Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xuất khẩu lao động của việt nam sang libya - Pdf 18

LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời kỳ mở cửa, hội nhập với nền kinh tế toàn cầu,Việt Nam đã xây dựng
được nhiều mối quan hệ kinh doanh quốc tế. Một trong những mối quan hệ đó là việc hợp
tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, hay còn gọi là xuất khẩu lao
động. Có thể nói, hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam đang ngày càng được mở
rộng đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, đáp ứng một phần nhu cầu
nhân lực của các nước, với đủ các loại hình lao động khác nhau. Đồng thời, hoạt động này,
đã góp phần tích cực vào việc giải quyết việc làm trong nước, giải quyết tình trạng thất
nghiệp, từ đó cải thiện tốt hơn đời sống cho cư dân Việt Nam.
Dịch vụ xuất khẩu lao động trong các doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các hoạt
động hỗ trợ liên quan đến quá trình đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở
nước ngoài của doanh nghiệp. Những hoạt động dịch vụ đó bao gồm: nghiên cứu thị
trường, tìm kiếm đối tác, ký kết hợp đồng; tổ chức tuyển chọn lao động, đào tạo giáo dục
định hướng; tổ chức đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; quản lý và bảo vệ quyền lợi
của lao động ở nước ngoài và đưa lao động về nước khi hết hạn hợp đồng.
Dịch vụ xuất khẩu lao động còn có các đặc điểm cần chú ý như: Thể hiện rõ tính
chất xã hội và nhân văn; là một hoạt động kinh tế đối ngoại; kết hợp hài hòa giữa sự quản lý
vĩ mô của Nhà nước và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức kinh tế thực hiện dịch vụ đưa
người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Hoạt động của các doanh nghiệp làm dịch vụ xuất
khẩu lao động chịu sự tác động mạnh mẽ của các biến động của thị trường sử dụng lao
động. Đặc biệt yếu tố chính trị-pháp luật của quốc gia nhận người xuất khẩu lao động là một
yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu lao động.
Để làm rõ hơn về hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam cũng như làm rõ
những ảnh hưởng của yếu tố Chính trị trong môi trường kinh doanh quốc gia, chúng ta sẽ
đến với quá trình xuất khẩu lao động của Việt Nam sang một đất nước khá giàu có nhờ dầu
mỏ ở Bắc Phi – Libya.

1
MỤC LỤC
Trang:
Lời mở đầu …………………………………………………………………………… 1

nguồn nhân lực của chúng ta.
Bảng 1: Lượng xuất khẩu lao động tại các thị trường
Đơn vị: người
Nhật
Bản
Hàn
Quốc
Đài
Loan
Malaysia Cata UAE Ả Rập
xê út
CH
Séc
Ma
Cao
Khác Tổng
2006 5360 10577 14127 37941 3219 1760 98 423 869 5766 80140
2007 5517 12187 23640 26704 4685 2310 1620 1432 548 5982 84625
2008 6142 18141 31631 7810 10789 2845 2987 1871 1417 11355 94988
Tổng 17019 40905 69398 72455 18693 6915 4705 3726 2834 23103 259753
Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước
Năm 2008 tăng so với năm 2006 là 14848 người (tương đương với 119%), và so với
2007 tăng 10363 người (tương đương với 113%). Do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng kinh tế bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ, nên tốc độ tăng của năm
2008 chậm hơn 5,6% so với tốc độ tăng của năm 2007. Cho đến nay, khủng hoảng kinh tế
vẫn còn đang là một rào cản đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam thì ngành xuất
khẩu lao động vẫn vươn lên để hoàn thành chỉ tiêu năm 2009 xuất khẩu 90.000 người lao
động. Theo báo cáo 8 tháng năm 2009 của Cục quản lý lao động ngoài nước, tổng số lao
động đi xuất khẩu lao động đạt 45.634 người tương đương với 50,2% so với định mức đặt
ra của năm 2009.

chiến lược, bứt phá… Thứ hai, lao động của chúng ta xuất khẩu chủ yếu là lao động thủ
công, tay nghề chưa cao. Theo báo cáo của Cục Quản lý lao động ngoài nước, tỷ lệ lao
động đã qua đào tạo xuất khẩu đi các nước của nước ta chỉ đạt 15%. Tỷ lệ lao động đã qua
đào tạo thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng lao động, nguồn thu cho ngân sách và
cho chính bản thân người lao động.
Bảng 3:Tổng hợp lao động và ngành nghề
Đơn vị: người
Thị trường Ngành nghề
Số LĐXK đã qua đào tạo Tổng
2006 2007 2008
Nhật Bản

Công nghiệp 3950 4158 4577 12685
Vận tải biển 1211 1130 1078 3419
Xây dựng 75 137 57 269
Ngành nghề khác 124 92 430 646
Lao động lành nghề (TDC) 4652 4373 5822 14847
Cộng 5360 5517 6142 17019
Hàn Quốc
Công nghiệp 8205 10462 14219 32886
Thuyền viên tàu cá 1219 1409 2380 5008
Vận tải biển 90 82 68 240
Xây dựng 1031 152 783 1966
Ngành nghề khác 32 82 691 805
Lao động lành nghề (TDC) 1255 1579 8428 11262
Cộng 10577 12187 18141 40905
4
Thị trường Ngành nghề
Số LĐXK đã qua đào tạo Tổng
2006 2007 2008

Xây dựng 59 711 1232 2002
Công nghiệp (SXCT) 22 457 708 1187
Vận tải 17 41 61 119
Giúp việc gia đình 0 452 986 1438
Lao động lành nghề (TDC) 74 955 1293 2322
Cộng 98 1620 2987 4705
CH Séc
Công nghiệp 0 338 1370 1708
Dệt may 0 85 47 132
Xây dựng 0 0 15 15
Dịch vụ 7 0 0 7
Lao động lành nghề (TDC) 0 406 1127 1533
Cộng 7 423 1432 1862
Ma Cao Giúp việc gia đình 0 1169 2474 3643
Dịch vụ 0 836 446 1282
Công nghiệp 0 2 3 5
5
Thị trường Ngành nghề
Số LĐXK đã qua đào tạo Tổng
2006 2007 2008
Khác 7 125 102 234
Lao động lành nghề (TDC) 0 869 548 1417
Cộng 0 2132 3025 5157
Khác Cộng 5766 5982 11355 23103
Tổng cộng 57202 53268 42294 152764
Nguồn: Cục quản lý lao động ngoài nước
Ngành nghề mà chúng ta có sử dụng nhiều lao động xuất khẩu cũng chỉ hạn chế
như ngành xây dựng, vận tải biển, khán hộ công và giúp việc gia đình, thuyền viên tàu cá,
dệt may…; trong khi đó các ngành nghề đòi hỏi tay nghề và trình độ như các ngành công
nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng…thì số lượng lao động của Việt Nam còn khiêm tốn.

một vấn đề nan giải nhiều người thất nghiệp cho nên việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động
cũng là một chính sách giải quyết tạm thời vấn đề đó.
2.1.2. Cơ hội từ thị trường Libya
Libya là một quốc gia nằm ở khu vực Bắc Phi, là một quốc gia khá rộng lớn, là nước
rộng thứ 17 trên thế giới, phía Bắc giáp Địa Trung Hải, phía Tây giáp với Tuynidi và An-giê-
ri, phía Tây nam với Ni-giê, phía nam với Tchad và Xu-dăng, phía đông giáp với Ai Cập. Với
đường bờ biển dài hơn 1770 km, Libya là quốc gia có đường bờ biển dài nhất ở Địa Trung
Hải. Khí hậu đa phần là khô và mang tính chất sa mạc.
Libya là một trong những quốc gia có GDP trên đầu người cao nhất Châu Phi. Là
một quốc gia có số dân rất ít nhưng lại sở hữu lượng tài nguyên khổng lồ, đặc biệt là dầu
mỏ. Nền kinh tế Libya phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn thu từ lĩnh vực dầu khí, trên thực tế
là chiếm toàn bộ nguồn thu từ xuất khẩu và khoảng ¼ GDP. Libya có một hệ thống an sinh
xã hội cao và rộng rãi một cách đáng kinh ngạc, đặc biệt trong lĩnh vực nhà ở và giáo dục.
So sánh với các nước láng giềng xung quanh, Libya có mức nghèo tuyệt đối và tương đối
khá thấp.
Mặc dù có diện tích lớn như vậy, nhưng dân số của Libya chỉ có khoảng 5,8 triệu
người và phân bố chủ yếu ở 2 thành phố lớn, là Tripoli và Benghazi, mật độ dân số thuộc
hàng thấp nhất trên thế giới.
• Từ thực tế trên cho thấy:
- Libia là một quốc gia ít dân nhưng giàu tài nguyên,nhu cầu phát triển còn rất lớn.
- Libya thiếu lao động trầm trọng trong các lĩnh vực như xây dựng cơ bản, dịch vụ tư
gia, lao động nông nghiệp.
- Cái thiếu nay Libya không thể giải quyết được bằng cung lao động trong nước
=> Phải nhập khẩu lao động từ nước ngoài.
2.1.3. Quyết định tham gia.
Việt nam và Libya đã có mối quan hệ truyền thống từ rất lâu, đang ngày càng được
củng cố và phát triển, thông qua quan hệ hữu nghị và hợp tác song phương nhiều mặt ngày
càng được củng cố. Cùng với quan hệ chính trị tốt đẹp, các quan hệ kinh tế cũng không
ngừng được đẩy mạnh. Hai nước đã kí kết nhiều hiệp định quan trọng như: Hiệp định hợp
tác kinh tế, khoa học kỹ thuật (19/02/1976), Hiệp định thương mại(17/10/1983)…

nước ngoài nữa thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày NLĐ thông báo không có nhu cầu,
doanh nghiệp phải hoàn trả cho NLĐ hồ sơ, các khoản chi phí mà NLĐ đã nộp cho doanh
nghiệp…
Doanh nghiệp dịch vụ ký hợp đồng với NLĐ ít nhất 5 ngày trước khi NLĐ xuất cảnh
và chịu trách nhiệm quản lý hồ sơ của NLĐ. Doanh nghiệp chỉ được thu tiền dịch vụ và tiền
môi giới của NLĐ sau khi ký hợp đồng với NLĐ và NLĐ được phía nước ngoài chấp nhận
vào làm việc hoặc cấp visa…
Trường hợp doanh nghiệp đơn phương thanh lý hợp đồng thì biên bản thanh lý hợp
đồng phải có các nội dung: lý do đơn phương thanh lý hợp đồng, việc thực hiện nghĩa vụ
của các bên, các khoản thanh toán giữa doanh nghiệp dịch vụ và người lao động, các nội
dung về bồi thường thiệt hại (nếu có) kèm theo chứng từ chứng minh nội dung thiệt hại…
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày NLĐ xuất cảnh, doanh nghiệp phải báo cáo danh
sách NLĐ làm việc ở nước ngoài với Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước
sở tại. Doanh nghiệp có trách nhiệm cử cán bộ quản lý tại các nước, khu vực doanh nghiệp
đưa nhiều NLĐ sang làm việc hoặc tại thị trường lao động đặc thù theo quy định. Đồng thời,
8
theo dõi, giám sát việc thực hiện Hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và NLĐ,
giải quyết kịp thời các phát sinh vượt quá khả năng tự giải quyết của NLĐ hoặc khi NLĐ yêu
cầu trợ giúp…
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 7/11/2007.
• Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ra quyết định thành lập Ban quản lý
lao động thuộc Đại sứ quán Việt Nam tại Libya.
Ban quản lý lao động thuộc Đại sứ quán Việt Nam tại Libya có nhiệm vụ nghiên cứu,
tìm hiểu thị trường, chính sách và phương thức nhận lao động nước ngoài của Lybia để đề
xuất với Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về chủ
trương, chính sách, giải pháp và mô hình quản lý đưa người lao động Việt Nam sang làm
việc tại Lybia theo hợp đồng. Ngoài ra còn thẩm định các điều kiện và tính khả thi của hợp
đồng tiếp nhận lao động Việt Nam, thẩm định tư cách pháp nhân, giấy phép nhận lao động
nước ngoài của Libya; nghiên cứu, đề xuất những biện pháp thúc đẩy phát triển quan hệ và
triển khai các hoạt động hợp tác với Libya trong lĩnh vực lao động và xã hội.

thuộc 71 ngành nghề; tiền lương cơ bản (mỗi ngày làm việc 8 giờ) có nhiều mức, trong đó
9
cao nhất 1.000 USD/tháng (với kỹ sư), thấp nhất 190 USD/tháng (với lao động phổ thông
làm nghề xây dựng, cơ khí)
Công ty thực hiện các thông báo rộng rãi, với hy vọng mọi lao động có nhu cầu đều
có cơ hội lựa chọn. Lao động cần tuyển đợt này là nam giới, tuổi 23 - 40, đạo đức và sức
khỏe tốt, tốt nghiệp PTCS trở lên; nếu là thợ thì tay nghề bậc 3/7 trở lên; có kinh nghiệm ít
nhất 5 năm (với kỹ sư và thợ), 3 năm (với lao động phổ thông làm nghề xây dựng, cơ khí).
Lao động theo hợp đồng 2 năm, sau đó sẽ được gia hạn. Tổng thu nhập bao gồm
lương cơ bản cộng với thu nhập từ làm thêm giờ và thưởng (nếu có). Ngoài tiền lương cơ
bản hằng tháng (như trên), nếu mỗi lao động có 2 giờ làm thêm mỗi ngày thì thu nhập cao
nhất (kỹ sư) sẽ là 1.375 USD/tháng; thấp nhất (lao động phổ thông làm nghề xây dựng, cơ
khí) 262 USD/tháng. Giờ làm việc cơ bản: 8giờ mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần. Sẽ được làm
thêm giờ, với mức 150% cho mỗi giờ làm thêm ngày thường, 200% cho mỗi giờ làm thêm
ngày nghỉ hằng tuần và ngày lễ theo quy định của Libya.
Người lao động sẽ được cấp vé máy bay lượt đi và về cho 2 năm hoàn thành hợp
đồng lao động. Chủ sử dụng lao động sẽ cung cấp nơi ăn, ở và chăm sóc y tế; riêng kỹ sư
sẽ được ở phòng riêng có điều hoà nhiệt độ. Mỗi lao động được hưởng thêm một tháng
lương cơ bản cho mỗi năm làm việc.Trước khi lên đường, mỗi lao động cần phải nộp từ
1.450 USD đến 1.550 USD (tuỳ theo mức lương cơ bản từng nghề); trong đó 700 USD đặt
cọc một lượt vé máy bay, phí dịch vụ XKLĐ một tháng lương cơ bản cho mỗi năm làm việc
ở nước ngoài theo quy định của Nhà nước. Kỹ sư được ưu tiên, chỉ nộp một tháng lương
cơ bản trước khi bay. Các chi phí trên chưa kể phí làm hộ chiếu, khám sức khoẻ, phí xin
visa theo quy định của Đại sứ quán Libya tại Việt Nam.
Và có rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lao động sang Liby, và có những doanh
nghiệp có thể kể đến:
• Công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại Vinaconex
• Cty Cổ phần Việt Thắng (VTC Corp)
• Chủ tịch Cty Sona: (thuộc Bộ LĐ-TB&XH)
• Công ty Cung ứng nhân lực quốc tế và Thương mại (SONA)

dụng còn cung cấp phương tiện đi lại cho người lao động.
Vì vậy mà năm 2009, Bộ LĐ-TB&XH đã trình Chính phủ phương án đưa lao động
huyện nghèo (thuộc diện hỗ trợ theo QĐ 71 của Thủ tướng Chính phủ) đi làm việc tại thị
trường này. Tiếp đó, cuối tháng 5/2010, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH đã ban hành quyết định
phê duyệt đề án tăng cường quản lý lao động Việt Nam làm việc tại Libya, nhằm ổn định và
phát triển thị trường. Đây được coi là thị trường mà Bộ LĐ-TB&XH triển khai rất thận trọng
khi qua 6 tháng thẩm định, đề án mới được ban hành, các doanh nghiệp triển khai đề án
cũng được chọn lọc kỹ lưỡng; đơn hàng cũng được cán bộ của Cục Quản lý lao động ngoài
nước (QLLĐNN) thẩm định tại Libya, đảm bảo mức lương tối thiểu và các điều kiện lao
động khác mới được tiến hành đưa lao động sang.
Theo đề án này, Việt Nam dự kiến sẽ đưa 5.000 đến 7.000 lao động sang Libya làm
việc mỗi năm, trong đó 80% là lao động có nghề. Các doanh nghiệp tham gia thị trường này
cũng phải cam kết tuyển chọn tối thiểu 30% lao động thuộc các huyện nghèo; đồng thời phải
đảm bảo rất nhiều quyền lợi và điều kiện làm việc cho người lao động, phải đảm bảo những
điều kiện tối thiểu như thời hạn hợp đồng, mức lương cơ bản tối thiểu (sau khi trừ thuế, bảo
hiểm và các khoản đóng góp khác). Đối với lao động phổ thông, mức lương tối thiểu phải
đạt 220USD/tháng; đối với lao động có nghề là 250USD/tháng.
Thực tế với mức chi phí xuất cảnh khoảng 1.600USD, đây được coi là thị trường dành
cho người nghèo bởi mức lương trong hợp đồng vào khoảng 250USD, cộng với làm thêm
giờ, người lao động có mức thu nhập thực tế khoảng 7 triệu đồng/tháng. Ông Nguyễn Xuân
Vui, Tổng giám đốc Công ty Airseco, một trong những doanh nghiệp đang cung ứng lao
động xây dựng cho đối tác là nhà thầu xây dựng tại Libya cho rằng "mức lương này cạnh
tranh hơn hẳn so với các thị trường ở khu vực Trung Đông như Dubai, Qatar, Arập Xêút, đó
là chưa kể chủ sử dụng tại Libya nếu là tập đoàn đa quốc gia thì quyền lợi của người lao
động sẽ luôn được đảm bảo". Vì vậy mà Airseco đã mạnh dạn cam kết với người lao động
nếu có rủi ro như lương không đúng hợp đồng hay không đủ việc làm thì Airseco sẽ chịu
trách nhiệm bồi thường cho người lao động.
2.3 Khó khăn và hậu quả
Hợp tác lao động giữa Việt Nam và Libya được bắt đầu từ những năm 90. Đến nay, Việt
Nam đã đưa được hơn 17.000 lượt lao động sang làm việc tại Libya. Tính tới đầu năm

mô DN quá nhỏ, thiếu kinh nghiệm và năng lực; nhiều hợp đồng tìm qua môi giới chất lượng
không bảo đảm, quyền và lợi ích của NLĐ quá thấp; một số DN khoán trắng cho chi nhánh,
trung tâm, tuyển chọn lao động qua môi giới, liên kết tràn lan; thiếu trách nhiệm trong quản
lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ Hơn nữa, trong khi tại các thị trường truyền
thống của VIỆT NAM, có thể đưa lao động trực tiếp sang làm việc thì tại Libya vẫn phải đưa
người lao động qua một nước trung gian ( các công ty của nước thứ ba trúng thầu tại LIBI),
lao động Việt Nam chủ yếu làm việc tại các công trình xây dựng của các công ty Hàn Quốc,
Brazin, Thổ Nhĩ Kỳ. Điều này gây ra nhiều khó khăn trong thủ tục xuất nhập khẩu, làm tăng
thời gian chờ đợi, tăng chi phí của người lao động, hạn chế tính chủ động cho các công ty
môi giới khi đưa người lao động sang làm việc cũng như trách nhiệm giải quyết các vấn đề
khi có trục trặc xảy ra.
12
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động còn gặp phải một bài toán đau
đầu khác,nguyên nhân xuất phát từ chính phía người lao động đó là cầu lớn, tay nghề lao
động lại thấp. Tuy lao động Việt Nam chủ yếu là lao động phổ thông tham gia chủ yếu vào
các lĩnh vực như khai thác dầu mỏ, xây dựng…nhưng đối với những nghành nghề này cũng
đòi hỏi làm việc theo tổ, đội, dễ quản lý, đảm bảo chất lượng công việc cũng như có những
thông báo, thông tin kịp thời phản hồi tới người lao động, nhưng các doanh nghiệp xuất
khẩu lao động không thể tuyển đủ số lượng đốc công làm việc tại thị trường này.Hơn nữa,
người lao động VIỆT NAM thiếu tính kỉ luật, khả năng ngoại ngữ còn nhiều hạn chế do chỉ
được học tiếng từ 4-6 tháng trước khi sang lao động trực tiếp tại nước ngoài, môi trường
sinh hoạt cũng như hiểu biết về phong tục tập quán của nước bạn rất hạn chế. Hàng năm,
số người lao động Việt nam bị trả về nước do vi pham kỉ luật lao động tương đối cao. Điều
này ảnh hưởng ít nhiều tới uy tín của các doanh nghiệp này, gây khó khăn trong việc tìm
kiếm các hợp đồng khác.
2.3.3. Khó khăn từ phía libya
Libya một lãnh thổ rộng lớn, đứng thứ 4 ở châu Phi và thứ 17 trên thế giới, có trữ
lượng dầu hàng đầu thế giới, khoảng 44,3 tỉ thùng, hoạt động xuất khẩu dầu đứng thứ 3
châu Phi. Mật độ dân số thấp khoảng 3 người trên kilômét vuông (8,5/mi²) ở thành phố lớn,
và chưa tới một người trên kilômét vuông (1,6/mi²) tại những nơi khác. Vì vậy, Lybia là một

ấy nhiều biến động nhất. Hay nói cách khác, ở những giếng dầu, chiến tranh luôn gắn liền
với đồng tiền
Bất ổn chính trị tại Libya làm kinh tế thế giới chao đảo. Giá dầu tăng mạnh khi hàng
ngàn công nhân các hãng dầu khí vội vã sơ tán. Lao động Việt Nam chủ yếu tham gia các
công trình xây dựng như cầu, đường, sân bay, nhà máy điện, trường học, bệnh viện, cảng
biển và các công trình nhà ở dân dụng… Khi bất ổn xảy ra ở khu vực nào thì các công trình,
dự án đó ngừng thi công để đảm bảo an toàn cho người lao động. Lao động làm ở công
trường, dự án bị đốt phá phải chạy nương trú ở sân vận động, trong nhà thờ, trường học.
Số này và một số người lao động ở công ty có chủ là người nước ngoài đã sơ tán về nước
đang gặp khó khăn, thiếu thốn trong việc ăn, ở. Nhìn chung, người lao động phải đối mặt
với cuộc sống bị xáo trộn, mất việc làm, phải về nước khi hợp đồng chưa kết thúc, sợ hãi và
không biết tính mạng sẽ ra sao.
- Xét về khía cạnh các doanh nghiệp XKLĐ thì rủi ro chính trị tại Libya gây ra những
thiệt hại nặng nề về mọi mặt.
Được biết, tới thời điểm này nhiều công ty cho người lao động nợ tiền phí xuất cảnh như
công ty cổ phần Việt Thắng khoảng 4,5 tỷ đồng, công ty SONA khoảng 3 tỷ đồng, công ty cổ
phần Việt Nhật khoảng 5 tỷ đồng…Lý do chính là thời điểm cuối năm 2010 khi việc đưa lao
động sang Libya bình thường trở lại, người lao động lại khó vay vốn ngân hàng để xuất
cảnh. Doanh nghiệp xuất khẩu lao động xử lý linh hoạt bằng cách cho lao động vay và trừ
dần vào lương. Tới nay lao động mới sang chưa có lương thì chắc chắn doanh nghiệp khó
có thể đòi khoản nợ này. Đó là còn chưa kể tới các khoản chi phí khác để đảm bảo an toàn
và đưa lao động rời khỏi Libya về nước như tiền vé máy bay…Thủ tướng Chính phủ đã
cho phép sử dụng Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước để hỗ trợ các doanh nghiệp được
phép đưa lao động đi làm việc ở Libya 50% khoản tiền môi giới doanh nghiệp phải
14
hoàn trả cho người lao động. 50% còn lại các doanh nghiệp sẽ phải tự bỏ tiền túi trả
lao động nếu như không đòi được từ chủ sử dụng hoặc công ty môi giới.
- Người lao động chịu thiệt hại.
Theo thống kê, khoảng 50% lao động Việt Nam sang Libya đã làm việc hơn 1/2 thời
hạn hợp đồng (3 năm). Phần còn lại làm việc dưới 1/2 thời hạn hợp đồng, trong đó phần

các vấn đề phát sinh.
15
2.4.2. Giai đoạn năm 2011 – Khủng hoảng chính trị tại Libya.
Cuộc khủng hoảng chính trị ở Libya nổ ra đã làm các doanh nghiệp xuất khẩu lao
động hết sức lao đao, gặp rất nhiều khó khắn từ công tác sơ tán người lao động khỏi vòng
nguy hiểm đến thanh lý hợp đồng và hỗ trợ người lao động tìm việc mới. Cùng với sự hỗ trợ
và giúp đỡ kịp thời của chính phủ, các doanh nghiệp đã tìm ra được những giải pháp hợp lý
để khắc phục những khó khăn đó. Sau đây chúng ta sẽ phân tích một số doanh nghiệp
trong rất nhiều doanh nghiệp rơi vào hoàn cảnh này.
• Sơ tán, bảo vệ, trợ giúp, đưa lao động về nước an toàn.
Những ngày giữa tháng 2 năm 2011, khi cuộc nội chiến nổ ra tại Libya, sau các cuộc
biểu tình, bạo đồng rồi các cuộc đàn áp đãm máu, đã làm các nhà máy, các công trình phải
tạm dừng hoạt đông, những người lao động nước ngoài phải nghỉ việc và được đưa vào
các hầm trú ẩn để tránh chiến tranh. Trước tình hình đó, các doanh nghiệp có người lao
động đang làm việc tại đây đã có những biện pháp kịp thời, cập nhật tin tức thường xuyên,
phối hợp chặt chẽ với cơ quan nhà nước để sơ tán và bảo vệ an toàn cho người lao động.
Có 10 doanh nghiệp xuất khẩu lao động đã đưa lao động sang làm việc tại Libya
trong các công trình xây dựng. Các doanh nghiệp này đã nhanh chóng có sự chuẩn bị để
ứng phó với tình hình.
+ Công ty Airseco tuy đưa lao động sang Libya không nhiều, chỉ có khoảng 200 lao
động nhưng công ty đã nhanh chóng thực hiện chỉ đạo của cơ quan chức năng, chủ động
làm việc với các đối tác, chủ sử dụng lao động trong việc bảo đảm an toàn cho người lao
động, bảo đảm các quyền lợi và phối hợp giải quyết rủi ro nếu có.
+ Công ty Cung ứng nhân lực quốc tế và thương mại (Sona) là doanh nghiệp đầu
tiên
đã đưa được lao động di tản an toàn. Ngày 23.2, doanh nghiệp này đã đưa được 100 lao
động VN bằng xe buýt tới biên giới Ai Cập và nỗ lực đưa 2.000 lao động còn lại bằng các
phương tiện có thể (xe buýt, tàu thủy…). Doanh nghiệp này đã thuê 2 chuyên cơ tới TP.
Tripoli rồi quá cảnh qua Thái Lan để chở lao động về nước.
+ Vinaconex Mec có gần 3.800 lao động đang làm việc tại Libya, công ty thường

từ Libya trở về theo khoản kinh phí tại Quyết định của Bộ Lao động Thương binh và xã hội,
từ 11-31 triệu đồng (tuỳ theo thời gian lao động tại nước ngoài).
Các khoản kinh phí bao gồm các khoản tiền thanh lý hợp đồng đối với đơn vị sử
dụng lao động, hoàn phí môi giới, bảo hiểm tai nạn của Công ty Bảo hiểm Pijico, mức hỗ trợ
theo cam kết của Tổng công ty Ximăng Việt Nam.
Cũng trong buổi thanh lý hợp đồng lao động, Công ty Vinaconex đã thông báo
thông tin về thị trường lao động xuất khẩu mới là Malaysia, Arập Xêút và đề nghị sẽ hỗ trợ
mức kinh phí cao nhất là 8 triệu đồng cho mỗi lao động đã từng đi xuất khẩu lao động sang
Libya nếu họ tiếp tục tham gia đi xuất khẩu lao động tại các nước này.
Trong hai ngày 18-19/8, Công ty Vinaconex sẽ tổ chức thanh lý hợp đồng với 46
lao động tại huyện Bắc Hà và 15 lao động tại huyện Si Ma Cai.
Tổng mức hỗ trợ của Công ty Vinaconex cho các lao động từ Libya trong đợt này
tại 3 huyện là gần 2,2 tỷ đồng.
17
+ Công ty Sona thì thực hiện chia số lao động đi Libya phải về nước sớm của công
ty làm hai đối tượng để tiến hành giải quyết quyền lợi cho người lao động.
Với những lao động đi được trên 1 năm, công ty sẽ tiến hành thanh lý hợp đồng
theo luật lao động, đối tượng này sau khi thanh lý nếu nhà nước có chính sách hỗ trợ, công
ty sẽ tiến hành mời lao động lên để hỗ trợ theo chế độ của nhà nước. Còn với lao động mới
đi có thời gian chưa được 1 năm thì phải chờ chính sách hỗ trợ của nhà nước thì công ty
mới tiến hành thanh lý được.
Do hầu hết lao động đi Libya phải về nước, đa số đều có mong muốn đi tiếp và công
ty phải tiến hành thanh lý hợp đồng cũ theo luật định rồi mới đưa lao động đi được, công ty
đã đưa được một số lao động sang Ả rập xê út để làm việc ổn định”.
+ Là doanh nghiệp có gần 100 lao động Libya về nước, đa số lao động đi có thời
gian từ 1 năm trở lên nên dù chưa có chính sách hỗ trợ của nhà nước, Công ty Airseco
cũng đã tiến hành thanh lý xong cho số lao động và đưa người lao động sang thị trường
Nga làm việc. Llao động làm việc bên Nga lương và thu nhập dao động từ 275 USD đến
600 USD nếu lao động chịu khó làm thêm. So với các thị trường bình dân thì đây là mức thu
nhập chấp nhận được nên trong số lao động Libya của công ty phải về nước trước hạn đã

ở, làm việc
Về mức lương, ngành may mặc thấp nhất cũng khoảng từ 3,5 - 4 triệu đồng/tháng,
ngành cơ khí chế tạo lương tháng từ 5-6 triệu đồng/tháng.
Lãnh đạo Cục QLLĐNN cũng khẳng định, lợi thế của hơn 10.000 lao động về từ
Libya là đã có tay nghề, có kinh nghiệm làm việc với chủ thầu nước ngoài. Nếu sang
Malaysia số tiền đầu tư thấp, chỉ hơn 20 triệu đồng, lại được doanh nghiệp tạo điều kiện cho
vay. Năm 2010, Việt Nam đưa được 5.000 lao động sang Libya, số này chỉ bằng số lẻ đưa
sang Malaysia. Như vậy, với nhu cầu hiện tại của nước bạn, Việt Nam hoàn toàn có thể giải
quyết được. Bởi vậy, Cục QLLĐNNN cho rằng, việc tiếp tục đưa lao động sang không khó
về mặt tài chính, cơ chế.

Hiện nay, ngoài thị trường Malaysia thì thị trường Đài Loan vẫn được đánh giá có
sức hút với lao động Việt Nam. Các ngành nghề cần lao động phổ thông gồm lắp ráp điện
tử, cơ khí. Thời hạn hợp đồng 2 năm đối với cả lao động phổ thông và lao động có tay
nghề. Đặc biệt, với lao động có tay nghề cao sẽ được hưởng mức lương từ 20,5 - 25,5 triệu
đồng/tháng. Thời gian làm việc 10 giờ/ngày, 4 ngày/tuần. Người lao động được chủ sử dụng
bố trí nơi ăn, ở sau đó trừ vào lương khoảng 1,7 triệu đồng/tháng.
 Việc chủ động có những giải pháp kịp thời trước tình hình bất ổn leo thang ở Libya
đã cho thây các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của Việt Nam đã hoạt động thực
sự và có hiệu quả cao. Trước tình hình rủi ro chính trị, thì việc phối hợp chặt chẽ với
các cơ quan ban nganh của chính phủ là một sự lựa chọn đúng đắn. Điều đó đac
giúp các doanh nghiệp phần nào giảm được thiệt hại cho mình cũng như cho người
lao động.

2.5. Vai trò của chính phủ Việt Nam trong việc giúp đỡ các doanh nghiệp và
người lao động trong hoạt động xuất khẩu sang Libya.
2.5.1. Giai đoạn trước năm 2011.
19
Thị trường xuất khẩu lao động Libya là một thị trương đầy tiềm năng, tuy nhiên đã có
không ít khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc đảm bảo về người lao động trước các

tình hình lao động đang làm việc tại Libya:
+ Do tình hình Libya diễn biến phức tạp, Cục Quản lý lao động ngoài nước
quyết định tạm dừng đưa lao động sang nước này. đối với những lao động đã hoàn tất các
thủ tục, DN thông báo và tạm thời đưa họ trở lại địa phương, đến khi tình hình ổn định mới
tập trung cho xuất cảnh trở lại. Riêng những lao động đã tuyển chọn, DN vẫn có thể duy trì
20
các hoạt động đào tạo nghề, học ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết trước khi đi như
bình thường.
+ Ra công văn yêu cầu các doanh nghiệp đang có lao động làm việc tại Libya
chỉ đạo các cán bộ đại diện tại Libya theo dõi sát tình hình xung đột vũ trang ở đất nước
này, báo cáo kịp thời với Ban Quản lý lao động, Đại sứ quán Việt Nam tại Libya để được
hướng dẫn và hỗ trợ xử lý, nếu lao động Việt Nam bị ảnh hưởng đến tính mạng, công việc,
thu nhập.
+ Cục khuyến cáo người lao động cần tránh những địa điểm có biểu tình,
tránh tụ tập nơi đông người.
+ Tổ chức cuộc họp với đại diện các doanh nghiệp có lao động đang làm việc
tại Libya; Cục Lãnh sự và Vụ Tây Á – Châu Phi (Bộ Ngoại giao) bàn biện pháp xử lý. Cục đã
yêu các doanh nghiệp tiếp tục phối hợp chặt chẽ với đối tác để đảm bảo an toàn và đời
sống cho người lao động.
- Đại sứ quán Việt Nam ở Libya cũng đã nhanh chóng đưa ra các biện
pháp:
+ Họp với đại diện các công ty Việt Nam xuất khẩu lao động tại Libi để thông
báo tình hình, nắm các vấn đề liên quan đến người lao động. Hai bên thường xuyên duy trì
liên lạc.
+ Làm việc với các cơ quan chức năng nước sở tại và lãnh đạo các công ty
sử dụng lao động Việt Nam, đề nghị họ có biện pháp bảo đảm an toàn cho người lao động;
đảm bảo việc cung cấp nhu yếu phẩm và sơ tán người lao động đến nơi an toàn khi cần
thiết.
+ Khi tình hình bất ổn lan rộng ra khắp các khu vực của Libi, Đại sứ quán đã
kịp thời báo cáo các cơ quan chức năng trong nước để chỉ đạo các công ty xuất khẩu lao

tán người lao động Việt Nam tại Libya về nước. Ngay trong buổi họp đầu tiên Thủ tướng
đưa ra 2 yêu cầu: Một là, đảm bảo về tính mạng, tài sản của người lao động Việt Nam tại
Libya. Hai là, khẩn trương đưa người lao động về nước một cách an toàn, trật tự. Đồng thời
chỉ đạo 7 biện pháp để thực hiện các yêu cầu trên.
Thực hiện sự chỉ đạo của chính phủ theo thống báo số 29/TB-VPCP, các cơ quan
ban ngành và các doanh nghiệp đã thực hiện đưa hơn 10000 lao động Việt Nam ở Libya về
nước an toàn.
+ Ban chỉ đạo sơ tán công dân Việt Nam tại Trung Đông và Bắc Phi đã được thành
lập do đồng chí Phạm Gia Khiêm, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao làm
Trưởng ban và đồng chí Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội làm Phó trưởng
ban.
+ Sử dụng Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước để hỗ trợ người lao động về nước với
mức 01 triệu đồng/người. Sau khi người lao động về nước, Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội căn cứ các quy định liên quan và tình hình thực tế để giải quyết hỗ trợ cho người lao
động.
22
+ Ngay sáng ngày 26/2, Ban chỉ đạo đã họp và quyết định cử Đoàn công tác tiền
phương do đồng chí Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đoàn Xuân Hưng làm Trưởng đoàn, đóng
tại Tunisia và đưa cán bộ tăng cường tới 5 địa bàn có người lao động Việt Nam di tản từ
Libya sang, gồm: Tunisia, Ai Cập, Malta, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ để hỗ trợ công dân ta thực
hiện các thủ tục lãnh sự, can thiệp với các nước nhằm tạo điều kiện tốt nhất có thể cho
công dân ta từ Libya sang.
+ Ban chỉ đạo đã làm việc với các tổ chức quốc tế trong đó có Tổ chức Di trú quốc tế
(IOM) và các công ty sử dụng lao động Việt Nam để họ chia sẻ trách nhiệm với Chính phủ
ta trong việc đưa người lao động ta về nước.
+ Tính đến hết ngày 6/3/2011, toàn bộ số lao động Việt Nam làm việc tại Libya đã
được sơ tán khỏi nước này để về Việt Nam, chủ yếu được đưa qua các nước thứ ba bằng
đường hàng không, bao gồm khoảng 2.100 người sang Tuynidi, khoảng 2.500 người sang
Thổ Nhĩ Kỳ, hơn 2.400 người sang Malta, khoảng 900 người sang Ai Cập, 229 người sang
Hy Lạp và 292 người sang Algeria. Khoảng 1.079 người đi bằng tàu biển trực tiếp từ Libya

4.000.000 đồng/người (trong đó: 2.000.000 đồng từ nguồn tài trợ) đối với lao động có thời
gian làm việc từ trên 2 tháng đến đủ 4 tháng; 2.000.000 đồng/người (trong đó: 1.000.000
đồng từ nguồn tài trợ) đối với lao động có thời gian làm việc từ trên 4 tháng đến đủ 6 tháng.
Những người lao động không tham gia đóng góp Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước
cũng được hỗ trợ từ nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân theo mức quy định nêu trên
Người lao động thuộc các đối tượng trên đi làm việc theo “Đề án hỗ trợ các huyện
nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020”
theo Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ được hỗ trợ
thêm 50% so với mức quy định đã nêu. Nguồn kinh phí hỗ trợ từ Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài
nước…
Người lao động vay tín dụng tại Ngân hàng Chính sách xã hội được gia hạn nợ,
khoanh nợ đối với khoản vay tín dụng trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo Quyết định
số 50/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại
Ngân hàng Chính sách xã hội; nếu có nhu cầu được tiếp tục vay vốn để đi làm việc ở nước
ngoài theo quy định hiện hành.
- Đối với doanh nghiệp.
Xét đề nghị của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Chính phủ đã cho phép sử
dụng Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước để hỗ trợ các doanh nghiệp được phép đưa lao động
đi làm việc ở Libya 50% khoản tiền môi giới doanh nghiệp phải hoàn trả cho người lao động.
Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp các chi phí đưa người lao động về nước, trong trường hợp
doanh nghiệp đã chi trực tiếp.
Hỗ trợ các doanh nghiệp được phép đưa lao động đi làm việc ở Libya chi phí đưa
người lao động về nơi cư trú mức 300.000 đồng/người lao động. Trường hợp doanh nghiệp
đã chi phí cao hơn mức trên thì được hỗ trợ theo hóa đơn, chứng từ chi thực tế.
- Hỗ trợ người lao động tìm việc làm và ổn định cuộc sống
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) đã có văn bản số 751/LĐTBXH-VL
đề nghị UBND các địa phương chỉ đạo các cơ quan chức năng, các cấp ở địa phương tổ
chức thống kê, khảo sát nắm khả năng, nhu cầu và nguyện vọng cụ thể của từng người lao
24
động đi làm việc tại Libya phải về nước trước hạn và nhu cầu tuyển lao động của các doanh

nền tảng là sự chỉ đạo kịp thời của chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành,
doanh nghiệp…có thể linh hoạt áp dụng đối với nhiều trường hợp sau này
Phản ứng kịp thời và quyết liệt của Chính phủ đối với tính mạng của người lao động
tại Libya đã làm nức lòng người dân. Thành công của chiến dịch ngoài việc nhờ vào sự hỗ
trợ của Chính phủ Tunisia, các tổ chức quốc tế, đáng kể nhất chính là vào sự tận tâm và nỗ
lực, trong đó có cơ chế giải quyết rủi ro phù hợp, việc chủ động quản lý lao động, nắm bắt
vụ việc, phối hợp với các cơ quan liên quan để kịp thời xử lý, sự theo sát, đánh giá đúng
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status