cá ăn đến khi
no thì thôi gây ra việc ô nhiễm do thức ăn thừa cộng với lãng phí thức ăn đẩy giá
thành lên cao. Hơn nữa việc bảo quản thức ăn tương đối còn kém, kho bảo quản
thường không hợp vệ sinh làm cho thức ăn dễ bị nấm mốc nhất là trong mùa mưa
làm cá dễ bị bệnh do thức ăn đã bị hư.
h. Chất lượng nguồn nước
Bảng 6:Thông tin chất lượng nguồn nước ở Thốt Nốt năm 2008.
Tần số
Tỷ trọng hợp
lệ (%)
Tốt 14
28,6
Không tốt 35
71,4
Tổng 49
100
Nguồn: Số liệu điều tra, 2009
hình thức này, nên nhu cầu về vốn vốn vay của hộ nuôi rất cao, họ thường vay
vốn của các ngân hàng với lãi suất 1,74%/ tháng trong năm 2008, tuy nhiên định
mức cho vay ưu đãi lại rất thấp không đủ vốn để người nuôi có thể đầu tư nuôi cá
chính vì vậy nông hộ thường vay bên ngoài và chịu lãi suất cao tư 3-6% tùy vào
số tiền và uy tín của người vay. Hơn nữa vốn vay ngân hàng nông nghiệp còn
phải chịu thêm chi phí vay tương đối cao trong năm 2008.
4.3 PHÂN TÍCH DOANH THU, CHI PHÍ, LỢI NHUẬN VÀ CÁC NHÂN
TỐ ẢNH HƯỞNG
4.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế 2007-2008
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của nông hộ nuôi cá tra, ta nghiên cứu dựa
vào 3 yếu tố : Doanh thu, năng suất, lợi nhuận và một số yếu tố khác.
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.novapdf.com)
Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ
GVHD: Võ Hồng Phượng Trang 24 SVTH: Lý Đức Minh
4.3.1.1 Phân tích doanh thu
Bảng 7: Doanh thu bình quân của hộ sản xuất cá tra 2007-2008.
Trung bình (triệu đồng) Số mẫu
Doanh thu 2008 4,598
49
Doanh thu 2007 3,936
49
49
Lợi nhuận 2007 544,98
49
Nguồn: số liệu điều tra, 2009
Qua bảng số liệu trên ta thấy trung bình trong năm 2008 mỗi hộ nuôi lỗ 161
triệu đồng, trong khi trong năm 2007 lợi nhuận bình quân 544.98 triệu đồng, tình
Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer (http://www.novapdf.com)