206 Thực trạng về phân tích tình hình và hiệu quả kinh doanh xuất khẩu tại Công ty XNK tạp phẩm Hà Nội (78tr) - Pdf 27

Luận văn tốt nghiệp k36 - d5
Chơng I
Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động xuất
khẩu và phân tích hoạt Động xuất khẩu
I. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu và đặc điểm hoạt động kinh
doanh xuất khẩu
1/ Khái niệm xuất khẩu hàng hoá, hiệu quả xuất khẩu và đặc điểm
hoạt động kinh doanh xuất khẩu
1.1/ Khái niệm về xuất khẩu hàng hoá
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh ngoại thơng mà hàng
hoá dịch vụ của quốc gia này bán cho quốc gia khác.
* Xuất khẩu hàng hoá thờng diễn ra dới các hình thức sau:
+ Hàng hoá nớc ta bán ra nớc ngoài theo hợp đồng thơng mại đợc ký
kết của các thành phần kinh tế của nớc ta với các thành phần kinh tế ở nớc
ngoài không thờng trú trên lãnh thổ Việt Nam.
+ Hàng hoá mà các đơn vị, dân c nớc ta bán cho nớc ngoài qua các đ-
ờng biên giới, trên bộ, trên biển, ở hải đảo và trên tuyến hàng không.
+ Hàng gia công chuyển tiếp
+ Hàng gia công để xuất khẩu thông qua một cơ sở ký hợp đồng gia
công trực tiếp với nớc ngoài.
+ Hàng hoá do các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài bán cho ngời
mua nớc ngoài nhng giao hàng tại Việt Nam
+ Hàng hoá do các chuyên gia, ngời lao động, học sinh, ngời du lịch
mang ra khỏi nớc ta.
+ Những hàng hoá là quà biếu, đồ dùng khác của dân c thờng trú nớc ta
gửi cho thân nhân, các tổ chức, huặc ngời nớc ngoài khác.
Hà nội 2004
1
Luận văn tốt nghiệp k36 - d5
+ Những hàng hoá là viện trợ, giúp đỡ của chính phủ, các tổ chức và
dân c thờng trú nớc ta gửi cho chính phủ, các tổ chức, dân c nớc ngoài.

một số mặt cha hợp lý.
Một là, đồng nhất hiệu quả và kết quả. Hai là, không phân định rõ bản
chất và tiêu chuẩn hiệu quả xuất khẩu với các chỉ tiêu biểu hiện bản chất
và tiêu chuẩn đó.
Cần phân biệt rõ khái niệm kết quả và hiệu quả. Về hình thức
hiệu quả kinh tế là một phạm trù so sánh thể hiện mối tơng quan giữa cái
phải bỏ ra và cái thu về đợc. Kết quả chỉ là yếu tố cần thiết để tính toán và
phân tích hiệu quả. Tự bản thân mình, kết quả cha thể hiện nó tạo ra ở
mức nào và với chi phí là bao nhiêu.
Mỗi hoạt động trong sản xuất kinh doanh thơng mại dịch vụ nói riêng
là phải phấn đấu đạt đợc kết quả, nhng không phải là kết quả bất kỳ mà
phải là kết quả có mục tiêu và có lợi ích cụ thể nào đó. Nhng kết quả có đ-
ợc ở mức độ nào với giá nào đó chính là vấn đề cần xem xét, vì nó là chất
lợng của hoạt động tạo ra kết qủa. Vì vậy, đánh giá hoạt động kinh tế xuất
khẩu không chỉ là đánh giá kết quả mà còn là đánh giá chất lợng của hoạt
động để tạo ra kết quả đó. Vấn đề không phải chỉ là chúng ta xuất khẩu đ-
ợc bao nhiêu tỷ đồng hàng hoá mà còn là với chi phí bao nhiêu để có đợc
kim ngạch xuất khẩu nh vậy. Mục đích hay bản chất của hoạt động xuất
khẩu là với chi phí xuất khẩu nhất định có thể thu đợc lợi nhuận
lớn nhất. Chính mục đích đó nảy sinh vấn đề phải xem lựa chọn cách nào
để đạt đợc kết quả lớn nhất.
Từ cách nhìn nhận trên ta thấy các chỉ tiêu lợng hàng hoá xuất khẩu,
tổng trị giá hàng hoá xuất khẩu chỉ là những chỉ tiêu thể hiện kết quả của
hoạt động xuất khẩu chứ không thể coi là hiệu quả kinh tế của hoạt động
xuất khẩu đợc, nó cha thể hiện kết quả đó đợc tạo ra với chi phí nào
Hà nội 2004
3
Hiệu quả kinh tế
=
Kết quả đầu ra

=
Luận văn tốt nghiệp k36 - d5
nớc ngoài mà phải nhờ qua một đơn vị xuất khẩu có uy tín thực hiện hoạt
động xuất khẩu cho mình.
Đặc điểm hoạt động xuất khẩu uỷ thác là có hai bên tham gia trong
hoạt động xuất khẩu:
+ Bên giao uỷ thác xuất khẩu (bên uỷ thác): bên uỷ thác là bên có đủ
điều kiện bán hàng xuất khẩu.
+ Bên nhận uỷ thác xuất khẩu (bên nhận uỷ thác): bên nhận uỷ thác
xuất khẩu là bên đứng ra thay mặt bên uỷ thác ký kết hợp đồng với bên n-
ớc ngoài. Hợp đồng này đợc thực hiện thông qua hợp đồng uỷ thác và chịu
sự điều chỉnh của luật kinh doanh trong nớc. Bên nhận uỷ thác sau khi ký
kết hợp đồng uỷ thác xuất khẩu sẽ đóng vai trò là một bên của hợp đồng
mua bán ngoại thơng.
Do vậy, bên nhận uỷ thác sẽ phải chịu sự điều chỉnh về mặt pháp lý
của luật kinh doanh trong nớc, luật kinh doanh của bên đối tác và luật
buôn bán quốc tế.
Theo phơng thức kinh doanh xuất khẩu uỷ thác, doanh nghiệp giao uỷ
thác giữ vai trò là ngời sử dụng dịch vụ, còn doanh nghiệp nhận uỷ thác lại
giữ vai trò là ngời cung cấp dịch vụ, hởng hoa hồng theo sự thoả thuận
giữa hai bên ký trong hợp đồng uỷ thác.
* Xuất khẩu theo hiệp định:
Bộ phận hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu theo hiệp định của nhà nớc ký
kết với nớc ngoài. Các doanh nghiệp thay mặt nhà nớc ký các hợp đồng cụ
thể và thực hiện các hợp đồng đó với nớc bạn.
*Xuất khẩu ngoài hiệp định:
Bộ phận hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu không nằm trong hiệp định
của nhà nớc phân bổ cho doanh nghiệp.
3/ Đặc điểm hoạt động kinh doanh xuất khẩu
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu có các đặc điểm sau:

6
Luận văn tốt nghiệp k36 - d5
Đất nớc ta đang từng bớc tiến tới Công Nghiệp Hoá - Hiện Đại Hoá
đất nớc. Đây là một nhiệm vụ cần thiết đáp ứng yêu cầu của Đảng ta là đa
đất nớc thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu từng bớc phát triển nền kinh tế ngày
một bền vững ổn định, xoá dần khoảng cách về kinh tế giữa nớc ta và các
nớc trên thế giới.
Nhìn chung các ngành sản xuất trong nớc vẫn cha thể đáp ứng đợc
yêu cầu của quá trình hiện đaị hoá chính vì vậy mà chúng ta cần thiết phải
nhập khẩu một số trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại từ nớc ngoài
vào Việt Nam. Nguồn vốn ngoại tệ để nhập khẩu có thể đợc hình thành từ
các nguồn sau:
+ Đầu t trực tiếp nớc ngoài
+ Kinh doanh dịch vụ thu ngoại tệ
+ Vay nợ, nhận viện trợ
+ Xuất khẩu hàng hoá
Các nguồn vốn ngoại tệ nh: đầu t trực tiếp nớc ngoài, vay nợ, kinh
doanh dịch vụ thu ngoại tệ không đóng góp nhiều lắm vào việc tăng thu
ngoại tệ, chỉ có xuất khẩu hàng hoá là nguồn thu ngoại tệ lớn của đất nớc,
nguồn thu này dùng để nhập khẩu các trang thiết bị hiện đại phục vụ công
nghiệp hóa và trang trải những chi phí cần thiết khác cho quá trình này,
xuất khẩu không những nâng cao đợc uy tín xuất khẩu của các doanh
nghiệp trong nớc mà còn phản ánh năng lực sản xuất hiện đại của chính n-
ớc đó.
Trong tơng lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên nhng mọi cơ hội đầu
t, vay nợ của nớc ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ
đầu t và ngời cho vay thấy đợc khả năng xuất khẩu nguồn vốn duy nhất
để trả nợ trở thành hiện thực. Điều này càng nói lên vai trò vô cùng
quan trọng của xuất khẩu.
Hà nội 2004

Hà nội 2004
8
Luận văn tốt nghiệp k36 - d5
Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng muốn mở rộng thị trờng, nâng cao khả
năng chiếm lĩnh thị trờng từ đó thu lợi nhuận cao. Mặt khác mở rộng thị
trờng xuất khẩu là giảm sự phụ thuộc vào thị trờng nội địa khi thị trờng
này có sự biến động ảnh hởng không tốt đến việc kinh doanh của doanh
nghiệp và tăng khả năng thoả mãn nhu cầu cho ngời tiêu dùng.
Thị trờng nớc ngoài hầu nh là những thị trờng có sức tiêu thụ hàng
hoá lớn hơn so với nhu cầu tiêu dùng trong nớc, chính vì vậy mọi doanh
nghiệp đều luôn cố gắng thoả mãn tốt nhất nhu cầu này để tăng doanh thu
đạt lợi nhuận cao nhng lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn, doanh
nghiệp phảI chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp khác. trong
điều kiện nh vậy doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh
nghiệp phải tổ chức lại sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất
hiện có cả về số lợng và chất lợng bằng cách nhập các trang thiết bị kỹ
thuật hiện đại, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất để
nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lợng sản phẩm, nâng cao khả
năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Nh vậy xuất khẩu góp phần
phát triển sản xuất ngày một hiện đại hơn và ổn định hơn.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho
sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nớc. Điều này muốn nói đến
xuất khẩu là điều kiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ bên
ngoài vào Việt Nam, nhằm hiện đại hóa nền kinh tế của đất nớc, tạo ra
năng lực sản xuất mới.
Xuất khẩu chính là việc hàng hoá đợc tiêu dùng ở nớc ngoài, chịu
sự cạnh tranh về giá cả, chất lợng.
Doanh nghiệp muốn có một chỗ đứng trên thị trờng thì phải có kế
hoạch sản xuất kinh doanh sao cho có thể tận dụng hết mọi năng lực sản
xuất hiện có để tạo ra những sản phẩm có chất lợng tốt đáp ứng đợc đòi

rộng vận tảI quốc tế Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại lại
tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
Hà nội 2004
10
Luận văn tốt nghiệp k36 - d5
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc
để phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nớc.
III. Sự cần thiết phảI phân tích tình hình và hiệu quả kinh doanh xuất khẩu
1/ Các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả xuất khẩu
2/ Sự cần thiết phải phân tích tình hình và hiệu quả kinh doanh xuất
khẩu
Trong nền kinh tế thị trờng các doanh nghiệp luôn phải chịu sự cạnh
tranh gay gắt từ các đối thủ cạnh tranh về mọi mặt: giá cả, chất lợng, thị
trờng, khách hàng nếu nh doanh nghiệp không nhanh nhậy nắm bắt đợc
tình hình thực tế cũng nh không biết chính xác về tình hình kinh doanh,
hiệu quả kinh doanh của chính doanh nghiệp mình thì doanh nghiệp sẽ có
những ảo tởng về kết quả mà doanh nghiệp đã đạt đợc điều này dẫn tới
doanh nghiệp sẽ thất bại trong cuộc cạnh tranh với các doanh nghiệp khác,
doanh nghiệp sẽ dần mất đi những gì mà mình đang có mà điều này cũng
đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đang dần suy vong và có nguy cơ dẫn
đến phá sản.
Đặc biệt đối với các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực xuất khẩu
hàng hoá thì sự cạnh tranh còn gay gắt hơn nhiều so với các doanh nghiệp
trong nớc bởi vì doanh nghiệp khi tham gia xuất khẩu hàng hoá sang thị
trờng nớc ngoài không những phải chịu sự cạnh tranh của các doanh
nghiệp từ nhiều nơi khác mà còn phải chịu áp lực từ chính nớc mình xuất
khẩu hàng hoá sang lý do là nhiều khi các nớc đó áp dụng các chính sách
quy chế gây cản trở cho các doanh ngiệp xuất khẩu mục đích là để bảo hộ
cho ngành sản xuất trong nớc của họ. Để giúp cho các chủ doanh nghiệp
xuất khẩu luôn nắm bắt đợc tình hình kinh doanh thực tế cũng nh biết đợc

mở rộng thị trờng nâng cao uy tín và vị thế của doanh nghiệp trên thơng
trờng.
Doanh nghiệp nào cũng có thị trờng, khách hàng, mặt hàng riêng của
mình, tuy nhiên doanh nghiệp cũng chia ra thành thị trờng chính, mặt
Hà nội 2004
12
Luận văn tốt nghiệp k36 - d5
hàng chủ lực, khách hàng truyền thống để từ đó có kế hoạch cung ứng
hàng hoá cho phù hợp. Nếu đối với các thị trờng chính có sức tiêu thụ lớn
mà ta lại không chú ý tới, không có kế hoạch cung ứng hàng hoá đầy đủ
kịp thời đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp sẽ dần
mất đi thị phần trên thị trờng đó và các doanh nghiệp khác sẽ có cơ hội để
chiếm lĩnh thị trờng đó có nghĩa là doanh nghiệp đang đánh mất cơ hội
làm tăng lợi nhuận của chính mình.
Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu theo thị trờng sẽ cho
ta biết đợc mức độ hoàn thành kế hoạch đối với thị trờng chính cũng nh
các thị trờng khác để có kế hoạch cung ứng hàng hoá cho phù hợp. Nh vậy
việc phân tích tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu là thật sự cần thiết
đối với mỗi một doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu.
+ Phân tích tình hình xuất khẩu ngay trong khi thực hiện kế
hoạch xuất khẩu giúp doanh nghiệp phát hiện ra những thay đổi bất th-
ờng của thị trờng có ảnh hởng xấu đến việc thực hiện kế hoạch xuất
khẩu cũng nh gây tổn thất cho doanh nghiệp về mặt kinh tế, những khó
khăn mới nảy sinh cản trở tiến trình thực hiện xuất khẩu.
Sau mỗi một kỳ kinh doanh, doanh nghiệp đều đa ra những kế hoạch
kinh doanh cho kỳ tiếp sau, mặc dù đã có sự chuẩn bị trớc nhng trong thực
tế không phải lúc nào mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều diễn ra theo
kế hoạch đã định. Thị trờng luôn chứa đựng trong nó những biến động bất
thờng, những biến động này có thể là theo chiều hớng xấu đối với doanh

tâm trong thời kỳ đó, nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã có nhà nớc bù lỗ
vì vậy doanh nghiệp chỉ quan tâm xem mình có đạt đợc các chỉ tiêu kế
hoạch do bên trên giao hay không.
Nhng từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng với sự tham gia của
nhiều thành phần kinh tế nhà nớc đã trao quyền tự chủ kinh doanh cho
doanh nghiệp có nghĩa là chủ doanh nghiệp sẽ phải quyết định mọi hoạt
Hà nội 2004
14
Luận văn tốt nghiệp k36 - d5
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình và chịu trách nhiệm về
toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, nhà nớc chỉ kiểm soát doanh nghiệp
ở tầm vĩ mô:định hớng cho doanh nghiệp hoạt động, tạo ra môi trờng kinh
doanh thuận lợi và doanh nghiệp chỉ đợc phép hoạt động trong khuôn khổ
mà nhà nớc cho phép. Và khi mà sự suy vong hay phát triển của doanh
nghiệp phụ thuộc vào nỗ lực của chính bản thân doanh nghiệp thì hiệu quả
kinh doanh lại là một vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp luôn cố gắng để tìm ra các biện pháp nâng cao
hiệu quả kinh doanh, tìm cho mình một chỗ đứng trên thị trờng. Muốn
nâng cao hiệu quả kinh doanh thì trớc hết ta phải biết đợc hiệu quả kinh
doanh hiện tại nh thế nào để từ đó tìm ra nguyên nhân cũng nh những
điểm đã đạt đợc, rút ra bài học cho kỳ sau. Định kỳ cứ sau mỗi kỳ kinh
doanh doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tích xem doanh nghiệp đạt
hiệu quả kinh doanh cao hay thấp bằng các chỉ tiêu phân tích đã định trớc
phù hợp với yêu cầu và nội dung phân tích. Việc phân tích sẽ cung cấp
những thông tin chính xác trung thực về chất lợng kinh doanh của doanh
nghiệp, tìm ra các nhân tố và nguyên nhân ảnh hởng đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp từ đó có kế hoạch chỉ đạo cho kỳ kinh doanh sau
để làm sao doanh nghiệp đạt đợc hiệu quả kinh doanh cao hơn nữa. Nâng
cao hiệu quả kinh doanh cũng đồng nghĩa với việc nâng cao lợi nhuận,
phát triển mở rộng công việc kinh doanh của doanh nghiệp.

nguồn lực vật chất hiện có nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh.
+ Phân tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu là cơ sở khoa học cho
việc đề ra các kế hoạch sản xuất kinh doanh ở kỳ tiếp theo
Doanh nghiệp là một hệ thống bao gồm nhiều phần tử: phòng, ban,
chi nhánh mỗi một bộ phận đều có chức năng nhiệm vụ riêng, những
chức năng đó dù là nhỏ nhất cũng đều có quan hệ với nhau tạo nên hiệu
quả kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Phân tích
tình hình và hiệu quả kinh doanh xuất khẩu là cơ sở khoa học cho việc đề
Hà nội 2004
16
Luận văn tốt nghiệp k36 - d5
ra các kế hoạch sản xuất kinh doanh tiếp theo đó cũng chính là việc phối
hợp hoạt động giữa các phòng ban trong doanh nghiệp sao cho ăn khớp,
hoạt động nhịp nhàng, hợp lý, tất cả các phòng ban đều hớng tới một mục
tiêu chung là lợi nhuận của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ đạt đợc hiệu
quả kinh doanh cao. Trên cơ sở nhận xét đánh giá về kết quả doanh nghiệp
đạt đợc ở kỳ này, phân tích hiệu quả kinh doanh cao hay thấp, chủ doanh
nghiệp sẽ đa ra một kế hoạch kinh doanh cũng nh đa ra các chỉ tiêu cần
đạt đợc trong kỳ tiếp theo sao cho phù hợp với khả năng của doanh nghiệp
để doanh nghiệp có thể hoàn thành vợt mức kế hoạch đề ra.
Một kế hoạch kinh doanh đa ra mà không dựa trên các kết quả đã đạt
đợc trớc đó rất có thể sẽ là một kế hoạch nằm ngoài khả năng thực hiện
của doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ theo đuổi những mục tiêu xa vời mà
không để ý đến thực lực của doanh nghiệp mình sẽ dẫn đến không hoàn
thành kế hoạch và không đạt đợc hiệu quả kinh doanh nh mong muốn.
Các doanh nghiệp luôn đứng vững trớc mọi thay đổi của thị trờng là những
doanh nghiệp có kế hoạch kinh doanh hợp lý, luôn thích ứng với sự thay
đổi của thị trờng, cung ứng hàng hoá kịp thời đáp ứng đợc nhu cầu của ng-
ời tiêu dùng. Các kế hoạch sản xuất kinh doanh không chỉ là mục tiêu mà
doanh nghiệp cần đạt tới mà nó còn là định hớng cho doanh nghiệp hoạt

quản lý. Các quyết định của nhà quản lý nếu thiếu sự nghiên cứu, phân
tích một cách đầy đủ toàn diện các số liệu thông tin thì sẽ dẫn tới những
quyết định thoát ly thực tế không phù hợp với yêu cầu khách quan từ đó sẽ
dẫn đến khả năng rủi ro thua lỗ trong sản xuất kinh doanh.
Nguồn tài liệu ta có thể sử dụng để phân tích hoạt động kinh tế của
doanh nghiệp gồm: nguồn tài liệu bên ngoài và nguồn tài liệu bên trong
doanh nghiệp cung cấp.
* Nguồn tài liệu bên ngoài là các nguồn tài liệu phản ánh chủ trơng
chính sách của Đảng nhà nớc và các ngành về việc chỉ đạo, phát triển sản
xuất và lu thông trong và ngoài nớc.
Hà nội 2004
18
Luận văn tốt nghiệp k36 - d5
+ Chính sách kinh tế tài chính do nhà nớc quy định trong từng thời
kỳ nh: chính sách cấp vốn huặc cho vay vốn, các chính sách thuế của nhà
nớc, chính sách về kinh tế đối ngoại, chính sách về ngoại giao .
+ Tình hình thay đổi về thu nhập thị hiếu trong và ngoài nớc.
+ Biến động về cung cầu giá cả trên thị trờng trong và ngoài nớc.
* Nguồn tài liệu bên trong là các tài liệu liên quan đến việc phản ánh
quá trình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp
+ Tài liệu thông tin từ các kế hoạch sản xuất kinh doanh đã đặt ra bao
gồm: kế hoạch tài chính, kế hoạch xuất khẩu hàng hoá, kế hoạch về sử
dụng vốn
+ Số liệu trên các báo cáo tài chính do phòng kế toán lập hàng kỳ: báo
cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, bảng cân đối tài khoản, báo
cáo lu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính.
+ Số liệu do các phòng kinh doanh cung cấp hàng tháng: báo cáo xuất
khẩu theo tháng, theo quý.
+ Tài liệu hạch toán: các sổ sách kế toán, hạch toán tổng hợp, chi tiết,
các chứng từ hoá đơn.

huặc gốc không gian (so với tổng thể, so với đơn vị khác có điều kiện t-
ơng đơng, so với các bộ phận trong cùng tổng thể ) kỳ đ ợc chọn làm
gốc so sánh gọi là kỳ gốc, còn kỳ đợc chọn để phân tích là kỳ phân
tích. Các trị số của chỉ tiêu tính ra ở từng thời kỳ tơng ứng là trị số chỉ
tiêu kỳ gốc, kỳ phân tích.
Có nhiều dạng so sánh, phải căn cứ vào mục đích và yêu cầu của việc
phân tích để lựa chọn dạng so sánh. Mỗi dạng so sánh đều có ý nghĩa kinh
tế riêng của nó, giúp cho doanh nghiệp biết đợc sự vận động của các hoạt
động kinh tế trên mọi góc độ khác, từ đó có những phơng pháp khai thác
tiềm năng của bản thân doanh nghiệp và tiềm năng của xã hội mà doanh
nghiệp có thể khai thác đợc. Qua so sánh ta biết đợc kết quả của việc thực
hiện các nhiệm vụ đã đặt ra, biết đợc tốc độ phát triển của các hiện tợng
Hà nội 2004
20
Luận văn tốt nghiệp k36 - d5
kinh tế đồng thời biết đợc mức độ cụ thể của từng bộ phận cấu thành hệ
thống chỉ tiêu cần phân tích.
Phơng pháp so sánh đợc sử dụng trong phân tích hoạt động kinh tế
bao gồm nhiều nội dung khác nhau:
So sánh giữa số thực hiện của kỳ báo cáo với số kế hoạch huặc số
định mức để thấy đợc mức độ hoàn thành bằng tỷ lệ phần trăm (%) hay số
chênh lệch tăng giảm.
So sánh giữa số liệu thực hiện kỳ báo cáo với số liệu cùng kỳ năm
trớc huặc các năm trớc. Mục đích của việc so sánh này là để thấy đợc sự
biến động tăng giảm của các chỉ tiêu kinh tế qua những thời kỳ khác nhau
và xu thế phát triển của chúng trong tơng lai.
So sánh giữa số liệu thực hiện của một đơn vị này với một đơn vị
khác để thấy đợc sự khác nhau và mức độ,khả năng phấn đấu của đơn vị.
Thông thờng thì ngời ta thờng so sánh với những đơn vị bình quân tiên
tiến trở lên.

1
ì=

i
i
i
M
M
T
Tốc độ phát triển định gốc:
100
0
ì=
M
M
T
i
oi
Tốc độ phát triển bình quân:
1

=
n
i
tichcacTT
Trong đó:
i
T
: tỷ lệ phát triển liên hoàn
T

hay không cả về số tơng đối và số tuyệt đối, phơng pháp so sánh còn đợc
sử dụng để theo dõi tình hình xuất khẩu qua các năm (thờng là 5 năm trở
lên) để thấy đợc xu hớng của xuất khẩu qua các năm là tăng hay giảm.
Nh vậy phơng phơng pháp so sánh đợc sử dụng hầu hết trong các nội
dung phân tích tình hình xuất khẩu. Ngoài phơng pháp so sánh còn có một
số phơng pháp cũng đợc sử dụng trong phân tích tình hình và hiệu quả
xuất khẩu, sau đây là các phơng pháp đó.
2.2/ Phơng pháp biểu mẫu sơ đồ
Trong phân tích kinh tế ngời ta phải dùng biểu mẫu, sơ đồ phân tích
để phản ánh một cách trực quan qua các số liệu phân tích. Biểu phân tích
nhìn chung đợc thiết lập theo các dòng cột để ghi chép các chỉ tiêu và số
liệu phân tích. Các dạng biểu phân tích thờng phản ánh mối quan hệ so
sánh giữa các chỉ tiêu kinh tế có liên hệ với nhau: so sánh giữa số thực
hiện với số kế hoạch, so với số cùng kỳ năm trớc huặc so sánh giữa chỉ
tiêu cá biệt với chỉ tiêu tổng thể. Số lợng các dòng cột tuỳ thuộc vào mục
đích yêu cầu và nội dung phân tích. Tuỳ theo nội dung phân tích mà biểu
phân tích có tên gọi khác nhau, đơn vị tính khác nhau.
Còn sơ đồ, biểu đồ đồ thị đợc sử dụng trong phân tích để phản ánh sự
biến động tăng giảm của các chỉ tiêu kinh tế trong những khoảng thời gian
khác nhau huặc các mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau mang tính chất hàm số
giữa các chỉ tiêu kinh tế. Khi tiến hành phân tích tình hình hay hiệu quả
xuất khẩu thì ta đều phải lập bảng biểu để ghi các số liệu vào các dòng cột
đã chọn thực chất chính là ta đang áp dụng phơng pháp biểu mẫu sơ đồ,
tuy nhiên phơng pháp này không đợc sử dụng một mình nó nó còn kết hợp
Hà nội 2004
23
Luận văn tốt nghiệp k36 - d5
với các phơng pháp khác nh phơng pháp so sánh, phơng pháp số chênh
lệch, tỷ trọng, tỷ suất. Ngoài ra, trong phân tích hoạt động kinh tế ngời ta
còn sử dụng các phơng trình quy hoạch tuyến tính huặc phơng trình phi

kỳ
+
Hàng nhập
trong kỳ
=
Hàng bán
trong kỳ
+
Hao
hụt
+
Hàng
tồn
cuối kỳ
Cân đối cá biệt là quan hệ cân đối của các chỉ tiêu kinh tế cá biệt
v.v
Từ những mối liên hệ mang tính cân đối nếu có sự thay đổi một chỉ
tiêu nào đó sẽ dẫn sự thay đổi một chỉ tiêu khác từ đó xác định đợc ảnh h-
ởng của từng nhân tố đến đối tợng phân tích.
Do vậy khi phân tích một chỉ tiêu kinh tế có liên hệ với các chỉ tiêu
kinh tế khác bằng mối liên hệ cân đối ta phải lập công thức cân đối, thu
thập số liệu, áp dụng phơng pháp số chênh lệch để xác định mức độ ảnh h-
ởng của các chỉ tiêu đến chỉ tiêu phân tích.
Ví dụ: Khi tính toán phân tích trị giá vốn của hàng xuất bán trong kỳ ta có
công thức sau:
Trị giá
vốn hàng
xuất bán
=
Trị giá hàng

Nợ phải thu
khách hàng
đầu kỳ
+
Nợ phải thu
khách hàng
trongkỳ
=
Nợ phải thu
khách hàng đã
thu trong kỳ
+
Nợ phải thu
khách hàng
cuối kỳ
Hà nội 2004
25

Trích đoạn Nhận xét đánh giá về thực trạng tổ chức công tác phân tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu tại Công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm Hoàn thiện về công tác tổ chức phân tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu Hoàn thiện nội dung phân tích tình hình xuất khẩu theo các phòng kinh doanh Phân tích tình hình xuất khẩu theo phơng thức xuất khẩu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status