Khóa luận này được thực hiện và hoàn thành trong quá trình thực tập
tại xã Vinh Hải, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đó là sự kết tinh
những kiến thức và kinh nghiệm thực tế mà bản thân tôi đã tích lũy được
cùng với sự giúp đỡ của gia đình, thầy cô và bạn bè, những người che chở,
nuôi dưỡng tôi trưởng thành, cho tôi biết điều hay lẽ phải và mang đến cho
tôi những hành trang kiến thức để bước vào đời.
Đầu tiên tôi xin gửi lời tri ân đến thầy giáo Hồ Lê Phi Khanh, người
thầy đã tận tâm chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp. Xin cảm ơn cán bộ và nhân dân xã Vinh Hải, huyện
Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho tôi
những số liệu cũng như những kinh nghiệm thực tế quý báu, cảm ơn quý thầy
cô giáo trường Đại học Nông Lâm Huế đã dày công dìu dắt và chỉ bảo tôi
trong suốt thời gian học tập tại trường. Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn tới
gia đình, bạn bè và những người đã giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian
qua.
Trong quá trình thực tập mặc dù bản thân đã có nhiều nổ lực để hoàn
thành khóa luận đảm bảo nội dung khoa học, phản ánh đúng thực tế tại địa
phương. Song do khả năng, kiến thức, và thời gian có hạn đề tài không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi mong nhận được sự thông cảm và sự
góp ý chân thành từ phía thầy cô và bạn bè để khóa luận hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn!
Huế, tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Hà My
1
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam thực hiện trong hai thập kỷ vừa
qua đặc trưng bởi những chính sách cải cách kinh tế, mở cửa nền kinh tế và
chuyển sự vận hành các quan hệ kinh tế theo hướng thị trường. Tăng trưởng
của một quá trình, một mặt di cư lao động thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội, góp phần phân bổ lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế lao động, giải
quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, là một bộ phận của chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội bền vững. Kinh tế phát triển, quá trình đô thị hoá, công nghiệp
hoá, chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế diễn ra nhanh chóng cùng với chính sách
mở cửa, hội nhập dẫn đến việc di cư nội địa và ra nước ngoài tăng lên. Tuy
nhiên, chính việc di cư từ nông thôn lên thành thị lại gây nên áp lực dân sồ ở
thành thị, hạn chế sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Mặt khác nó còn dẫn
đến các vấn đề xã hội như thiếu việc làm, ánh hưởng đến trật tự trị an Bên
cạnh đó, di cư quá mực còn gây hiện tương thiếu lao động ở nông thôn(nơi
đi), lao động di cư cũng là nhóm người dễ bị tổn thương và bị lạm dụng như
điều kiện sống không đảm bảo, bị bóc lột sức lao động, buôn lán, lừa đảo, bị
ảnh hưởng của tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, lây nhiễm HIV/AIDS Do
đó cần phải xác định một tỷ lệ di cư lao động phù hợp cho mỗi vùng. Để hiểu
rỏ hơn về thực trang và các yếu tổ ảnh hưởng đến di cư trên địa bàn nên tôi đã
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động
trên địa bàn xã Vinh Hải - huyện Phú Lộc - tỉnh Thừa Thiên Huế” .
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng di cư lao động từ nông thôn ra thành thị tại điểm
nghiên cứu
Xác định các yếu tố đóng vai trò tích cực thúc đẩy vấn đề di cư lao động
trên địa bàn nghiên cứu.
Xác định các yếu tố đóng vai trò tiêu cực ảnh hưởng đến vấn đề di cư lao
động trên địa bàn nghiên cứu
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm di cư lao động
Thực tế hiện đang tồn tại nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về lao
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động nông thôn- thành thị
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề di cư lao động từ nông thôn ra
thành thị, tuy nhiên các yếu tố này có thể được phân thành 2 nhóm là yếu tố
tích cực ( Pull factors) và yếu tố tiêu cực ( Push factors). Theo Muhammad
(2004) trong nghiên cứu về “Rural-urban migration” đã chỉ ra rằng, các nhóm
yếu tố tích cực (Pull factors) ảnh hưởng đến di cư lao động từ nông thôn ra
thành thị bao gồm: cơ hội nghề nghiệp tốt hơn, tiền lương cao hơn, có cơ hội
thăng tiến, môi trường xã hội, chất lượng sống cao hơn, tương lai hơn cho con
cái của những lao động di cư và được đào tạo nghề tại những nơi làm việc.
Liên quan đến nhân tố tiêu cực (Push factors) bao gồm: số nhân khẩu trong
gia đình, mức thu nhập bình quân của hộ, không tiếp cận được các dịch vụ cơ
bản, thiếu cơ hội phát triển kinh tế của gia đình [21]. Tuy nhiên cũng phải
thấy rằng, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến di cư lao động cần xem
xét cụ thể bối cảnh của từng quốc gia và khu vực. Xuất phát từ lí do đó, việc
xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động nông thôn làm cơ sở nghiên
cứu cho đề tài này xuất phát từ thực tế của vùng nông thôn Việt Nam. Như đã
đề cập, trọng tâm của nghiên cứu này là việc xem xét yếu tố tác động đến quá
trình di cư lao động từ nông thôn ra thành thị. Mối liên kết hai khu vực ở trên,
về mặt bản chất có thể cho phép đưa ra các yếu tố tác động đến dòng chuyển
dịch lao động này. Sự thay đổi của các yếu tố bao hàm trong sơ đồ cũng như
sự thay đổi về mức độ liên kết giữa chúng đều có thể dẫn việc chuyển dịch
lao động giữa hai khu vực [16]. Ví dụ, sự phát triển của khu vực phi nông
nghiệp sẽ làm gia tăng nhu cầu lao động cho khu vực này. Năng suất lao động
tăng cao trong khu vực phi nông nghiệp sẽ tăng mức hấp dẫn về mặt thu nhập
đối với lao động nông nghiệp chuyển sang nhưng cũng có thể làm hạn chế lao
động di chuyển do nhu cầu lao động phi nông nghiệp ít đi (giả sử rằng nhu
cầu sử dụng sản phẩm phi nông nghiệp là không đổi họăc thay đổi chậm hơn
với tốc độ thay đổi của năng suất). Các hạn chế trong khu vực sản xuất nông
5
nghiệp (đất đai, năng suất cây trồng vật nuôi…) sẽ làm cho lao động nông
6
Cũng như mô hình về mối liên kết giữa hai khu vực, một điểm khá quan
trọng trong quan hệ “kéo” và “đẩy” là sự giao thoa giữa hai nhóm yếu tố.
Thực tế, có những yếu tố khó có thể ghép vào quan hệ “kéo” hay “đẩy”. Bởi
vì, ở một quy mô nhất định nó là yếu tố "kéo", nhưng ở một quy mô khác nó
lại là yếu tố “đẩy”.
2.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu di cư lao động nông thôn -
thành thị
2.2.1 Tình hình về số lượng lao động và việc làm ở nông thôn
Cho đến năm 2004, dân số của Việt Nam đã đạt tới mức 82 triệu dân
trong đó dân số nông thôn là 60,4 triệu người. Vì vậy về cơ bản xã hội Việt
Nam vẫn là một xã hội nông thôn với dân số nông thôn chiếm 73,68%. Cơ
cấu dân số nông thôn của Việt Nam khá trẻ nên lực lượng lao động nông thôn
tiếp tục tăng với quy mô khá lớn khoảng 0,5 triệu người/năm trong giai đoạn
1996-2004 và hậu quả dẫn đến là áp lực việc làm trong nông thôn ngày càng
lớn [14] [15]. Số liệu cơ bản về dân số và số lượng lao động nông thôn được
trình bày ở đồ thị 1.
Đồ thị 1: Dân số và lao động nông thôn cả nước
(Nguồn: Niên giám thống kê 2000,2004; Số liệu thống kê lao động-việc làm ở
Việt Nam)
Đồ thị cho thấy, về giá trị tuyệt đối, dân số nông thôn thay đổi rất ít sau
gần 10 năm, tăng nhẹ từ 57.7 triệu lên 60.4 triệu năm 2004. Tỷ trọng dân số
nông thôn trong tổng dân số có xu hướng giảm dần, tuy nhiên mức độ giảm
cũng không lớn (trên 5%). Nguyên nhân chủ yếu của việc giảm tỷ lệ dân nông
7
thôn là do quá trình đô thị hóa làm cho các vùng nông thôn thu hẹp lại ở một
mức độ nhất định. Ngoài ra, quá trình di cư nông thôn – thành thị cũng góp
phần làm giảm tỷ lệ dân số nông thôn trong tổng dân số mặc dù tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên ở nông thôn cao hơn thành thị. Tuy vậy, tỷ lệ dân số nông thôn từ
người)
Lực lượng lao
động khu vực
nông thôn
(1000 người)
Tỷ lệ Lực lượng
lao động nông
thôn/cả
nước(%)
1996 35187,2 28028,1 79,65
1997 35588,4 27735,3 77,93
1998 36579,5 28367,8 77,55
1999 37783,8 29363,4 77,71
2000 38643,0 29917,0 77,42
2001 39489,8 30301,9 76,73
2002 40716,8 31012,6 76,17
2003 41313,2 31298,7 75,76
2004 42316,0 32681,2 77,23
Tốc độ tăng bình quân
thời kỳ 1996-2000 (%)
2,37 1,64
Tốc độ tăng bình quân
thời kỳ 2000-2004 (%)
2,30 2,23
Tốc độ tăng bình quân
thời kỳ 1996-2004 (%)
2,33 1,94
(Nguồn: Số liệu thống kê lao động - việc làm ở Việt Nam 1996-2004 - Bộ lao
động thương binh và xã hội).
9
1996-2004 và chỉ tăng lên chút ít từ 9,19% lên 11,18% năm 2000 và 12,47%
năm 2004. Trình độ văn hóa phổ biến của lao động nông thôn là ở mức tốt
nghiệp tiểu học và trung học cơ sở. Số người có trình độ này chiếm tới trên
60% lao động ở nông thôn.
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, theo số liệu thống kê lao động và việc
làm của Bộ Lao động – Thương binh xã hội, số lao động không có trình độ
chuyên môn kỹ thuật ở khu vực nông thôn vẫn chiếm một tỷ lệ rất lớn với
85% năm 2004, mặc dù giảm 7% so với năm 1996 (với 92,6%). Theo số liệu
Điều tra Nông nghiệp, Nông thôn của Tổng cục Thống kê năm 2004, số lao
động được đào tạo trình độ cao đăng, đại học và tương đương ở nông thôn chỉ
chiếm 1,5%. Số lao động được đào tạo nghề gồm sơ cấp và công nhân kỹ
thuật là 2,3%, trung cấp kỹ thuật là 2,4%. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng
này có thể là do trong thời gian qua chưa có chuyển biến đáng kể trong đào
tạo ở nông thôn hoặc nhiều lao động đào tạo đã di cư ra khỏi nông thôn hoặc
cả hai [5] [6] [9].
Đồ thị 6: Tỷ trọng lao động có trình độ ở nông thôn
Nguồn : Thống kê lao động-việc làm ở Việt Nam 1996-2004 (Bộ LĐTB-XH)
12
Về mặt thể lực, mặc dầu thể lực và chiều cao của lao động có tăng lên do
chất lượng cuộc sống được nâng cao hơn nhưng lao động nông thôn cũng yếu
hơn so với lao động ở thành thị. Theo Điều tra Y tế quốc gia năm 2000-2001
cho thấy lao động nông thôn bị ốm nhiều hơn lao động thành thị, trong khi lao
động thành thị bình quân có 1,1 lần ốm/năm thì lao động nông thôn là 1,7 lần.
Số ngày ốm không tham gia họat động kinh tế của lao động nông thôn cũng
dài hơn (6,7 ngày so với 4,8 ngày của lao động ở thành thị). Do chất lượng
cuộc sống nông thôn còn thấp hơn ở thành thị cùng với sự gia tăng về chênh
lệch thu nhập, khoảng cách này sẽ có xu hướng ngày một lớn hơn.
2.2 Di cư lao động ở Việt Nam
2.3.1 Di cư lao động giữa các vùng trong cả nước
Thực tế của quá trình di cư ở Việt Nam đã diễn ra từ rất lâu. Trong những
Tỷ lệ
di cư
đi
(%)
Tỷ lệ
di cư
đến
(%)
Tổng số
42329025 41941784 387241 387241
ĐBSH
9562557 9475979 86578 30615 0,91 0,32
Đông Bắc
5050527 5027385 23142 43623 0,46 0,86
Tây Bắc
1363750 1363472 278 6817 0,02 0,5
Bắc Trung bộ
5139119 5083529 55590 3725 1,08 0,07
NamTrung bộ
3493282 3375155 118127 6756 3,38 0,19
Tây Nguyên
2376336 2373232 3104 26230 0,13 1,1
Đông Nam bộ
6280582 6271785 8797 261122 0,14 4,16
ĐBSCL
9062872 8971247 91625 8353 1,01 0,09
Ghi chú: Tính theo số người từ đủ 15 tuổi trở lên.
Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra lao động - việc làm 1-7-2004
Tỷ lệ lao động di cư khỏi vùng Duyên hải nam trung bộ trên tổng số người
đang làm việc của vùng là 3,38% lớn nhất so với các vùng khác trong cả
chuyển đến các đô thị ngày càng lớn hơn và với tốc độ nhanh hơn [3]. Tỷ lệ di
cư từ nông thôn tới các đô thị (theo nơi đến) được trình bày trong đồ thị 8.
15
Đồ thị 8: Di cư tính theo địa bàn của nơi đi
(Nguồn: Điều tra di cư năm 2004)
Đồ thị trên cho thấy nông thôn là nơi xuất phát của đại đa số người di cư.
Tính trên bình diện cả nước, số lao động di cư xuất phát từ nông thôn chiếm
tới 73%. Ở hai thành phố lớn, tỷ lệ dân nông thôn di cư đến là khá cao. Tỷ lệ
dân nông thôn di cư đến vùng Đông bắc khoảng 80%, tương đương với
TPHCM. Rất ngạc nhiên là trong tổng số dân di cư, nữ giới chiếm tỉ lệ cao
hơn với 57%. Điều này đúng cho hầu hết các vùng trong cả nước, riêng vùng
Tây bắc có số nam lao động di cư đi cao hơn với 59%. Bắc trung bộ là nơi có
tỷ lệ nữ lao động di cư đi cao nhất với 63%. Tỷ lệ lao động nữ di cư đi của
các một số vùng trong cả nước được thể hiện trong đồ thị 9.
16
Đồ thị 9: Tỷ lệ lao động di cư theo giới tính
(Nguồn: Tính toán và minh họa từ số liệu điều tra di cư năm 2004)
2.3.3. Lao động nông thôn di cư đến vùng trọng điểm
Cơ cấu lao động di cư từ nông thôn đến một số vùng trọng điểm qua số
liệu của cuộc điều tra di cư năm 2004 được thể hiện trong bảng 3. Yếu tố địa
lý có tác động lớn đến cơ cấu này, tuy nhiên không hoàn toàn đúng đối với tất
cả các vùng. Phần lớn số lượng lao động nông thôn di cư đến Hà nội và vùng
Đông bắc xuất phát từ vùng Đồng Bằng Sông Hồng (77% của tổng người di
cư), trong khi ở thành phố Hồ Chí Minh 31,46% số người di cư đến là từ
Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cơ cấu lao động nông thôn di cư đến vùng Đông
Nam bộ mang những nét đặc trưng riêng, cao nhất là từ Bắc trung bộ với
27,44%, Đồng Bằng Sông Hồng, di cư nội vùng Đông Nam bộ và từ Đồng
Bằng Sông Cửu Long đều có một tỷ lệ tương đương nhau khoảng 19%. Việc
Đông Nam
Bộ
0.35 10.11 19.94 0.12 8.98 8.07
ĐBSCL 0 31.46 18.67 0.24 2.14 10.61
Tổng cộng 100 100 100 100 100 100
( Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra di cư năm 2004)
Phân bố về tỷ lệ lao động di cư theo độ tuổi được trình bày trong bảng 4.
Khoảng tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất là từ 20-30 chiếm trên dưới 50% số lao động
di cư ở hầu hết tất cả các vùng trong nước. Nếu tính số lao động di cư dưới 30
tuổi xuất phát từ nông thôn tính trên địa bàn cả nước thì tỷ lệ này lên đến gần
70%. Trong số lao động nông thôn di cư đi từ Bắc trung bộ có tới trên 25% ở
độ tuổi dưới 20. Tỷ lệ này đối với Đồng Bằng Sông Hồng, Đông bắc và Đông
Nam bộ cũng từ 15-17%. Như vậy, lao động trẻ dễ có xu hướng di cư hơn do
có khả năng thích ứng nhanh ở nơi đến, đồng thời cũng có ít hơn yếu tố “níu
kéo” ở quê nhà so với các lao động lớn tuổi hơn.
18
Bảng 4: Cơ cấu lao động di cư theo độ tuổi
Di cư đi/độ tuổi <20 20-30 30-40 >40 Tổng số
Đồng Bằng Sông Hồng 17.21 49 19.3 15 100
Đông bắc 17.2 48 21.7 13 100
Tây bắc 10.61 36 18.2 35 100
Bắc Trung bộ 25.97 54 14.2 6 100
Nam trung bộ 14.22 55 19.3 12 100
Tây nguyên 12.28 40 31.3 17 100
Đông Nam Bộ 15.36 53 21.3 10 100
( Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra di cư năm 2004 (Bộ LĐ-TBXH))
Phân bố theo độ tuổi của lao động nông thôn di cư theo nơi đến cũng có
nét tương tự như từ giác độ theo nơi đi. Tuy nhiên sự khác biệt giữa các vùng
lao động di cư đến cũng khá rõ nét (Bảng 5 và đồ thị 1). Lao động nông thôn
di cư đến Hà nội và Tây Nguyên có độ tuổi trung bình cao hơn so với các
Frequency
104. Age
Graphs by region
( Nguồn: Điều tra di cư năm 2004 (Bộ LĐ-TBXH))
Cơ cấu lao động di cư theo độ tuổi còn có thể xem xét ở một góc độ khác
là theo giới. Có thể thấy rằng tỷ lệ lao động nữ đều cao hơn lao động nam ở
tất cả các khoảng tuổi. Tuy nhiên, khi độ tuổi càng cao, khoảng cách này càng
thu hẹp dần. Trong khi ở độ tuổi dưới 20, có tới 66% lao động di cư là nữ,
trong khi đó ở độ tuổi trên 40, tỷ lệ giữa nam và nữ gần như cân bằng. Điều
này cần được lưu ý trong hoạch định chính sách để giảm mất cân đối về giới ở
các vùng di cư, nhất là các khu công nghiệp có nhiều ngành nghề thu hút lao
động nữ. Nếu không có các chính sách thích hợp, các vấn đề xã hội khó giải
quyết sẽ phát sinh kèm theo hiện tượng này [9].
20
Đồ thị 11: Cơ cấu lao động di cư theo giới và tuổi
(Nguồn: Tính toán và minh họa từ số liệu điều tra di cư năm 2004 (Bộ LĐ-
TBXH)
Xét về trình độ văn hoá, lao động di cư từ Đồng Bằng Sông Hồng và
vùng Đông bắc có trình độ cao nhất với 35,53% số lao động di cư từ vùng này
có trình độ trung học phổ thông và 5,48% có trình độ cao đẳng hoặc đại học
(Bảng 6). Lao động di cư từ Tây nguyên và Đồng Bằng Sông Cửu Long có
trình độ văn hoá thấp nhất với đa số người di cư có trình độ từ trung học cơ sở
trở xuống. Tây nguyên có 36,7% số lao động di cư đi các vùng khác có trình
độ văn hoá từ tiểu học trở xuống và con số này đối với Đồng Bằng Sông Cửu
Long là gần 30%. Một mặt những con số này phù hợp với trình độ văn hoá
nói chung của các vùng cụ thể, mặt khác điều này cũng sẽ dẫn đến hệ quả là
các lao động nông thôn di cư từ các vùng văn hoá thấp sẽ có xác suất làm các
công việc giản đơn hơn lao động di cư đi từ các vùng có trình độ văn hoá cao
hơn một cách tương đối.
21
88%. thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam bộ cũng là những địa phương có
tỷ lệ lao động di cư đến có trình độ văn hoá thấp tương đối so với các vùng
khác nhưng chủ yếu là những lao động có trình độ trung học cơ sở (tỷ lệ này
ở thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam bộ lần lượt là 56% và 52%). Lao
động di cư từ nông thôn đến Hà nội có trình độ văn hoá cao nhất. Có tới 45%
số lao động di cư đến Hà nội có trình độ trung học phổ thông và 13% số lao
động đến Hà nội có trình độ cao đẳng và đại học.
22
Đồ thị 12: Cơ cấu lao động di cư nông thôn theo trình độ văn hoá ở nơi
đến
(Nguồn: Điều tra di cư năm 2004)
Lý do hay động lực thúc đẩy lao động di cư từ nông thôn đến các đô thị và
các vùng cũng khá khác nhau. Lý do chính để lao động nông thôn tới Hà nội
và thành phố Hồ Chí Minh là để tìm kiếm việc làm. Tỷ lệ số lao động này
theo nơi đến của Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh lần lượt là 47% và 59%.
Trong khi đó lý do chính để lao động di cư đến Đông Nam bộ và Tây nguyên
là do ở các địa phương này có điều kiện sống, điều kiện sản xuất-kinh doanh
tốt hơn. Tỷ lệ số lao động đến Đông Nam bộ và Tây nguyên với lý do này lần
lượt là 48% và 50%. Trong khi đó tỷ lệ này ở Hà nội và thành phố Hồ Chí
Minh là 20% và 27% (là loại lý do đứng thứ hai). Tìm kiếm việc làm cũng là
loại lý do đứng thứ hai tại vùng Đông Nam bộ [18][19].
23
Đồ thị 13: Lý do lao động nông thôn di cư theo vùng
(Nguồn: Điều tra di cư năm 2004)
* Thu nhập của lao động di cư:
Theo điều tra di cư năm 2004 của Tổng cục Thồng kê, thu nhập của lao
động di cư trung bình từ khoảng 957 ngàn đồng/tháng, lao động nam kiếm
được nhiều tiền hơn lao động nữ(1,1 triệu đồng so với 0.8 triệu đồng). Người
Năm 2003 2004 2005 2006 2007
Lao động 488780 500572 512743 516945 520645
(Nguồn: Thống kê TTHuế năm 2008)
Từ bảng trên ta có thể nhận thấy: trước năm 2006 thì hàng năm lực
lượng lao động của Thừa Thiên Huế đều tăng trên 10 nghìn người, từ năm
2006 số lượng này có giảm nhưng vẫn đạt mức 4 nghìn người. Lao động dồi
dào là một lợi thế rất lớn để tăng trưởng kinh tế nhưng nếu nền kinh tế không
tạo ra đủ việc làm thì nó lại trở thành gánh nặng. Huế mặc dù là kinh đô cũ
nhưng mức tăng trưởng kinh tế trong những năm qua không cao, đặc biệt
trong lĩnh vực công nghiệp, lĩnh vực mà có thể tạo ra được nhiều việc làm
nhất. Vì vậy người lao dộng thiếu việc làm, thất nghiệp nơi đây chiếm một tỉ
lệ khá cao.
25