Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây dưa chuột bao tử tại xã Đồng Hóa - huyện Kim Bảng - tỉnh Hà Nam. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ LUYỆN Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ
CỦA CÂY DƯA CHUỘT BAO TỬ TẠI XÃ ĐỒNG HÓA,
HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn
Khóa : 2010 - 2014 THÁI NGUYÊN - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Để hoàn thành được khóa luận này, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân
thành đến Uỷ ban nhân dân xã Đồng Hóa, các hộ trồng dưa chuột bao tử ở các
thôn Phương Xá, Phương Lâm, Đồng Lạc đã cung cấp cho tôi những nguồn tư
liệu hết sức quý báu. Trong suốt quá trình nghiên cứu, tôi nhận được sự quan
tâm, sự động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi về cả vật chất và tinh thần của gia
đình và bạn bè. Thông qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến những tấm
lòng và sự giúp đỡ quý báu đó.
Trong quá trình hoàn thành khóa luận, tôi đã có nhiều cố gắng. Tuy
nhiên, khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót vì vậy, tôi kính
mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các quý thầy cô giáo và các bạn sinh
viên để khóa luận được hoàn thiện hơn.

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện

Vũ Thị Luyện

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 2
4. Những đóng góp mới của đề tài 2
5. Bố cục của khóa luận 2
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1. Cơ sở lí luận 3
1.1.1. Cơ sở lí luận về hiệu quả kinh tế 3
1.1.1.1. Quan điểm về hiệu quả kinh tế 3
1.1.1.2. Phân loại hiệu quả kinh tế 5

2.4.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 18
2.4.3. Phương pháp phân tích thông tin 21
2.5. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 22
2.5.1. Chỉ tiêu phản ánh sự ảnh hưởng của các yếu tố đến sản xuất của hộ 22
2.5.2. Các chỉ tiêu phản ánh tình hình kết quả sản xuất của hộ 22
2.5.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 23
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 24
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 24
3.1.1.1. Vị trí địa lí 24
3.1.1.2. Khí hậu thủy văn 24
3.1.1.3. Tình hình sử dụng và phân bố đất đai 25
3.1.2. Hiện trạng về kinh tế- xã hội- môi trường trên địa bàn xã 27
3.1.2.1. Dân số và lao động 27
3.1.2.2. Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn xã Đồng Hóa 28
3.1.2.3.Thực trạng kinh tế của xã 31
3.1.3. Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển sản xuất nông
nghiệp của xã 36
3.1.3.1. Thuận lợi 36
3.1.3.2. Khó khăn 36
3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dưa chuột bao tử tại xã Đồng Hóa 37
3.2.1. Tình hình sản xuất 37
3.2.2. Tình hình tiêu thụ 40
3.3. Mô tả mẫu điều tra sản xuất dưa chuột bao tử của nông hộ tại 3 xóm 43
3.4. Kết quả sản xuất dưa chuột bao tử tại xã Đồng Hóa năm 2013 45
3.4.1. Kết quả, hiệu quả sản xuất dưa chuột bao tử cho 1ha qua điều kiện
kinh tế tại xã Đồng Hóa năm 2013 49
3.4.2. Kết quả sản xuất dưa chuột bao tử cho 1ha qua trình độ học vấn tại
xã Đồng Hóa năm 2013 52
3.4.3. Kết quả sản xuất dưa chuột bao tử cho 1ha qua sự ảnh hưởng

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
1. Kết luận 72
2. Kiến nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang

Bảng 2.1: Số lượng mẫu điều tra ở các điểm nghiên cứu của xã năm 2013 20

Bảng 3.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã Đồng Hóa giai đoạn
2011 – 2013 26
Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế của xã qua 3 năm 2011-2013 31

Bảng 3.3: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của xã Đồng Hóa qua 3 năm
2011 – 2013 32

Bảng 3.4: Diện tích gieo trồng cây hàng năm của xã Đồng Hóa qua 3 năm
2011 - 2013 33

Bảng 3.5: Diện tích dưa chuột bao tử của xã Đồng Hóa qua 3 năm 2011- 2013 38

Bảng 3.6: Diện tích, năng suất và sản lượng dưa chuột bao tử của xã Đồng
Hóa qua 3 năm 2011 - 2013 39
Bảng 3.7: Tình hình giá dưa chuột bao tử của xã Đồng Hóa qua 3 năm
2011- 2013 42

Bảng 3.8: Một số thông tin chung về các hộ điều tra 44

Bảng 3.9: Hao phí công lao động/1ha dưa chuột bao tử 46

Bảng 3.20: Chi phí bình quân cho sản xuất ngô và dưa chuột bao tử tính
trên 1ha 62

Bảng 3.21: So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế của sản xuất dưa chuột bao
tử với cây ngô tính trên 1ha 63

DANH MỤC HÌNH
Trang

Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện tình hình sử dụng đất đai của xã 27

Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện cơ cấu kinh tế của xã năm 2013 31

Hình 3.3: Sơ đồ kênh tiêu thụ dưa chuột bao tử tại xã Đồng Hóa năm 2013. 41
Hình 3.4: Biểu đồ thể hiện giá dưa chuột bao tử của xã Đồng Hóa qua 3
năm 2011-2013 43

Hình 3.5: Diện tích trồng dưa chuột bao tử của các hộ điều tra năm 2013 47

Hình 3.6: Biểu đồ ảnh hưởng của kinh tế hộ đến kết quả sản xuất 1ha dưa
chuột bao tử của nhóm hộ điều tra 51

Hình 3.7: Biểu đồ ảnh hưởng của trình độ học vấn đến kết quả sản xuất 1ha
dưa chuột bao tử của nhóm hộ điều tra 54

Hình 3.8: Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của hạng đất đến kết quả sản xuất
1ha dưa chuột bao tử của nhóm hộ điều tra 57

VA/L Giá trị gia tăng trên 1 ngày công lao động
VA/TC Giá trị gia tăng trên 1 đồng chi phí
XK Xuất khẩu

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dưa chuột bao tử là loại cây trồng ngắn ngày cung cấp nguyên liệu cho
ngành chế biến rau quả xuất khẩu, được nhiều quốc gia ưa thích. Qua kết quả
các đề tài khoa học đã nghiên cứu cho thấy dưa chuột bao tử là cây có giá trị
dinh dưỡng cao, trong quả có chứa nhiều vitamin A, B, B6, E… và đặc biệt có
nhiều men tiêu hóa có lợi cho quá trình đồng hóa và hấp thụ thức ăn tốt hơn.
Những năm gần đây đã có nhiều cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước
khảo sát nghiên cứu và chọn Việt Nam là nơi sản xuất dưa chuột bao tử làm
nguyên liệu để chế biến cho xuất khẩu sang các nước như Nhật, Mỹ, Nga và
một số nước Đông Âu.
So với các cây trồng ngắn ngày khác, cây dưa chuột bao tử có nhiều ưu
thế như chi phí cho sản xuất không cao, vòng quay thu hồi vốn nhanh, thời
gian thu hoạch ngắn, bình quân 35- 40 ngày có thể cho thu hoạch và thời gian
thu hoạch kéo dài từ 60- 80 ngày. Nhận thấy những ưu điểm đó cùng với
những điều kiện nguồn lực sẵn có, xã Đồng Hóa - huyện Kim Bảng - tỉnh Hà
Nam đã trồng và coi dưa chuột bao tử là cây rau màu chính tại địa phương.
Tuy nhiên việc sản xuất dưa chuột bao tử tại đây chưa phát huy được hết tiềm
năng sẵn có. Diện tích trồng dưa chuột bao tử chưa được mở rộng như tiềm
năng đất đai vốn có, năng suất, chất lượng và giá cả còn thấp so với các địa
phương khác. Mặt khác phương thức sản xuất của người dân còn mang tính
nhỏ lẻ thủ công, việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật chưa hiệu
quả, dẫn tới hiệu quả kinh tế (HQKT) chưa cao.
Chính vì vậy tôi đã lựa chọn khóa luận nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả

chuột bao tử tại xã Đồng Hóa và đối với các địa phương có điều kiện tương tự.
4. Những đóng góp mới của đề tài
Đánh giá một cách tương đối về HQKT cây dưa chuột bao tử. Đánh giá
được sự ảnh hưởng của các nhân tố: điều kiện gia đình, trình độ học vấn của chủ
hộ, chất lượng đất, công tác tập huấn kỹ thuật tới HQKT cây dưa chuột bao tử.
5. Bố cục của khóa luận
* Mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
- Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Chương 4: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cây dưa
chuột bao tử tại xã Đồng Hóa
* Kết luận và kiến nghị

3

Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở lí luận về hiệu quả kinh tế
1.1.1.1. Quan điểm về hiệu quả kinh tế
Nền kinh tế chịu sự chi phối bởi quy luật nguồn lực khan hiếm, trong
khi đó nhu cầu của xã hội về hàng hoá dịch vụ ngày càng tăng và đa dạng. Do
vậy, đòi hỏi xã hội phải lựa chọn, từng cơ sở sản xuất, kinh doanh phải lựa
chọn, sao cho với một lượng nguồn lực nhất định, phải tạo ra được khối lượng
hàng hoá và dịch vụ cao nhất. Đây là mục tiêu của xã hội và của mỗi đơn vị
sản xuất kinh doanh [2].
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt
động kinh tế. Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho
lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh

sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên
một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả
kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị
đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp.
Một số quan điểm khác lại cho rằng, hiệu quả được hiểu là mối quan hệ
tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả
đó. Kết quả sản xuất ở đây được hiểu là giá trị sản phẩm đầu ra, còn lượng chi
phí bỏ ra là giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối quan hệ so sánh này được
xem xét về cả hai mặt (so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối). Như vậy, một
hoạt động sản xuất nào đó đạt được hiệu quả cao chính là đã đạt được mối
quan hệ tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được
kết quả đó.
Có quan điểm lại xem xét, hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa mức độ
biến động của kết quả sản xuất và mức độ biến động của chi phí bỏ ra để đạt
được kết quả đó. Việc so sánh này có thể tính cho số tuyệt đối và số tương
đối. Quan điểm này có ưu việt trong đánh giá hiệu quả của đầu tư theo chiều
sâu, hoặc hiệu quả của việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, tức là hiệu quả
kinh tế của phần đầu tư thêm.
Như vậy: Hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là một phạm trù
kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh
trình độ khai thác các nguồn lực và tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó trong
quá trình sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh.

5

1.1.1.2. Phân loại hiệu quả kinh tế
Hiệu quả được nhắc đến nhiều trong cuộc sống, nó được hiểu trên
nhiều góc độ và lĩnh vực khác nhau. Khi nói đến hiệu quả thấy rằng hoạt động
đó đạt kết quả tốt, tiết kiệm nguồn lực, được nhiều người chấp nhận [6].

6

Hiệu quả về kinh tế, xã hội thể hiện mối tương quan giữa các kết quả
đạt được tổng hợp trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội với các chi phí bỏ ra để
đạt được các kết quả đó.
Có thể nói hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm có vai trò quyết định nhất
và nó được đánh giá một cách đầy đủ nhất khi kết hợp với hiệu quả xã hội. Để
làm rõ phạm trù hiệu quả kinh tế có thể phân loại chúng theo các tiêu thức nhất
định từ đó thấy rõ được nội dung nghiên cứu của các loại hiệu quả kinh tế.
Xét trong phạm vi và đối tượng các hoạt động kinh tế, có thể phân chia
phạm trù hiệu quả kinh tế thành:
- Hiệu quả kinh tế theo ngành là hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng
ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch
vụ trong từng ngành lớn có lúc phải phân bổ hiệu quả kinh tế cho những
ngành hẹp hơn.
- Hiệu quả kinh tế quốc dân là hiệu quả kinh tế tính chung toàn bộ nền
sản xuất xã hội.
- Hiệu quả kinh tế theo vùng lãnh thổ: là xét riêng cho từng vùng, từng
tỉnh, từng huyện.
- Hiệu quả kinh tế doanh nghiệp là xem xét cho từng doanh nghiệp, vì
doanh nghiệp hoạt động theo từng mục đích riêng rẽ và lấy lợi nhuận làm mục
tiêu cao nhất, nên nhiều hiệu quả của doanh nghiệp không đồng nhất với hiệu
quả của quốc gia. Cũng vì thế mà Nhà nước sẽ có các chính sách liên kết vĩ
mô với doanh nghiệp.
- Hiệu quả kinh tế khu vực sản xuất vật chất và sản xuất dịch vụ.
Căn cứ vào yếu tố cơ bản của sản xuất và phương hướng tác động vào
sản xuất thì có thể phân chia hiệu quả kinh tế thành từng loại:
- Hiệu quả sử dụng vốn
- Hiệu quả sử dụng lao động
- Hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị

- Mức trung bình hay tiên tiến trong ngành.
- Mức thực tế của đơn vị khác, doanh nghiệp khác, ngành khác, địa
phương khác hay một quốc gia khác.
Các mốc so sánh trên đây là căn cứ thực tiễn để đánh giá toàn diện hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị hay sản phẩm. Việc so sánh
hiệu quả kinh tế theo các mốc so sánh này gọi là cách đánh giá hiệu quả kinh
tế trong sản xuất kinh doanh ở trạng thái động.
Đối với sản phẩm cụ thể, tiêu chí để đánh giá hiệu quả kinh tế có thể
dựa vào qui mô sản xuất sản phẩm đó, công nghệ sản xuất hay qui trình kỹ
thuật, mức đầu tư thâm canh, loại hình sản xuất hay tổ chức sản xuất.

8

1.1.1.5. Hệ thống chỉ tiêu về HQKT
* Nguyên tắc khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu về HQKT
- Phải đảm bảo tính thống nhất, thể hiện ở nội dung các chỉ tiêu và
phương pháp xác định tính toán.
- Phải đảm bảo tính toàn diện của hệ thống, bao gồm chỉ tiêu tổng quát
chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu phản ánh trực tiếp và chỉ tiêu bổ sung.
- Phải phù hợp với đặc điểm và trình độ của sản xuất cây dưa chuột bao
tử. Xét về mặt nội dung HQKT có mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu
vào và đầu ra, nó so sánh giữa lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Kết
quả kinh tế phản ánh hoạt động cuối cùng trong quá trình sản xuất kinh
doanh, còn HQKT là tỷ số chênh lệch giữa kết quả quá trình sản xuất và chi
phí bỏ ra để có kết quả đó (là mối quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí của
nền sản xuất).
* Chỉ tiêu tổng quát phản ánh HQKT
H=Q - K H = Q/K
H =


(FC); Chi phí biến đổi (VC); Chi phí trung gian (IC); Chi phí lao động (LĐ);
Phần tăng lên của chi phí (

K).

9

Phương pháp xác định kết quả sản xuất (Q) và chi phí sản xuất (K) nêu
trên là chung nhất, từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất và ở những điều kiện
cụ thể nhất định vận dụng cho thích hợp. Đánh giá HQKT trong sản xuất kinh
doanh là việc làm hết sức phức tạp, vì vậy để phản ánh một cách đầy đủ,
chính xác, toàn diện thì ngoài những chỉ tiêu trên, cần quan tâm đến một số
chỉ tiêu khác như:
- Năng suất đất đai: ND = GO(N)/D(CT)
Trong đó: GO(N): Giá trị sản xuất ngành trồng trọt.
D(CT): Diện tích đất canh tác sử dụng trong ngành trồng trọt
Trong quá trình đánh giá, phân tích không chỉ đơn thuần phân tích,
đánh giá HQKT mà phải chú ý đến hiệu quả xã hội,… Đồng thời phải chú ý
đến hiệu quả môi trường sinh thái như giảm gây ô nhiễm môi trường, phủ
xanh đất trống, bảo vệ nguồn nước…Trên cơ sở phát triển một nền nông
nghiệp bền vững.
1.1.2. Cơ sở lí luận về cây dưa chuột bao tử
1.1.2.1. Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của dưa chuột bao tử
Cây sinh trưởng khỏe, phát triển nhanh, khả năng chống chịu bệnh, đặc
biệt là các bệnh sương mai, đốm vàng trên lá tốt, giảm được chi phí sản
xuất do ít phải phun thuốc phòng trừ sâu bệnh. Sức cây bền, thời gian cho
thu hoạch kéo dài nên đạt năng suất cao.
Dưa chuột bao tử dễ chế biến, mẫu mã đẹp, chất lượng sản phẩm sau chế
biến cao, giòn, giữ được hương vị đặc trưng, thích hợp cho cả dưa dầm dấm
đóng lọ và dưa muối.

gian tới.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dưa chuột bao tử tại Việt Nam
Trước kia cây lúa là cây trồng chính, tuy nhiên khi điều kiện sống tăng
lên thì nhu cầu về rau quả cũng tăng cao, các sản phẩm được chế biến từ dưa
chuột bao tử cũng dần được ưa chuộng hơn trong và ngoài nước. Hiện nay
dưa chuột bao tử được trồng chủ yếu ở Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Bắc
Ninh. Diện tích trồng dưa chuột bao tử của Việt Nam đã tăng từ 148,42 nghìn
ha năm 2005 lên 448,42 nghìn ha năm 2008. Khu vực sản xuất dưa chuột bao
tử chủ yếu là vùng Đồng bằng Sông Hồng chiếm 23,28% về diện tích và
25,46% về sản lượng (năm 2007) [17].
Việc nâng cao năng lực chế biến dưa chuột bao tử đã được chú trọng
hơn. Năm 2000 cả nước chỉ có 12 nhà máy và 48 cơ sở chế biến rau quả có
dây chuyền và thiết bị lạc hậu, sản phẩm sản xuất ra còn chưa phù hợp với thị
trường, công suất 150 nghìn tấn/năm. Nhưng đến năm 2004 có thêm 12 nhà

11

máy chế biến với thiết bị hiện đại nâng công suất 290 nghìn tấn/năm. Sản
phẩm sản xuất đã có mặt trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, thâm
nhập vào những thị trường có yêu cầu cao về chất lượng cũng như mẫu mã
sản phẩm như thị trường Mỹ và EU.
Từ khi có quyết định số 80/2002/QĐ- TTg ngày 24/6/2002 về chính
sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng đến tháng
6 năm 2006 Tổng Công ty Rau quả Việt Nam đã kí 924 hợp đồng tiêu thụ sản
phẩm dưa chuột bao tử.
Dưa chuột bao tử khi được trồng ra không chỉ đáp ứng được nhu cầu
tiêu dùng trong nước mà còn dùng cho xuất khẩu ra các nước trên thế giới.
Năm 2007, Tổng công ty rau quả Việt Nam đã xuất khẩu được 47.423 tấn dưa
chuột hộp và 552 tấn dưa chuột đóng lọ thủy tinh.

ngâm với hành ớt, tỏi, cà chua đạt gần 1,2 triệu USD [17].
1.2.2. Kinh nghiệm nâng cao HQKT sản xuất dưa chuột bao tử ở huyện
Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Từ năm 2006, người dân Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã trồng cây dưa
chuột bao tử mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với trồng lúa và lao
động bằng các nghề phụ hồ, bốc vác lúc nông nhàn. Trung bình thu hoạch từ
2 vụ dưa của mỗi gia đình (trồng 4 sào) đạt 11 triệu đồng, trừ chi phí còn 7,5
triệu tương đương 3,8 tấn thóc. Vụ xuân năm 2011 nhiều hộ gia đình trồng
đạt năng suất bình quân 2,1 tấn/sào, với 2 sào dưa chuột bao tử tổng thu nhập
đạt 31 triệu đồng tương đương 4 tấn thóc cùng thời điểm.
Qua các lớp tập huấn do Hội nông dân mở và kinh nghiệm thực tế
người dân đúc kết được quy trình hợp lý cho năng suất cao. Theo họ cây dưa
chuột nói chung, dưa bao tử nói riêng rất thích hợp chất đất thịt nhẹ, chủ động
trong tưới tiêu hợp lý, sử dụng chủ yếu phân hữu cơ, phân bón hoá học giữ tỷ
lệ hợp lý, việc phòng trừ sâu bệnh hại cây phải lấy phương châm phòng là
chính, kỹ thuật chăm sóc cũng rất quan trọng. Đặc biệt trong thời kỳ cây con
chỉ bón thúc khi cây bắt đầu ra hoa, kịp thời điều chỉnh dinh dưỡng hợp lý từ
khi trồng đến khi thu hoạch [15]. .
1.2.3. Kinh nghiệm nâng cao HQKT sản xuất dưa chuột bao tử ở huyện
Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Nhiều năm gần đây, vụ đông đã trở thành vụ sản xuất chính thứ 3, có
ý nghĩa quan trọng đối với nhiều nông dân xã Thanh Tân (Kiến Xương).
Hàng năm, nhờ tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, luân canh tăng vụ đã
góp phần làm nên những cánh đồng có giá trị hơn 100 triệu đồng/ha/năm
cho người dân nơi đây. Nhiều hộ xã viên đã mạnh dạn chuyển đổi từ các

13

loại cây trồng truyền thống sang trồng dưa chuột bao tử xuất khẩu cho hiệu
quả kinh tế cao.


14

tuân thủ thời gian cách ly gây ngộ độc cấp tính cho người ăn. Sử dụng phân
bón hữu cơ không an toàn, sử dụng chất thải chăn nuôi chưa qua xử lý làm
cho cây bị ô nhiễm sinh học… Và hơn nữa sản xuất an toàn, nông dân khỏe
hơn bởi không phải tiếp xúc với thuốc trừ sâu hóa học.
Khi mới tiếp nhận dự án, bà con nông dân ở đây mừng ít, lo nhiều bởi
đồng đất Đông Sơn khó khăn trong khi đó người dân chưa có kinh nghiệm gì
về trồng cây dưa chuột bao tử, việc đầu tư giàn, phân bón lại tốn kém. Nhưng
sau đó thì tất cả 125 hộ nông dân tham gia dự án ai ai cũng phấn khởi bởi cây
dưa chuột bao tử phù hợp với đất đai, khí hậu của Đông Sơn, cây phát triển
rất tốt cho năng suất cao. Mặc dù đầu tư ban đầu so với một số cây trồng như
ngô, đậu tương… cao hơn nhưng hiệu quả kinh tế lại gấp 2,5 - 3 lần [16].
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng và nâng cao HQKT sản xuất cây dưa chuột
bao tử
1.3.1. Quy mô diện tích
Quy mô diện tích là yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc sản xuất và tiêu thụ
dưa chuột bao tử tại địa phương. Có thể nhận thấy rằng những hộ có quy mô
diện tích lớn sẽ có sự đầu tư chăm sóc các khâu khác trong quá trình sản xuất
đồng bộ hơn, giảm được tỉ lệ chi phí trong quá trình sản xuất do đó nâng cao
HQKT cho gia đình.
1.3.2. Giống
Giống cũng là yếu tố có vai trò rất quan trọng. Giống tốt sẽ cho năng
suất cao, chất lượng đảm bảo. Hiện nay trên địa bàn xã trồng phổ biến giống
dưa ANaXô. Giống sinh trưởng và phát triển nhanh, chống chịu được với
những bệnh thường xảy ra đối với dưa chuột đó là bệnh sương mai và đốm
vàng lá từ đó giảm được chi phí sản xuất do phải phun thuốc bảo vệ thực vật.
Thời gian thu hoạch kéo dài, giảm tính thời vụ. Năng suất trung bình đạt 1,5 -
1,6 tấn/sào, cao hơn từ 10 - 15% so với các giống cũ như ARax. Hơn nữa kích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status