PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với sự phát triển của các ngành sản xuất trong cả nước, ngành
chăn nuôi cũng phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây, đặc biệt là
ngành chăn nuôi lợn, và nó có vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi nước ta.
Sự hình thành sớm ngành nuôi lợn cùng với trồng lúa nước đã cho chúng ta
khẳng định ngành nuôi lợn có vị trí hàng đầu. Tổng đàn lợn cả nước năm
2010 đạt 27,627 triệu con, tăng 3,47%, sản lượng thịt lợn xuất chuồng ước
tính đạt 2,931 triệu tấn, tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước. Còn tỉnh Thừa
Thiên Huế nói riêng, tổng đàn lợn có 253.231 con (tăng 5,97 % so cùng kỳ)
[5]. Trong đó tổng đàn lợn của xã Vinh Thái, Huyện Phú Vang là 9.300 con,
lợn thịt chiếm 8.656 con và lợn cái là 644 con [1].
Chăn nuôi lợn là hoạt động sản xuất quan trọng, có nhiều đóng góp vào
thu nhập của các nông hộ trên địa bàn xã, vì vậy hiện nay mô hình chăn nuôi
lợn ở xã Vinh Thái đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều hộ gia đình nông
dân. Đây là những sản phẩm có giá trị kinh tế cao và ít bị rủi ro đột biến.
Chăn nuôi lợn có thể khai thác tối ưu các điều kiện tự nhiên, các phế phụ
phẩm trong nông nghiệp và lao động dư thừa nhằm mang lại hiệu quả kinh tế
cao cho người nông dân.
Kể từ khi có chương trình dự án GVC hỗ trợ, tập huấn, kỹ thuật chăn
nuôi lợn thâm canh cho các hộ chăn nuôi thì các tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi đã
được chuyển giao đến cho bà con, nên góp phần vào việc phát triển kinh tế
của người dân nghèo, nhiều nông dân đã thoát nghèo vươn lên hộ khá. Tuy
nhiên, bên cạnh đó trong quá trình chuyển giao do các điều kiện khách quan
cũng như chủ quan thì các tiến bộ kỹ thuật đến với bà con cũng gặp một số
khó khăn. Vì vậy việc nghiên cứu đánh giá các phương pháp chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật thích hợp trong chăn nuôi lợn cho người dân nhất là người dân
nghèo là việc cần thiết. Từ những thực tế đó chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh
giá thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật
trong chăn nuôi lợn ở xã Vinh Thái, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế”.
cuộc sống nông thôn [6].
Tóm lại, chuyển giao TBKT đề cập đến một tiến trình, bằng tiến trình
đó những kỹ thuật cải tiến sẽ được chuyển giao đến những ai mà họ có thể
hưởng lợi hoặc cảm thấy họ có thể hưởng lợi từ những kỹ thuật đó.
2.1.1.3. Mục đích của chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Công tác chuyển giao TBKT nhằm giúp nông thôn có khả năng tự giải
quyết các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, nâng
cao đời sống và dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới thông
qua áp dụng thành công TBKT, bao gồm những kiến thức và kỹ năng quản lý,
3
thông tin và thị trường, các chủ trương chính sách về nông nghiệp và nông
thôn [theo nguồn FAO, 2000].
Chuyển giao TBKT còn giúp nông dân liên kết lại với nhau để phòng
chống thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, phát triển ngành nghề, tiếp xúc thương mại,
giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý điều hành và tổ chức hoạt động xã
hội nông thôn ngày càng tốt hơn. Mục đích của chuyển giao TBKT là:
- Đẩy mạnh sản xuất hàng hoá một cách bền vững, góp phần xây dựng
nông thôn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, dân chủ hoá và hợp tác
hoá.
- Nâng cao thu nhập của nông dân, giúp nông dân giải quyết và đáp
ứng được các nhu cầu cơ bản của họ, thực hiện xoá đói giảm nghèo.
- Nâng cao dân trí trong nông thôn nhằm thực hiện các nhiệm vụ mục
tiêu trước mắt và cả lâu dài của xã hội.
2.1.2. Vai trò của chăn nuôi lợn đối với hộ nông dân
Chăn nuôi lợn có vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi nước ta. Sự
hình thành sớm nghề nuôi lợn cùng với trồng lúa nước đã cho chúng ta khẳng
định nghề nuôi lợn có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất của
con người. Chăn nuôi lợn là ngành cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng
cao cho con người. Theo GS. Harris và Cộng tác ( 1956 ), 1g thịt lợn nạc =
367 Kcal, 22% protein. Không những thế ngành chăn nuôi lợn còn cung cấp
dạng sinh thái tự nhiên [10].
Nước ta với đặc điểm là nước sản xuất nông nghiệp, lao động nông
thôn đa số mang tính chất thời vụ. Do vậy lao động nhàn rỗi ở nông thôn còn
nhiều. “Nước ta có khoảng 7 triệu người thất nghiệp hoàn toàn hoặc tiềm
tàng”, “ở những vùng ruộng đất không nhiều, dân số đông, người dân chỉ sử
dụng khoảng 65-70% thời gian lao động trong năm, còn lại 30-35% thời gian
nhàn rỗi”. Vì vậy chăn nuôi lợn là một biện pháp nhằm giải quyết việc làm
cho nguồn lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tăng thu nhập, nâng cao mức sống
cho người dân, hạn chế sức ép gia tăng dân số vào các thành phố lớn do người
dân đi kiếm việc làm, từ đó tránh được các tệ nạn có thể phát sinh, đảm bảo
an ninh xã hội. Thực tế ta cũng có thể thấy, hiện nay có khoảng 7.7 triệu hộ
chăn nuôi lợn trên cả nước chiếm 79% số hộ nông nghiệp [4] điều này khẳng
định chăn nuôi lợn vẫn là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình ở
nông thôn Việt Nam. Đối với các nông dân nghèo thì nguồn thu từ chăn nuôi
lợn giúp họ trang trải các nhu cầu chi tiêu lớn vào những lúc cần thiết (giỗ
5
chạp, cưới hỏi, ), còn đối với các gia đình có điều kiện kinh tế khá giả thì có
thể dùng nguồn thu từ chăn nuôi lợn để đầu tư cho con cái học hành, kinh
doanh hoặc mở rộng quy mô sản xuất.
Với những vai trò trên, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đã sớm phát
triển ở khắp mọi vùng nông thôn với phương thức chăn nuôi gia đình là chủ
yếu. Phát triển chăn nuôi lợn là hướng đi cơ bản trong lĩnh vực chăn nuôi của
đại bộ phận hộ gia đình nông dân ở nước ta.
2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
2.1.3.1. Điều kiện tự nhiên với việc chuyển giao và áp dụng tiến bộ kỹ thuật
Điều kiện tự nhiên của một vùng nào đó chính là môi trường sống của
những người dân ở vùng đó. Môi trường sống có thể hình thành cho con người
những thói quen tập quán sinh hoạt phù hợp với môi trường đó. Chính vì thế
môi trường tự nhiên này đã ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và ứng dụng các
TBKT của người dân.
nghiệp mà là các chính sách, biện pháp tác động vào tất cả các lĩnh vực, các
ngành có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn. Trong quá trình xây dựng và
phát triển đất nước đặc biệt là sau đổi mới (1986), ở nước ta đã sử dụng một
loạt các chính sách nông nghiệp bao gồm chính sách tín dụng nông thôn,
chính sách về giá, các chính sách chuyển giao khoa học kỹ thuật…. Các chính
sách này đã có tác động tích cực đến đời sống nhân dân, góp phần đẩy nhanh
tốc độ tăng trưởng nền kinh tế đất nước. Các chính sách về chuyển giao và áp
dụng TBKT cũng có đóng góp không nhỏ vào việc cải tạo nền sản xuất sản
xuất nông nghiệp ở nước ta. Năm 1993 nghị định 13/CP ra đời, qua đó hệ
thống khuyến nông được thành lập từ Trung ương đến địa phương. Thông qua
hệ thống này các TBKT trong sản xuất nông nghiệp đã được đưa đến tận
những người dân ở những vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh nhất, từng bước cải
tạo nền sản xuất, góp phần nâng cao mức sống cho mọi người dân.
Chuyển giao TBKT vào sản xuất là một quá trình, trong đó không chỉ
bên chuyển giao mà bên tiếp nhận đều chịu ảnh hưởng của các chính sách. Đối
với những người làm công tác chuyển giao là những người cán bộ khuyến
nông thì họ chịu tác động của các quy định thực hiện chuyển giao, còn đối với
những người tiếp nhận là nông dân thì các chính sách về hỗ trợ vay vốn, cơ sở
vật chất; chính sách đất đai,… có tác động đến việc áp dụng các TBKT của họ.
Có thể thấy rằng: “các chính sách về chuyển giao TBKT không những giúp
người dân tiếp cận được các TBKT trong sản xuất nông thôn mà còn hỗ trợ
7
điều kiện thuận lợi cho các hộ ở nông thôn tăng cường phát triển sản xuất, giải
quyết khó khăn, từng bước thoát khỏi nghèo đói, làm cho tỷ lệ đói nghèo hàng
năm được giảm xuống, bộ mặt nông thôn Việt Nam có nhiều đổi mới” [7].
2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1. Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới
Nghề chăn nuôi lợn ra đời rất sớm. Cách đây một vạn năm chăn nuôi
lợn đã xuất hiện và phát triển ở Châu Âu và Á. Sau đó, khoảng thế kỷ XVI,
Bắc thuộc và dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, đời sống của nhân
dân ta rất khổ sở và ngành nông nghiệp nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng
không phát triển được. Vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, khi có trao đổi văn hóa
giữa Trung Quốc và Việt Nam, chăn nuôi lợn được phát triển. Dân cư phía
Bắc đa nhập các giống lợn lang Trung Quốc vào nuôi tại các tỉnh miền Đông
Bắc bộ. Tuy nhiên, trong thời kỳ này trình độ chăn nuôi lợn vẫn còn rất thấp.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, khoảng 1925, Pháp bắt đầu cho nhập các giống lợn
châu Âu vào nước ta như giống lợn Yorkshire, Berkshire và cho lai tạo với
các giống lợn nội nước ta như lợn Móng Cái, lợn Ỉ, lợn Bồ Xụ. Cùng với việc
tăng nhanh về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng không ngừng được cải thiện.
Các phương pháp nhân giống thuần chủng và các phép lai được thực hiện.
Trong thời gian từ 1960, chúng ta đa nhập nhiều giống lợn cao sản thông qua
sự giúp đỡ của các nước Xã hội chủ nghĩa (XHCN) anh em. Có thể nói, chăn
nuôi lợn được phát triển qua các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn từ 1960 – 1969: Giai đoạn khởi xướng các qui trình chăn
nuôi lợn theo hướng chăn nuôi công nghiệp.
- Giai đoạn từ 1970 – 1980: Giai đoạn hình thành các nông trường lợn
giống quốc doanh với các mô hình chăn nuôi lợn công nghiệp, có đầu tư và
hỗ trợ của các nước trong khối xã hội chủ nghĩa như Liên Xô cũ, Hung-ga-ri,
Tiệp Khắc và Cu Ba. Hệ thống nông trường quốc doanh được hình thành và
Công ty giống lợn công nghiệp Trung ương cũng phát triển tốt và đảm đương
việc cung cấp các giống lợn theo hệ thống công tác giống 3 cấp từ Trung
ương đến địa phương. Tuy nhiên, trong những năm chuyển đổi kinh tế sự hỗ
trợ của nước ngoài 3 giảm, cộng thêm đó là tình hình dịch bệnh đã làm cho hệ
thống các nông trường giống lợn dần dần tan rã hay chuyển đổi từ sở hữu nhà
nước sang cổ phần hóa hay tư nhân.
9
- Giai đoạn từ 1986 đến nay: Đây là giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với môi trường sinh thái và
nông nghiệp sản xuất hàng hóa để tham gia thị trường khu vực (AFTA) và tổ
2.2.2. Tình hình chuy ển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn ở
Việt Nam
2.2.2.1. Kỹ thuật về giống
Công tác giống là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong ngành
chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng ở nước ta hiện nay. Trong
những năm qua, bằng chương trình nạc hoá đàn lợn nhiều giống lợn có năng
suất và chất lượng cao đã được đưa vào nước ta như Yorkshire, Landrace,
Doroc, Pietrain,…. Các giống lợn này đang được lai tạo và nhân giống rộng
khắp trong cả nước.
Đầu năm 2001, Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 166/2001/QĐ-
TTg về chính sách phát triển chăn nuôi lợn. Qua đó tính đến năm 2005, ngoài
4 dự án lớn về phát triển giống lợn do trung ương đầu tư tại ba miền, đã có 33
tỉnh đầu tư dự án phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc với tổng số vốn hơn 259
tỷ đồng, nhờ vậy mà tổng đàn lợn nái cũng như lợn thịt ngoại ngày càng phát
triển [2].
Tháng 7/2005, Bộ Nông nghiệp và PTNT ra quyết định số 07/2005 về
quản lý và sử dụng lợn đực giống, đã góp phần vào việc quản lý con giống và
lai tạo giống có hiệu quả hơn. Hiện nay chúng ta có 6 trạm kiểm tra năng suất
lợn đực giống, cung cấp khoảng 2.000 đực giống hàng năm [14]. Đây là cơ sở
để các địa phương sản xuất cũng như thực hiện các công thức lai tạo nhằm tạo
ra các giống lợn phù hợp với điều kiện chăn nuôi và yêu cầu của thị trường.
Nhằm thực hiện tốt công tác lai tạo giống, trong thời gian qua Nhà
nước cũng như các địa phương có nhiều quan tâm và đầu tư cho sản xuất,
nhân giống lợn bằng thụ tinh nhân tạo hơn. Thông qua việc tập huấn các kỹ
thuật về thụ tinh nhân tạo, hiện nay hầu hết các địa phương trong cả nước áp
dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo trong chăn nuôi lợn nái, góp phần tạo ra các
con giống nuôi thịt thuần máu ngoại hơn, từng bước nâng cao chất lượng đàn
lợn thịt trong cả nước.
2.2.2.2. Kỹ thuật về chuồng trại
Hiện nay dường như các kỹ thuật tiên tiến nhất về chuồng trại đã được
2.2.2.4. Kỹ thuật về thú y, phòng trị bệnh
Thông qua tập huấn kỹ thuật, công tác thông tin truyền sâu rộng đã
giúp người dần dần ý thức được tầm quan trọng của việc phòng dịch. Hàng
năm ở nước ta tổ chức hai đợt tiêm phòng dịch cho đàn lợn với các loại
văcxin như: tụ huyết trùng, phó thương hàn, dịch tả và lở mồm long móng,…
13
Phòng trừ dịch bệnh tổng hợp là hướng cơ bản trong chuyển giao các
TBKT về thú y hiện nay ở nước ta. Do đó “bố trí chuồng trại thích hợp, chăm
sóc nuôi dưỡng hợp lý giúp lợn sinh trưởng và phát triển nhanh, nâng cao khả
năng kháng bệnh đồng thời rút ngắn thời gian nuôi trong chăn nuôi lợn thịt ở
các hộ gia đình” luôn được các cơ quan chuyển giao quan tâm đề cập [7]
14
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu là các hộ chăn nuôi lợn ở xã Vinh Thái, Huyện
Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Thời gian nghiên cứu từ: 01/2011 – 5/2011.
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1. Đặc điểm vùng nghiên cứu
3.2.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
3.2.2. Đặc điểm các hộ nghiên cứu
3.2.2.1. Nguồn nhân lực
3.2.2.2. Nguồn thức ăn chăn nuôi lợn
3.2.3. Đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
chăn nuôi lợn tại xã Vinh Thái, Phú Vang
3.2.3.1. Thực trạng chăn nuôi lợn
- Quy mô đàn lợn của các hộ
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
* Tiêu chí chọn điểm nghiên cứu:
- Điểm nghiên cứu phải là điểm có hoạt động chăn nuôi lợn;
- Điểm nghiên cứu phải có hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Từ tiêu chí trên tôi đã chọn 3 thôn trong tổng số 9 thôn của xã theo vị trí
địa lý là thôn Diêm Tụ, thôn Mong A, và thôn Mong C để làm điểm nghiên cứu.
* Chọn hộ điều tra: Chọn 30 hộ từ 3 thôn, mỗi thôn 10 hộ và chọn hộ
theo tiêu chí sau:
- Hộ khá (10 hộ);
- Hộ trung bình (10 hộ);
- Hộ nghèo (10 hộ).
16
3.3.2. Phương pháp thu thập thông tin
3.3.2.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập số liệu thông qua các tài liệu, các báo cáo, niên giám thống kê
ở các Cơ quan thống kê, Trạm khuyến nông và các cơ quan chuyển giao:
- Báo cáo kinh tế - xã hội của xã;
- Báo cáo tổng hợp từ các thôn;
- Các số liệu đã công bố về tình hình chuyển giao TBKT trong chăn
nuôi lợn của xã.
3.3.2.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
* Phương pháp phỏng vấn hộ
Thông tin được thu thập thông qua bảng hỏi cấu trúc và bán cấu trúc.
* Phương pháp phỏng vấn người am hiểu
Phỏng vấn trưởng thôn, cán bộ khuyến nông, cán bộ chuyển giao để thu
thập thông tin về tình hình chăn nuôi lợn và thực trạng chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật trong chăn nuôi lợn của xã.
* Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận trên các nhóm đối tượng chủ chốt nhằm xác định những vấn
4.1.1.3. Đặc điểm thời tiết, khí hậu
Xã Vinh Thái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm có
hai mùa mưa, nắng rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 8 năm trước đến tháng giêng
năm sau, lượng mưa hàng năm khá lớn, trung bình khoảng 3.000mm. Mưa
phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu vào các tháng 9,10,11 và 12
chiếm 75-80% lượng mưa cả năm, gây úng lụt ảnh hưởng đến sản xuất nông
nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản cũng như đời sống của nhân dân.
4.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
4.1.2.1. Dân số và lao động
Việc tìm hiểu cơ cấu dân số và lao động giúp nắm bắt được tiềm năng
và sự phân bố về nguồn nhân lực của địa phương trong các lĩnh vực sản xuất
và địa bàn dân cư. Kết quả tìm hiểu về dân số và lao động của xã thể hiện ở
bảng 4.1.
Bảng 4.1. Cơ cấu dân số và lao động của xã Vinh Thái, Huyện Phú Vang
TT
Năm
Cơ cấu
Đơn vị 2006 2007 2008 2009
1 Dân số trung bình năm Người 6.065 5.901 5.745 5.449
2
Lao động trung bình
năm
Người 2.826 2.758 2.773 2.675
( Nguồn: Niêm giám thống kê Huyện Phú Vang 2009 )
Bảng 4.1 cho thấy: Dân số giảm dần qua từng năm, năm 2006 với dân
số trung bình của xã là 6.065 người thì đến năm 2009 đã giảm xuống còn
5.449 người. Nhờ các công tác phổ biến, tuyên truyền chủ trương, chính sách
về dân số và kế hoạch gia đình cũng như việc nghiêm chỉnh chấp hành của
người dân trong xã, tuy tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên vẫn còn cao nhưng nhìn
chung đã giảm đáng kể so với những năm trước. Lực lượng lao động của xã
53,92
55
53,32
8.024,7
3.162
1.916,7
2.947
2 Ngô 3 44 13,2
3 Sắn 60 140 7.840
4 Lạc 31,5 1,2 37,8
5 Khoai lang 16 60 96
6 Đậu các loại 25 40 10
( Nguồn: Báo cáo tổng kết sản xuất nông nghiệp của xã năm 2010 )
Kết quả bảng 4.2 cho thấy: Lúa vẫn là cây trồng chủ đạo và không thể
thay thế trên địa bàn xã. Với diện tích gieo trồng là 1.484,5 ha và năng suất
lúa đạt được 53,95 tạ/ha. Diện tích gieo trồng có giảm so với năm 2009 là 30
ha, do vùng sâu Diêm Tụ 1 vụ chuyển sang 2 vụ gieo sạ bị chết và cùng sở
10, sở 18 của thôn Thanh Lam, Hà Trữ B bỏ hoang. Đứng sau lúa là cây Sắn
với diện tích gieo trồng là 60 ha với năng suất là 140 tạ/ha, cây sắn cũng là
cây thế mạnh của xã, trong đó sắn nguyên liệu 30 ha đạt 50% và nó cũng
đóng vai trò không nhỏ trong ngành chăn nuôi trên địa bàn xã, đặc biệt là
ngành chăn nuôi lợn.
20
Cây lạc cũng là cây thế mạnh của xã với diện tích gieo trồng là 31,5 ha
và được tập trung trồng ở vùng Ông Thạnh, bụi cồn Mong A, Đội trên Diêm
Tụ, Cồn Đá Mong C, Cồn Thanh Lam Bồ. Và Đậu các loại với diện tích 25
ha, được trồng xen trong đất lạc và khoai lang. Ngoài ra còn có cây khoai lang
với diện tích 16 ha, và Ngô với diện tích 3 ha, chủ yếu phục vụ cho chăn nuôi.
- Tình hình chăn nuôi của xã qua các năm
Hiện nay xã Vinh Thái có 4 loại vật nuôi chính đó là trâu, bò, lợn và gia
là rất ít, nên việc phát triền đàn trâu ở đây không phát triển. Bên cạnh đó, hoạt
động chăn nuôi bò cũng chỉ cung cấp nguồn thịt nên đàn bò của xã cũng ở
mức ổn định. Hoạt động chăn nuôi dê là hoạt động mới, còn non trẻ nên cũng
chưa đóng góp nhiều vào sự phát triển chăn nuôi trên địa bàn xã.
4.1.2.3. Điều kiện cơ sở hạ tầng của xã
- Giao thông: Đường đi lại trên địa bàn xã đã được trải nhựa nên việc đi
lại giao lưu buôn bán giữa các thôn và các xã lân cận cũng thuận lợi hơn.
- Thuỷ lợi: Hệ thống thuỷ lợi được chính quyền và người dân địa
phương rất quan tâm. Đến nay hầu hết các xã trong xã đều có hệ thống kênh
mương đảm bảo cho khả năng tưới tiêu, hệ thống kênh mương đã được bêtông
hoá.
- Giáo dục: Hiện nay trên địa bàn xã có 3 trường xã có 3 trường học.
Trong đó có 1 trường mẫu giáo, 1 trường tiểu học và 1 trường THCS. Các
trường học ở đây được trang bị khá đầy đủ về trang thiết bị dạy và học. Cơ sở
hạ tầng trong giáo dục đang ngày càng được cải thiện theo hướng chuẩn hoá
là điều kiện tốt để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục ở đây.
- Y tế: Sự nghiệp chăm lo bảo vệ sức khoẻ ban đầu cho nhân dân ngày
càng tốt hơn, các chương trình quốc tế quốc gia được chú trọng như: Chương
trình tiêm chủng mở rộng đạt 95%, trẻ suy dinh dưỡng còn 16,5%, chương
trình Vitamin A đạt 100%, chức khám và chữa bênh 2.500 lượt người/năm cho
trẻ em và gia đình chính sách, hộ neo đơn và khó khăn ở các thôn. Trang thiết
bị khám và chữa bệnh ngày càng được đầu tư. Trạm y tế đã được công nhận đạt
chuẩn quócc gia về y tế năm 2009.
- Hệ thống điện và nước sinh hoạt: Tỷ lệ người dùng nước máy còn ít, chỉ
chiếm khoảng 9,8% trên địa bàn xã, còn lại hầu như các hộ gia đình vẫn dùng
giếng bơm mô tơ. Số hộ sử dụng lưới điện sinh hoạt chiếm 95%.
Nhìn chung, hệ thống cơ sở hạ tầng của xã đang từng bước được cải
thiện. Trong giai đoạn tới, xã sẽ có nhiều dự án đầu tư tiếp theo nhằm xây
dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, từng bước đáp ứng được khả năng phục vụ
tốt cho sản xuất và sinh hoạt cho người dân địa phương.
chủ động về nguồn thức ăn cho chăn nuôi lợn của các hộ ở 3 thôn nghiên cứu.
Chúng tôi đã tìm hiểu về diện tích và năng suất một số loại cây trồng chính
của các hộ và kết quả được thể hiện ở bảng 4.5.
23
Bảng 4.5: Diện tích và năng suất một số cây trồng của các hộ
Chỉ tiêu
Đơn vị Hộ nghèo
(n =10)
Hộ trung bình
( n = 10)
Hộ khá
(n =10)
Diện tích lúa Sào 2,4 3,9 5,3
Năng suất lúa Tạ/sào 2,17 2,2 2,36
Diện tích ngô Sào 0,1 0,15 0,17
Năng suất ngô Tạ/sào 0,7 0,98 1,3
Diện tích sắn Sào 1,34 1,57 1,85
Năng suất sắn Tạ/sào 2,3 2,59 2,72
Diện tích khoai lang Sào 0,69 0,92 1,02
Năng suất khoai lang Tạ/sào 1,02 1,26 1,32
( Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Số liệu bảng 4.5 cho thấy: So sánh các loại cây trồng của 3 loại hộ thì
cây ngô, cây sắn và cây khoai lang có diện tích trồng và năng suất ít có biến
động lớn, diện tích trung bình của cây ngô ở hộ nghèo là 0,1 sào và có năng
suất 1,34 tạ/sào, ở hộ trung bình với diện tích 0,15 sào và năng suất là 0,98
tạ/sào, còn ở hộ khá thì có diện tích trồng ngô trung bình là 0,17 sào và năng
suất trung bình là 1,3 tạ/ha. Trong khi đó diện tích trồng lúa có sự khác biệt rõ
ràng ở 3 loại hộ, diện tích trồng lúa trung bình của hộ nghèo là 2,4 ha, của hộ
trung bình là 3,9 ha, diện tích trồng lúa của hộ khá gần gấp đôi so với hộ trung
bình với diện tích trung bình là 5,3 ha. Nhìn chung, diện tích và năng suất các
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
1 Số lợn nái (con) 13 32,50 14 35,00 13 32,50
2 Số lợn thịt (con) 25 35,71 22 31,43 23 32,86
3 Số lợn thịt/ hộ (con) 2,5 2,2 2,3
4 Số hộ nuôi dưới 2 con 0 0 0
5 Từ 3-5 con 9 31,04 10 34,48 10 34,48
6 Trên 5 con 1 100 0 0 0 0
( Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Kết quả ở bảng 4.6 cho thấy: Số lợn nái được nuôi ở các loại hộ có tỷ lệ
gần bằng nhau, trong đó hộ nghèo và hộ khá đều chiếm 32,50%, và hộ trung
bình cao nhất chiếm 35,00%. Nhưng đối với số lượng lợn thịt được nuôi ở các
loại hộ thì hộ nghèo chiếm cao hơn hộ trung bình và hộ khá với 35,71%. Nhìn
chung tỷ lệ đó gần như ngang bằng nhau giữa các nhóm hộ. Số lợn thịt trung
bình trên hộ của hộ nghèo cao hơn hẳn với 2,5 con trên hộ, hộ trung bình là
2,2 con/ hộ và hộ khá là 2,3 con/hộ. Bên cạnh đó, số hộ nuôi dưới 2 con của 3
nhóm hộ là không có, số hộ nuôi từ 3 đến 5 con ở hộ nghèo chiếm chỉ lệ
31,04%, còn lại hộ trung bình và hộ khá cùng tỷ lệ là 34,48%. Số hộ nuôi trên
5 con chỉ có duy nhất 1 hộ ở hộ nghèo trong số 30 hộ điều tra ở 3 thôn chiếm
tỷ lệ 100%.
Quy mô đàn lợn hiện tại so với những năm trước đã được tăng lên đáng
kể, nhờ sự đầu tư, hỗ trợ của dự án GVC về mặt chuồng trại và tập huấn kỹ
thuật chăn nuôi lợn thâm canh cho hộ thuộc diện nghèo nên tỷ lệ nuôi lợn ở loại
hộ này tăng lên đáng kể và hiệu quả chăn nuôi lợn cũng đã được cải thiện hơn.
25