PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lao động việc làm luôn là một trong những vấn đề bức xúc có tính toàn
cầu, là mối quan tâm lớn của nhân loại nói chung và của mỗi quốc gia nói
riêng. Đối với Việt Nam, trong khi nền kinh tế đất nước đang phát triển, thu
nhập quốc dân hàng năm tăng đáng kể, đời sống nhân dân không ngừng được
cải thiện, an ninh chính trị tương đối ổn định thì tình trạng thất nghiệp, thiếu
việc làm lại diễn ra trong phạm vi rộng và có xu hướng ngày càng gia tăng. Ở
khu vực nông thôn, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng diễn ra mạnh
mẽ. Tỷ trọng các ngành nghề phi nông nghiệp đã tăng lên rõ rệt, đóng góp
nhiều vào cải thiện và đa dạng hóa thu nhập của người dân. Sự gia tăng tốc độ
sản xuất hàng hóa công, nông nghiệp và sự thay thế vị trí, vai trò của sức lao
động bằng công nghệ qua các nguồn đầu tư kinh tế lớn đã trở thành nhân tố
cơ bản trong quá trình giải phóng một bộ phận lao động dư thừa ở nông thôn
và khuyến khích họ đi làm ăn xa nhằm tìm kiếm cơ hội việc làm và thu nhập
tốt hơn. Đi liền với thay đổi về cơ cấu kinh tế trong nông thôn là sự biến đổi
về cơ cấu của lực lượng lao động trong đó tập trung vào vấn đề di cư lao động
từ các vùng nông thôn ra thành thị. Di cư lao động có ý nghĩa rất quan trọng
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động theo hướng CNH, HĐH, nhất
là khu vực nông thôn, tham gia vào phân công lao động trong nước và thị
trường lao động thế giới. Do vậy di cư trở thành một vấn đề có tính quy luật
giống như quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các quốc gia khác.
Diễn Phong là một xã thuộc vùng đồng bằng của huyện Diễn Châu, tỉnh
Nghệ An, với hoạt động sản xuất chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi. Nơi đây,
hiện tượng di cư lao động đã diễn ra hết sức mạnh mẽ trong những năm gần
đây. Hiện nay, có trên 75% tổng số hộ trong xã có con em di cư đến các thành
phố lớn và các nước làm việc. Tuy nhiên, lực lượng di cư ở đây chủ yếu là lao
động trẻ (16-25 tuổi), phần lớn chưa qua đào tạo nghề, trình độ văn hóa còn
hạn chế, và trên thực tế cho thấy lực lượng lao động di cư chỉ có trình độ
trung học cơ sở. Di cư là động lực tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội, góp phần phân bổ lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế lao động, giải
đối tượng là những thanh niên di cư lao động trong độ tuổi 16-25 và hộ có lao
động di cư tại xã Diễn Phong, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập để phục vụ cho
nghiên cứu chủ yếu trong khoảng thời gian 3 năm: 2008, 2009, 2010. Số liệu
sơ cấp được thu thập trong năm 2011.
2
PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm liên quan đến lao động di cư
2.1.1 Khái niệm về lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra của cải vật chất
và tinh thần cho xã hội. Trong quá trình lao động con người tiếp xúc với tự nhiên,
với các công cụ sản xuất và các kĩ năng lao động đã tác động vào các đối tượng lao
động để tạo ra các sản phẩm đáp ứng với nhu cầu của bản thân và xã hội.
2.1.2 Khái niệm về nguồn lao động
Nguồn lao động là toàn bộ số người trong độ tuổi lao động, có khả năng
tham gia lao động. Nước ta quy định tuổi lao động là từ đủ 15 tuổi đến đủ 60
tuổi đối với nam và đủ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ.
Lực lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang
tham gia lao động và những người chưa tham gia lao động nhưng có nhu cầu
tham gia lao đông.
Như vậy nguồn lao động bao gồm lực lượng lao động và nguồn lao động
dự trữ là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng
không có nhu cầu tham gia lao động vì nhiều lý do khác nhau như đi học, bộ
đội, nội trợ…[9]
2.1.3 Khái niệm về số lượng lao động và chất lượng lao động
Khái niệm về số lượng lao động
Là toàn bộ những người nằm trong độ tuổi quy định (Nam từ 15 đến 60
tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi), có khả năng tham gia lao động. Ngoài ra do quá
trình sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp, những người không nằm trong
độ tuổi quy định nhưng vẫn có khả năng tham gia lao động thì vẫn được coi là
thay đổi nơi sinh sống của mình trong khoảng thời gian đáng kể và đồng thời
trong quá trình thay đổi đáng kể đó phải vượt qua một ranh giới chính trị. [15]
Năm 1958 Liên Hiệp Quốc đã đưa ra định nghĩa về di cư như sau: “Di
cư là một hình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị
lãnh thổ này tới một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc sự di chuyển với khoảng cách
tối thiểu quy định. Sự di chuyển này diễn ra trong khoảng thời gian di cư xác
định và đặc trưng bởi sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên”. Sự thay đổi nơi
cư trú được thể hiện ở hai đặc điểm sau:
4
Nơi xuất cư hay gọi là nơi đưa dân đi (đầu đi): là địa phương có dân đưa
đến các vùng thuộc các tỉnh khác, hoặc trong phạm vi của tỉnh, người dân đi
từ địa phương này gọi là xuất cư.
Nơi nhập cư hay gọi là nơi đón dân (đầu đến): là địa phương có dân đến
định cư theo chương trình. Người dân định cư ở vùng mới gọi là dân nhập cư.
Định nghĩa của Liên Hiệp Quốc đã loại ra những người đang sống lang
thang, dân du mục và di dân theo kiểu con lắc (đi về hàng ngày).
Theo nhà kinh tế học lao động Harvey B.King: “Di cư thường được hiểu
là chuyển đến một chỗ ở khác cách chỗ ở cũ một khoảng đủ lớn buộc người di
cư phải thay đổi “hộ khẩu thường trú” chuyển đến một thành phố khác, một
tỉnh khác hay một nước khác”.
2.1.5 Khái niệm về di cư lao động
Thực tế, hiện đang tồn tại nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về di cư
lao động đã có những khái niệm tương đối rõ và dễ dàng được chấp thuận,
nhưng cũng còn những khái niệm còn đang gây nhiều tranh cãi. Trong đó di
cư thường được hiểu là: chuyển đến một chỗ ở khác cách chỗ ở cũ một
khoảng cách đủ lớn, buộc người di cư phải thay đổi hộ khẩu thường trú,
chuyển đến một thành phố khác, một tỉnh khác hay một nước khác [10]. Như
vậy theo khái niệm trên, hoạt động thay đổi chỗ ở của con người chỉ được gọi
là di cư khi nó đảm bảo đuợc hai điều kiện sau: Thứ nhất, chỗ ở cũ và chỗ ở
mới phải có một khoảng cách nhất định và đủ lớn. Nó khác với tái định cư, tái
Ở Việt Nam, trong bộ luật lao động được Quốc hội khoá IX thông qua
ngày 23/6/1994 đã khẳng định “ Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu
nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”.
Khái niệm về thất nghiệp:
Không có việc làm (thất nghiệp) đang trở thành vấn đề nóng bỏng gây
sức ép về kinh tế xã hội cho mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam.
Theo quan điểm của ILO định nghĩa thất nghiệp là người không có việc
làm có khả năng làm việc và nhu cầu tìm việc làm. Vậy những người thất
nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có sức lao động chưa có việc
làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.
Theo quy định của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội: “Người thất
nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có nhu cầu tìm
kiếm việc làm nhưng không có việc làm”.
6
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề di cư lao động từ nông thôn ra
thành thị, tuy nhiên các yếu tố này có thể được phân thành 2 nhóm là yếu tố
tích cực và yếu tố tiêu cực. Theo Muhammad (2004) trong nghiên cứu về
“Rural-urban migration” đã chỉ ra rằng, các nhóm yếu tố tích cực ảnh hưởng
đến di cư lao động từ nông thôn ra thành thị bao gồm: cơ hội nghề nghiệp tốt
hơn, tiền lương cao hơn, có cơ hội thăng tiến, môi trường xã hội, chất lượng
sống cao hơn, tương lai hơn cho con cái của những lao động di cư và được
đào tạo nghề tại những nơi làm việc. Liên quan đến nhân tố tiêu cực bao gồm:
số nhân khẩu trong gia đình, mức thu nhập bình quân của hộ, không tiếp cận
được các dịch vụ cơ bản, thiếu cơ hội phát triển kinh tế của gia đình[14]. Tuy
nhiên cũng phải thấy rằng, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến di cư lao
động cần xem xét cụ thể bối cảnh của từng quốc gia và khu vực. Xuất phát từ
lí do đó, việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động nông thôn làm
cơ sở nghiên cứu cho đề tài này xuất phát từ thực tế của vùng nông thôn Việt
Nam. Như đã đề cập, trọng tâm của nghiên cứu này là việc xem xét yếu tố tác
khác nếu họ muốn cải thiện các điều kiện sống của mình.
Quan hệ “kéo” và “đẩy” đưa ra một khuôn khổ tương đối toàn diện cho
việc xác định sự tham gia của hộ nông dân vào các hoạt động phi nông nghiệp.
Tuy nhiên công cụ này chỉ phân tích cùng lao động của hộ. Về mặt thực tiễn, hai
hộ có các điều kiện giống nhau nhưng ở hai vùng địa lý khác nhau có thể có các
phản ứng khác nhau. Nói cách khác, các đặc điểm của vùng cũng ảnh hưởng đến
sự tham gia hoạt động phi nông nghiệp của hộ nông dân. Thêm vào đó còn có
những yếu tố của chính bản thân người lao động. Điều này giải thích tạo sao hai
người có cùng điều kiện như nhau nhưng lại chọn cách phản ứng khác nhau khi
tham gia vào họat động phi nông nghiệp.
Cũng như mô hình về mối liên kết giữa hai khu vực, một điểm khá quan
trọng trong quan hệ “kéo” và “đẩy” là sự giao thoa giữa hai nhóm yếu tố.
Thực tế, có những yếu tố khó có thể ghép vào quan hệ “kéo” hay “đẩy”. Bởi
vì, ở một quy mô nhất định nó là yếu tố "kéo", nhưng ở một quy mô khác nó
lại là yếu tố “đẩy”.
2.3 Vấn đề di cư lao động
2.3.1 Tình hình về số lượng lao động và việc làm ở nông thôn
Cho đến năm 2009, dân số của Việt Nam đã đạt tới mức hơn 86 triệu dân
trong đó dân số nông thôn là 60,554 triệu người. Vì vậy về cơ bản xã hội Việt
8
Nam vẫn là một xã hội nông thôn với dân số nông thôn chiếm 70,4%. Cơ cấu
dân số nông thôn của Việt Nam khá trẻ nên lực lượng lao động nông thôn tiếp
tục tăng với quy mô khá lớn khoảng 0,5-0,6 triệu người/năm trong giai đoạn
2004-2009 và hậu quả dẫn đến là áp lực việc làm trong nông thôn ngày càng
lớn[21]. Số liệu cơ bản về dân số và số lượng lao động nông thôn được trình
bày ở đồ thị 1.
Đồ thị 1: Tình hình dân số và lao động nông thôn cả nước qua các năm
Nguồn: Niên giám thống kê 2009; Số liệu thống kê lao động-việc làm ở Việt Nam
Đồ thị 1 cho thấy, về giá trị tuyệt đối, dân số nông thôn thay đổi rất ít sau
hơn 5 năm, tăng nhẹ từ 59,831 triệu (2004) lên 60,544 triệu năm 2009. Tỷ
biến chuyển cả về số lượng chung của cả nước và giữa khu vực nông thôn và
thành thị. Những biến chuyển này được thể hiện ở bảng 1 và biểu đồ 2:
10
Bảng 1: Lực lượng lao động Việt Nam thời kỳ 2004-2009
ĐVT: 1000
người
Năm Lực lượng
lao động cả
nước
Lực lượng lao
động khu vực
nông thôn
Lực lượng lao
động khu vực
thành thị
2004 41578,8 31766,1 9812,7
2005 42774,9 32085,8 10689,1
2006 43980,3 3280,5 11170,8
2007 45208,0 34059,3 11148,7
2008 46460,8 34453,2 12007,6
2009 47743,6 35119,1 12624,1
Tốc độ tăng bình quân
thời kỳ 2004-2007 (%)
2,62 1,05 1,06
Tốc độ tăng bình quân
thời kỳ 2007-2009 (%)
1,82 1,78 1,98
Nguồn: Số liệu thống kê lao động - việc làm ở Việt Nam 2004-2009,Bộ LĐTB-XH
Lực lượng lao động của Việt Nam năm 2009 ở mức 47,7436 triệu người
trong đó lực lượng lao động nông thôn là 35,1191 triệu người, chiếm 73,56%.
này thay đổi không đáng kể tính từ năm 2004 trở lại đây và nó thể hiện rõ ở
biểu đồ 3:
Biểu đồ 3: Tỷ trọng lao động có trình độ ở nông thôn
Nguồn : Thống kê lao động-việc làm ở Việt Nam 2004-2009 Bộ LĐTB-XH,2009
12
Biểu đồ 3 cho thấy, trình độ chuyên môn kỹ thuật, theo số liệu thống kê
lao động và việc làm của Bộ LĐTB-XH, số lao động không có trình độ
chuyên môn kỹ thuật ở khu vực nông thôn vẫn chiếm một tỷ lệ rất lớn với
89,01% năm 2004, mặc dù giảm đi 4% so với năm 2009 (với 85%). Tuy tỷ
trọng lao động có trình độ ở nông thôn có chiều hướng tăng lên so với trước
đây nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chất lượng lao động hiện nay. Ở
nông thôn, lao động có trình độ tăng lên chỉ ở với mức độ nhẹ: năm 2004 chỉ
có 10,99% lao động có trình độ chuyên môn, năm 2007 tăng lên 12,75% và
năm 2009 thì có 15% lao động có trình độ. Như vậy, số lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật ở nông thôn đang còn rất thấp chỉ đạt 15% trên tổng số
lao động cả nước. Điều này gây khó khăn cho người lao động ề vấn đề việc
làm, thu nhập và cạnh tranh với lao động các nước khi xuất khẩu lao
động.Theo số liệu Điều tra Nông nghiệp, Nông thôn của Tổng cục Thống kê
năm 2009, số lao động được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học và tương
đương ở nông thôn chỉ chiếm 1,7%. Số lao động được đào tạo nghề gồm sơ
cấp và công nhân kỹ thuật là 2,6%, trung cấp kỹ thuật là 2,7%. So sánh với
mặt bằng chung của cả nước số lao động được đào tạo chiếm 13,4% trong đó
2,6% đã tốt nghiệp sơ cấp, 4,7% trung cấp,1.65 là cao đẳng và 4,2 % là tốt
nghiệp đại học và trên đại học[19]. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này có
thể là do trong thời gian qua chưa có chuyển biến đáng kể trong đào tạo ở
nông thôn hoặc nhiều lao động đào tạo đã di cư ra khỏi nông thôn hoặc cả hai.
Thực tế của quá trình di cư ở Việt Nam đã diễn ra từ rất lâu. Trong
những thập kỷ trước, số lượng người di cư lớn nhất là trong những đợt di cư
có tổ chức của nhà nước đi làm “kinh tế mới”. Thời gian gần đây, đặc biệt là
10 năm trở lại đây, số người di cư tự do tăng lên do tác động của các quan hệ
lao động
đang làm
việc
Số người
làm việc
tại vùng
cư trú
Số
người
di cư đi
Số người
di cư đến
Tỷ lệ
di cư
đi
(%)
Tỷ lệ
di cư
đến
(%)
Tổng số 42329025 41941784 395641 395641
ĐBSH 9562557 9475979 88378 31815 0,81 0,32
Đông Bắc 5050527 5027385 23042 43923 0,56 0,86
Tây Bắc 1363750 1363472 378 6917 0,02 0,50
Bắc Trung bộ 5139119 5083529 56190 3725 1,08 0,07
NamTrung bộ 3493282 3375155 118427 6856 3,21 0,19
Tây Nguyên 2376336 2373232 4204 29230 0,13 1,10
Đông Nam bộ 6280582 6271785 8397 263522 0,14 3,76
ĐBSCL 9062872 8971247 96625 9653 1,00 0,08
Theo điều tra lao động và việc làm của Tổng Cục Thống kê năm 2009
tích di cư lao động từ nông thôn ra thành thị. Vậy để rõ hơn thì tôi đã tìm hiểu tình
hình lao động ở nông thôn ra thành thị nước ta trong những năm gần đây.
2.3.3. Di cư lao động từ nông thôn ra thành thị
Quá trình di cư nông thôn – thành thị diễn ra mạnh mẽ trong khoảng 10
năm trở lại đây. Tốc độ phát triển kinh tế, tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa
ngày càng cao một mặt biến một số vùng nông thôn trở thành thành thị, mặt
khác khu vực đô thị ngày càng mở rộng cũng tạo ra khả năng số người di chuyển
đến các đô thị ngày càng lớn hơn và với tốc độ nhanh hơn[2]. Tỷ lệ di cư từ
nông thôn tới các đô thị (theo nơi đến) được trình bày trong biểu đồ 5:
Biểu đồ 5: Tỷ lệ (%) số lao động di cư phân theo địa bàn của nơi đi
và nơi đến, 2009
Nguồn: Điều tra di cư năm 2009, Tổng Cục Thống Kê
16
Biểu đồ 5 cho thấy, nông thôn là nơi xuất phát của đại đa số người lao
động di cư. Tính trên bình diện cả nước, số lao động di cư xuất phát từ nông
thôn chiếm tới 72,91%. Ở hai thành phố lớn và các vùng, tỷ lệ dân nông thôn
di cư đến là khá cao. Tỷ lệ dân nông thôn di cư đến vùng Đông Bắc khoảng
81.69%, tương đương với TPHCM là 80,10% và Tây nguyên : 80%. Xét theo
địa bàn nơi đi thì ở khu vực nông thôn là nơi có lao động di cư nhiều nhất và tiếp
theo là các thành phố loại 2. Tỷ lệ này cao nhất ở Hà Nội: khi số lao động di cư
từ các thành phố loại 2 chiếm 19,58% tổng số lao động di cư tới Hà Nội. Tỷ lệ
này cũng tương đối cao ở khu vực Đông Nam Bộ khi chiếm 18,92% số lao động
di cư đến đây. Trong khi tính trung bình lao động nông thôn di cư chiếm tới
72,91%, di cư từ thành phố loại 2 là 12,36% và từ thành phố loại 1 là: 9,82% thì
số dân di cư từ thị trấn chỉ chiếm ở mức 4,91% tổng số lao động di cư.
Như vậy, quá trình di cư ở Việt Nam đã diễn ra rất nhiều trong những
năm trước đây. Đặc biệt là đối với người lao động ở khu vực nông thôn thì di
cư ra các thành phố lớn và các khu vực có tiềm năng phát triển là một xu
hướng. Chính vì vậy mà tỉnh Nghệ an cũng là một trong các tỉnh có số lượng
lao động nông thôn lớn và di cư nhiều.
điện tử, một số nghề lại quá ít lao động đã qua đào tạo như chế biến nông,
lâm sản, nuôi trồng thủy sản, vật liệu xây dựng. Vì vậy, có thể nói trình độ
chuyên môn và nghề nghiệp của lực lượng lao động Nghệ An đang còn bất
cập, chưa đáp ứng được đòi hỏi đặt ra của thị trường lao động.
Xác định rõ giải quyết việc làm cho lao động là vấn đề bức xúc, Nghệ An đã
triển khai nhiều chính sách, giải pháp để tạo thêm nhiều chỗ làm việc mới, hỗ
trợ và khuyến khích người lao động học nghề, tự tạo việc làm, xuất khẩu lao
động (XKLĐ) như: Trích lập Quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm địa phương từ
ngân sách tỉnh với mức 2,5-3 tỷ đồng/năm; thành lập mới và đầu tư nâng cấp
hệ thống trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề, hướng nghiệp tại các vùng
và các huyện, thành thị, nâng cao năng lực các cơ sở giới thiệu việc làm; ban
hành chính sách khuyến khích xuất khẩu lao động, hỗ trợ học nghề, chính
sách khuyến khích thu hút và đào tạo nghề cho lao động trong các khu công
nghiệp của tỉnh; liên kết các chương trình đầu tư phát triển kinh tế với giải
quyết việc làm, thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Ngoài ra,
tỉnh cũng chú trọng đến các biện pháp, chính sách nhằm duy trì và mở rộng
các làng nghề tiểu thủ công nghiệp, các tổng đội thanh niên xung phong xây
dựng kinh tế và các trang trại nông- lâm- ngư trên địa bàn để tạo nhiều việc
làm tại chỗ cho người lao động Với những nỗ lực đó, từ năm 2006 – 2008,
toàn tỉnh đã tạo việc làm mới cho hơn 97 nghìn lao động, giảm tỷ lệ lao động
18
thất nghiệp ở khu vực thành thị xuống còn 3,55%, nâng tỷ lệ sử dụng thời
gian lao động ở khu vực nông thôn lên 82%. Tuy nhiên, đứng trước tác động
của suy thoái kinh tế toàn cầu, công tác giải quyết việc làm ở Nghệ An vẫn
còn nhiều khó khăn: Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn diễn ra khá
căng thẳng. Tính đến cuối tháng 4/2009, Nghệ An có khoảng 10 nghìn lao
động mất việc làm. Khả năng đầu tư phát triển tạo việc làm tại chỗ mất cân
đối so với tốc độ gia tăng lực lượng lao động hàng năm. Chuyển dịch cơ cấu
lao động theo vùng và ngành diễn ra chậm, hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho
người lao động để tạo việc làm mới hoặc tự tạo việc làm còn hạn chế, nhất là
Điều thấy rõ ở đây, tỷ lệ lao động thất nghiệp trong toàn tỉnh có sự giảm dần
qua các năm. Năm 2006 cả tỉnh có 6,3% lao động trong độ tuổi làm việc
nhưng lại thất nghiệp và đã giảm xuống 5,9% vào năm 2007. Đặc biệt năm
2010 tính sơ bộ cả tỉnh tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 5%. Quy mô
dân số và nguồn lao động lớn cũng là áp lực đối với vấn đề giải quyết việc
làm. Thêm vào đó, địa bàn rộng lớn, cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật ở vùng
nông thôn, miền núi còn thấp kém, việc lãnh đạo, chỉ đạo chương trình việc
làm chưa được các ngành, các cấp quan tâm đúng mức,…nguồn lực đầu tư
cho chương trình việc làm chưa đáp ứng được yêu cầu. Khi so sánh số liệu
của Nghệ An với số liệu chung của cả nước thì tỷ lệ tăng lao động và thất
nghiệp lớn hơn. Điều này dẫn đến một điều tất yếu họ sẽ di cư đến nơi khác
để tìm việc làm. Trong thời gian tới, dân số và lao động Nghệ An tiếp tục tăng
ổn định, hằng năm có hơn 30 nghìn người được bổ sung vào lực lượng lao
động. Dự báo mỗi năm số lao động cần giải quyết việc làm lên tới 3,4 vạn
người và một bộ phận lao động nông nghiệp bị thu hồi đất, lao động thất
nghiệp ở khu vực thành thị có nhu cầu về việc làm đã tạo sức ép lớn cho công
tác giải quyết việc làm. Trước tình hình đó, trong kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội nói chung, tỉnh đã đưa ra các chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể nhằm đẩy mạnh
công tác giải quyết việc làm, đó là phấn đấu bình quân mỗi năm giải quyết
việc làm cho 32-35 nghìn người, trong đó xuất khẩu lao động 8 -9 nghìn
người, giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị xuống còn 0,3%, nâng tỷ lệ sử
dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn lên 85%, nâng tỷ lệ lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật lên 40%, trong đó qua đào tạo nghề là 27%,
giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn 61%, nâng tỷ lệ lao động trong
ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ lên 39% vào năm 2011[18].
Lực lượng lao động toàn tỉnh tăng lên nhưng tỷ lệ thất nghiệp lại giảm đi
qua các năm như vậy là do tỉnh có những chính sách phù hợp để tạo việc việc
làm cho người lao động. Việc đào tạo và giải quyết việc làm cho người lao
động của tỉnh được thể hiện ở bảng 5:
20
lên 85%. Đến cuối năm 2009, toàn tỉnh đào tạo nghề cho 6,6 vạn người, trong
đó, đào tạo cao đẳng nghề 2.310 người, trung cấp nghề 8.730 người, nâng tỷ
lệ lao động qua đào tạo nghề lên 26,8% so với tổng nguồn lao động xã hội của
tỉnh. Tập trung các biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sản
xuất kinh doanh,… vốn vay giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, khuyến
21
khích lao động đi làm việc tại các khu công nghiệp trong nước và chương
trình 135/CP hỗ trợ xây dựng cơ ở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn. Sáu
tháng đầu năm 2009, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 16.400 người, trong đó tạo
việc làm mới tập trung 4500 người. Tỷ lệ thất nghiệp lao động khu vực thành
thị đến tháng 6/2009 là 3,18%. Cơ cấu lao động trong công nghiệp, xây dựng
15,3%; nông lâm, ngư nghiệp 64%; dịch vụ 20,7%. [18]
2.4.2 Di cư lao động ra ngoại tỉnh của Nghệ An trong những năm qua
Nằm ở dãy đất miền Trung, nơi có điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt
nhất cả nước. Vì vậy rất khó để có thể thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào
đây nên ít có các khu công nghiệp lớn. Sản xuất nông nghiệp cũng không
được thiên nhiên ưu đãi, cho nên giải pháp của người lao động trong vùng nói
chung và của người lao động Nghệ An nói riêng là di cư đến những tỉnh
thành có sự phát triển mạnh mẽ về công nghiệp như thành phố Hồ Chí Minh,
Hà Nội, tỉnh Bình Dương, Đồng Nai để tìm kiếm việc làm.
Tuy không có số liệu chính thức thống kê về số lượng lao động Nghệ an
di cư ra ngoại tỉnh để làm việc. Nhưng theo một số cán bộ của Sở LĐTB-XH
của tỉnh thì hiện tại có khoảng 280.000-30.000 lao động đang làm việc ngoại
tỉnh, con số này chiếm 17% lao động của tỉnh. Cũng như thực trạng chung
của cả nước lao động di cư của Nghệ An chủ yếu vẫn là lao động giản đơn.
Họ đến các thành phố lớn để làm công nhân cho các nhà máy may mặc, giày
da, công ty xây dựng Khác biệt với nhiều địa phương khác đó là lao động di
cư của Nghệ An đa phần là lao động trẻ (16- 25tuổi), những người lớn chỉ di
cư khi họ có nghề nghiệp nhất định.
Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một giải pháp quan trọng trong quá trình
3.1 Nội dung nghiên cứu
- Tình hình kinh tế xã hội của xã Diễn Phong
+ Điều kiện tự nhiên của xã Diễn Phong
+ Điều kiện kinh tế xã hội của xã Diễn Phong
- Thực trạng về di cư lao động tại xã Diễn Phong
+ Tình hình di cư lao động trên địa bàn nghiên cứu qua các năm
+ Các địa bàn di cư đến của lao động địa phương
+ Nghề nghiệp của lao động
+ Đặc điểm của lao động di cư trên địa bàn nghiên cứu
- Các yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động xã Diễn Phong
+ Các yếu tố tích cực dẫn đến di cư lao động
+ Các yếu tố tiêu cực dẫn đến di cư lao
- Tác động của di cư lao động tới cộng đồng nơi đi
+ Tác động đến bản thân và gia đình của lao động
+Tác động đến cộng đồng làng xã
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả của lao động thanh niên di cư
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu:
Địa điểm được chọn là xã Diễn Phong, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Diễn Phong là 1 xã thuộc vùng đồng bằng và thuần nông. Hiện tượng di cư trong
những năm gần đây diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là các thanh niên di cư đi làm ăn xa.
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu
3.2.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Cấp huyện: Các báo cáo gồm: các chính sách quy định, các báo cáo về
dân số, lao động và cơ cấu lao động, di cư lao động của toàn huyện và các xã
trong các năm gần đây.
Cấp xã: Các báo cáo liên quan đến số lượng di cư lao động qua các năm,
các báo cáo liên quan đến các yếu tố như: sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng
thủy sản, chăn nuôi, các hoạt động ngành nghề dịch vụ trên địa bàn làm cơ sở
cho việc phân tích. Các báo cáo, thống kê về dân số, lao động cơ cấu lao động.
động. Công cụ: Sử dụng bảng câu hỏi bán cấu trúc kết hợp với nói chuyện.
Nội dung phỏng vấn: tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới thanh niên di cư
lao động, khó khăn và thuận lợi của lao động di cư. Trình độ, việc làm thu
25