Mở đầu
Nớc ta có nghề nuôi cá truyền thống từ lâu đời và có nhiều tiềm năng để phát
triển nghề nuôi trồng thuỷ sản. Trong 10 năm gần đây nghề nuôi trồng thuỷ sản nớc ta
đã có những bớc tiến đáng kể trong việc sử dụng diện tích mặt nớc, nâng cao năng
suất và sản lợng cá nuôi, góp phần quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm có
nguồn đạm động vật cho con ngời và bớc đầu tạo ra nguồn nguyên liệu cho chế biến
xuất khẩu. Tuy nhiên, trớc những thành tựu mới của khoa học công nghệ thế giới và
yêu cầu tiếp tục phát triển của nền kinh tế. Việc đa dạng hoá tập đoàn cá nuôi đã và sẽ
là một yêu cầu cần thiết để phát triển nuôi trồng thuỷ sản một cách bền vững. Bên cạnh
việc nâng cao phẩm giống những loài cá nuôi đã có, bảo vệ và phát triển các giống loài
cá kinh tế, các loài cá bản địa quý hiếm, chúng ta đã nhập nội những loài cá mới cho
năng suất cao, phù hợp với điều kiện nớc ta. Hơn nữa cần tập trung cho lĩnh vực công
nghệ sinh học một lĩnh vực còn mới mẻ với Việt Nam, để nhanh chóng hoàn thiện
đợc những quần đàn cá nuôi đáp ứng với những yêu cầu cần phát triển mới của nghề
nuôi trồng thuỷ sản.
Từ năm 2000 đến nay, Hợp phần 1, Dự án NORAD đã liên tục tiến hành nuôi
thử nghiệm cá rô phi chọn giống nhằm đánh giá chất lợng di truyền của chúng. Cá rô
phi chọn giống đã đợc chuyển đến những nông hộ ở các tỉnh: Nghệ An, Thái Nguyên,
Vĩnh Phúc, Hải Dơng, Nam Định và Thái Bình.
Để kiểm chứng những kết quả của việc nuôi thử nghiệm cá rô phi dòng NOVIT
4, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi cá rô phi
dòng NOVIT 4 (Norwegian - Vietnamese Tilapia, 2004) ở các nông hộ nuôi thử
nghiệm tại tỉnh Hải Dơng và Nghệ An.
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc nuôi cá rô phi dòng NOVIT 4.
1
Mục tiêu cụ thể
1.1.3. pH
Cá rô phi có khả năng thích nghi với khoảng pH rộng, song pH thích hợp cho sự
phát triển là môi trởng trung tính, hơi kiềm (pH = 6,5 8,5) và chết ở pH = 3,5 hay
lớn hơn 12 sau 2 3 giờ (Philipart và Ruwet, 1982) {18}.
3
1.1.4. Độ mặn
Cá rô phi là nhóm cá thích ứng với độ muối rộng, chúng có thể sống đợc cả ở
nớc ngọt, nớc lợ và nớc mặn. Cá rô phi có khả năng chịu đợc độ mặn tới 320/00
(Nguyễn Duy Khoát, 1997) {3}. Cá rô phi đợc nuôi trong nớc lợ có chất lợng thịt
thơm ngon hơn trong nớc ngọt, điều này rất đáng chú ý trong việc tạo ra sản phẩm
nớc lợ xuất khẩu có giá trị
Có nhiều loài cá rô phi có thể sống và sinh sản trong nớc biển có độ mặn cao. Các loài
khác nhau có ngỡng độ muối khác nhau. Loài O. zillii, O. aureus và O. spilurus là
những loài rộng muối sau đó là O. mossambicus, sau cùng là O. niloticus (Philipart và
Ruwet, 1982) {18}.
1.1.5. Tính ăn
Tính ăn của cá có liên quan chặt chẽ đến cấu tạo của cơ quan tiêu hoá. Cơ quan
tiêu hoá của cá rô phi có thực quản ngắn, dạ dày nhỏ, ruột dài và xoắn nhiều, rất phù
hợp với tính ăn tạp của cá rô phi.
Cá rô phi là loài cá ăn tạp, thức ăn của chúng bao gồm: động vật phù du, giun,
côn trùng trong nớc, ấu trùng của các loài chân đốt sống trong nớc nh ấu trùng
muỗi, ấu trùng chuồn chuồn..., mùn bã hữu cơ. Ngoài ra một số loài cá rô phi còn ăn cả
thực vật nh bèo tấm, rau muống... Khi nuôi cá rô phi bằng hình thức thâm canh, nuôi
lồng, bè ngời ta còn cho cá ăn bằng thức ăn nhân tạo. Nguyên liệu chế biến thức ăn
cho cá rô phi gồm bột mì, cám gạo, bột cá và các phế phẩm nông nghiệp cùng các loại
muối khoáng, muối vi lợng.
Phổ thức ăn của cá rô phi thay đổi theo giai đoạn phát triển của cá. Giai đoạn cá
sâu khác nhau, có nhiệt độ nớc dao động từ 5 330C sau 10 tháng nuôi. Kết quả cho
thấy, ở độ sâu 50 cm cá đạt 250 g/con, ở độ sâu 100 200 cm cá đạt 348 362 g/con ở
nhiệt độ nớc trên 210C. Khi nhiệt độ nớc dới 100C thì cá ngừng ăn, kém hoạt động
và hay mắc bệnh.
Do đặc điểm sinh học về sinh sản, cá cái O. niloticus phải ấp trứng và nuôi cá
bột ở giai đoạn đầu trong miệng nên tốc độ tăng trởng có sự sai khác giữa cá đực và cá
cái. Trong cùng một điều kiện nuôi, sau khi thành thục sinh dục cá đực thờng có tốc
5
độ tăng trởng nhanh hơn cá cái. Kết quả nghiên cứu của Liu Jiazhao (1991) cho thấy
trong cùng một điều kiện nuôi dỡng, môi trờng nh nhau, cỡ cá thả ban đầu 12,6
g/con, sau 36 ngày nuôi, trọng lợng trung bình của con đực là 61,4 g, con cái là 43,6
g. Cũng theo Liu Jiazhao (1991), tốc độ tăng trọng của cá rô phi còn phụ thuộc vào giai
đoạn phát triển của cá. Cá bột có tốc độ tăng trọng tơng đối nhanh nhất, sự tăng trọng
tơng đối tỷ lệ nghịch với trọng lợng và tuổi cá.
1.1.7. Đặc điểm sinh sản
Cá rô phi có tuổi thành thục sớm, sinh sản lần đầu khi cỡ cá còn rất bé, mắn đẻ
và đẻ tự nhiên trong hệ thống nuôi. Sự hình thành và phát triển tuyến sinh dục cá rô phi
chịu sự tác động của nhiều yếu tố nh: tuổi cá, kích cỡ cá, chế độ dinh dỡng, nhiệt độ
nớc, ánh sáng và nồng độ muối. ở Việt Nam do có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên cá
rô phi có thể đẻ gần nh quanh năm (trừ các tháng mùa đông ở miền bắc và dải miền
trung). Thông thờng cá rô phi đẻ khi nhiệt độ nớc trên 200C. Các loài cá rô phi khác
nhau có tuổi thành thục khác nhau. Oreochromis niloticus tham gia sinh sản lần đầu
khi 5 6 tháng tuổi, chu kỳ sinh sản là 30 35 ngày. Còn O. mossambicus bắt đầu đẻ
khi 3 4 tháng tuổi, chu kỳ sinh sản là 30 35 ngày (Liu Jiazhao, 1991) {13}.
Tập tính sinh sản của cá rô phi có sự khác nhau giữa các giống. Dựa vào đặc
điểm sinh sản của cá rô phi mà Trewavas (1983) đã chia cá rô phi ra làm 3 giống.
1. Giống Tilapia: Cá làm tổ bằng cỏ rác, cá đẻ trứng bám vào giá thể, sau khi đẻ cá đực
nổi mật độ cá nuôi trong ao, cỡ cá nhỏ và không đề khi thu hoạch. Vì vậy năng suất cá
thờng không cao, cá thơng phẩm nhỏ.
Để chủ động kiểm soát mật độ cá nuôi trong ao, hạn chế ảnh hởng đến sinh
trởng do sinh sản, nhằm nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm cá rô phi trong thuỷ
vực. Ngời ta áp dụng các biện pháp khác nhau nh: đánh tỉa bớt cá con trong ao theo
định kỳ hàng tháng, thả ghép cá dữ vào trong ao nuôi, nuôi cá đơn tính. Hiện nay có
nhiều phơng pháp khác nhau để tạo quần đàn cá rô phi đơn tính đực nh:
- Khi cá đạt cỡ 7 10 cm có trọng lợng 30g (Mc Andrew, 1993) {17} ta dựa
vào sự khác biệt hình thái bên ngoài để tách nuôi riêng đực cái, cá cái, phơng pháp
này tuy đơn giản, nhng tốn nhiều công lao động và dễ sai sót ngay cả với những ngời
7
có kinh nghiệm (khoảng 10%) tuy vậy vẫn đợc ứng dụng kết hợp với một số phơng
pháp khác.
- Tạo cá rô phi đơn tính kiểu hình bằng xử lý hóc môn, đã và đang đợc nhiều
nớc trên thế giới nh Thái Lan, Philippine, Đài Loan, Brazil và Việt Nam ứng dụng.
Phơng pháp này dễ làm, công nghệ có sẵn, song có những hạn chế nhất định. Mặt
khác cá đơn tính xử lý bằng hóc môn thờng đắt hơn cá thờng rất nhiều và môi trờng
nớc có nguy cơ bị ô nhiễm bằng hóc môn của nớc thải từ khu sản xuất cá chuyển đổi
giới tính.
- Tạo quần đàn đơn tính đực bằng lai giữa hai loài thuộc giống Oreochromis.
Một số nớc nh Israel, Đài Loan đã và đang ứng dụng một số công thức lai cho quần
đàn đơn tính đực. Tuy nhiên tỷ lệ phần trăm cá đực ở thế hệ con lai F1 của một số công
thức lai không ổn định, ngay cả cùng công thức lai tỷ lệ cá đực ở con lai thay đổi theo
nguồn gốc địa lý của cá bố và mẹ. Việc lai khác loài yêu cầu phải lu giữ đợc dòng
bố, mẹ thuần một cách nghiêm ngặt.
- Tạo cá đơn tính đực bằng cá siêu đực (YY) cho sinh sản với cá cái thờng cho
phép tạo đợc một lợng lớn cá giống trong cùng một thời gian. Song tỷ lệ giới tính ở
Sản lợng cá rô phi nuôi của thế giới tăng nhanh, đạt 200.000 tấn năm 1980,
400.000 tấn năm 1991, 800.000 tấn năm 1996 và năm 2001 đạt 1,5 triệu tấn. Trong khi
đó sản lợng cá rô phi khai thác từ tự nhiên khá ổn định, chỉ ở mức 500.000 tấn/năm.
Khu vực sản xuất cá rô phi chủ yếu là Châu á. Những nớc sản xuất nhiều cá rô phi
nhất phải kể đến là: Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Philippines. Châu Mỹ là vùng
mới phát triển nuôi cá rô phi trong vòng 10 năm gần đây, hiện cha phải là khu vực sản
xuất với sản lợng lớn, nhng đang đợc đầu t phát triển mạnh. Dự đoán năm 2010
sản lợng cá rô phi nuôi ở khu vực này sẽ đạt 500.000 tấn và năm 2020 đạt 1 triệu tấn
cá rô phi (Bộ Thuỷ sản, 2002) {1}. Thị trờng cá rô phi trên thế giới tăng nhanh trong 2
thập kỷ gần đây, đặc biệt ở thị trờng Mỹ và Châu âu. Thị trờng nhập khẩu cá rô phi
trên thị trờng thế giới năm 1992 là 2.500 tấn, năm 1996 là 20.000 tấn và năm 1999 là
100.000 tấn. Đứng đầu các nớc nhập khẩu cá rô phi là Mỹ, tiếp sau là thị trờng Nhật,
Châu âu và các nớc ả Rập. Thị trờng Nhật chuyên tiêu thụ các mặt hàng cá rô phi cao
9
cấp, chủ yếu ở dạng filê, đặc biệt filê tơi cá rô phi hồng. Thị trờng Mỹ, Châu âu tiêu
thụ cá đông lạnh nguyên con, filê tơi, filê đông lạnh và các sản phẩm chế biến...
Năm 1992, Mỹ nhập 3.400 tấn, đến năm 2000 nhập 40.000 tấn. Năm 2001, thị
trờng Mỹ bùng nổ nhập khẩu cá rô phi, ớc tính nhập khoảng 70.000 75.000 tấn, trị
giá 106 108 triệu USD. Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan hiện là những nớc đứng
đầu về xuất khẩu cá rô phi. Đài Loan xuất khẩu tới 36% sản lợng cá nuôi, năm 1999
xuất gần 40.000 tấn chiếm 80% thị trờng Mỹ. Song đến năm 2001 Đài Loan chỉ chiếm
43% thị trờng Mỹ. Trung Quốc là nớc phát triển nuôi cá rô phi muộn hơn, nhng sản
lợng cá nuôi và sản lợng hàng hoá xuất khẩu đã tăng nhanh trong những năm gần
đây. Xuất khẩu cá rô phi từ Trung Quốc vào Mỹ năm 2001 chiếm khoảng 33% thị
trờng nhập khẩu cá rô phi ở Mỹ.
Cá rô phi ngày càng có nhu cầu cao trên thị trờng. Trong khi giá nhiều mặt
hàng thuỷ sản khác luôn có nhiều biến động thì hầu hết các sản phẩm từ cá rô phi có
Nam và sau đó đợc chuyển ra nuôi ở miền bắc sau khi đất nớc thống nhất (Trần Mai
Thiên và Trần Văn Vỹ, 1994) {4}. Thời gian dầu cá lớn nhanh, đạt qui cỡ cá thơng
phẩm cao, đợc nhiều ngời a thích. Nhng do công tác quản lý giống không tốt nên
hai loài cá trên đã bị tạp giao qua nhiều thế hệ. Vì vậy, cá sinh trởng chậm, cỡ nhỏ,
chất lợng kém, dần dần không đợc ngời nuôi chú ý nh ban đầu nữa.
Khó khăn lớn nhất đối với nuôi cá rô phi ở Việt Nam là việc cung cấp con giống
sớm và có chất lợng cao đến tận tay nông dân, đặc biệt là ở miền bắc nớc ta. Do miền
bắc có mùa đông lạnh kéo dài khoảng 3 tháng (từ tháng 11 2) nên khả năng sản xuất
giống cá rô phi rất khó khăn. Vì vậy để có cá giống rô phi sớm thờng phải vận chuyển
từ miền nam hay từ các vùng có nguồn gốc nớc ấm đến các vùng nuôi làm cho giá cá
giống lên rất cao làm hạn chế sức nuôi của ngời dân.
Đợc sự hỗ trợ của Bộ Thuỷ sản, chơng trình chọn giống cá rô phi tiến hành
theo phơng pháp chọn lọc gia đình đã đợc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I
tiến hành trên cơ sở 106 gia đình cá rô phi dòng GIFT thế hệ chọn giống thứ 5 từ
ICLARM, Philippines. Trong mỗi tổ hợp gia đình bao gồm 1 con đực và 2 con cái, tất
11
cả đều đợc mang dấu điện tử. Thế hệ con của các gia đình này đợc sử dụng làm vật
liệu ban đầu cho chơng trình chọn giống. Dòng cá GIFT này và dòng cá Việt đợc sử
dụng đồng thời để tăng sự khác biệt về mặt di truyền trong vật liệu chọn giống ban đầu.
Từ năm 1999 đến năm 2001, hai thế hệ chọn giống cá rô phi đã chọn lọc xong. Sinh
trởng của cá ở thế hệ chọn giống thứ 2 tăng 20% so với đàn cá gốc. Kết quả này đã đạt
mục tiêu đề ra của chơng trình chọn giống chỉ sau 1 thế hệ chọn giống. Theo kết quả
đánh giá nuôi thử nghiệm cá rô phi chọn giống tại 45 nông hộ tại 3 tỉnh Thái Nguyên,
Hng Yên và Nghệ An, dòng cá GIFT chọn giống đã nâng đợc sức tăng trởng lên
25,6% (năm 2000) và 29,1% (năm 2001) so với cá rô phi địa phơng (Viện Nghiên cứu
Nuôi trồng Thuỷ sản 1, 2001) {6}. Khả năng chịu lạnh và chịu mặn của cá đã đợc thí
nghiệm ở mỗi thế hệ chọn giống. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu về những tính trạng này
nh:
* Chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả kinh tế:
- Năng suất đất đai diện tích mặt nớc: Giá trị sản lợng hay giá trị sản lợng
hàng hoá tính trên đơn vị diện tích mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản.
- Năng suất các đối tợng nuôi trồng.
- Lợi nhuận tính trên một đơn vị diện tích mặt nớc nuôi trồng.
1.4.2. Lợi nhuận
Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí sản xuất cộng với
thuế của sản phẩm hàng hoá nuôi trồng thuỷ sản.
L = D (Ztb + T)
L: là lợi nhuận của doanh nghiệp.
D: là doanh thu = Sản lợng x Giá bán.
Ztb: Giá thành toàn bộ của sản phẩm.
T: là thuế.
Muốn đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp ngời ta dùng chỉ tiêu tỷ suất
lợi nhuận.
L
Tl =
L
x 100%
Tl =
Tc
Quỳnh Hng
Cẩm Vũ
Tổng số
Số nông hộ tham gia dự án
Nhóm 1
36
22
52
14
Số mẫu điều tra
Nhóm 1
Nhóm 2
30
20
22
20
52
40
2.3.2. Thu thập số liệu
2.3.2.1. Các phơng pháp thu thập số liệu
* Thu thập số liệu thứ cấp
Các số liệu liên quan đến phát triển nuôi trồng thuỷ sản nói chung, nuôi cá rô
phi nói riêng, các số liệu về tự nhiên, kinh tế xã hội các địa phơng đợc thu thập từ các
nguồn khác nhau, bao gồm:
2.4. Xử lý và phân tích số liệu
2.4.1. Xử lý số liệu
- Số liệu điều tra cơ bản ngay sau khi đợc thu thập sẽ đợc xử lý bằng cách
kiểm tra tính phù hợp, đơn vị tính, tính đồng nhất, mức độ chính xác.
- Số liệu sau khi xử lý sẽ đợc mã hoá và nhập vào máy tính sử dụng phần mềm
SPSS (Statistical Package for Social Science) phiên bản 11.5 và EXCEL.
2.4.2. Phân tích số liệu
2.4.2.1. Phơng pháp thống kê mô tả
Các số liệu thu thập sẽ đợc phân tích bằng thống kê mô tả qua việc tính toán
các giá trị trung bình (Mean), độ lệch chuẩn (Std. Dev), sai số của giá trị trung bình
(SE), các giá trị lớn nhất (Max), nhỏ nhất (Min), tỷ lệ phần trăm (%) và các giá trị
thống kê khác.
.
Tính toán giá trị trung bình, sai số của giá trị trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất, tần
suất để mô tả các đặc điểm của vùng nghiên cứu, mô tả các thông tin về nông hộ và
chủ hộ, đặc điểm của hệ thống sản xuất thuỷ sản.
2.4.2.2. Phơng pháp phân tích hiệu quả từng phần
Chi phí bất biến (FC Fixed Cost): Là những chi phí cố định về tài sản sở hữu
hoặc nguồn lợi, gồm cả chi phí tiền mặt và không tiền mặt.
Chi phí khả biến (VC Variable Cost): Là những chi phí mà ngời sản xuất có
thể chủ động đợc trong một khoảng thời gian. Những chi phí này tăng lên khi sản
phẩm tăng nh thức ăn, giống, phân hoá học
16
Tổng chi phí (TC Total Cost) gồm tổng chi phí bất biến (TFC) và tổng chi phí
khả biến (TVC).
Tất cả những ngời tham gia phỏng vấn là ngời Kinh. Có 53% đến 68% số
ngời tham gia phỏng vấn có trình độ văn hoá phổ thông cơ sở, trình độ văn hoá trung
học phổ thông chiếm 31% đến 43% và có 3% trình độ đại học thuộc nhóm 1 vùng
Nghệ An, đây là điều kiện rất thuận lợi đối với bà con nông dân khi tiếp thu kiến thức
nuôi trồng thuỷ sản từ những buổi tập huấn. Nhóm 1 vùng Hải Dơng, trình độ văn hoá
phổ thông cơ sở của ngời tham gia phỏng vấn có trên 60% và trung học phổ thông trên
30%. Những ngời tham gia phỏng vấn thuộc nhóm 2 vùng Hải Dơng và Nghệ An đều
có 85% trình độ văn hoá phổ thông cơ sở (Phụ lục II, Bảng 8). Trình độ của những
ngời tham gia phỏng vấn đủ để hiểu và làm theo những kỹ thuật đợc học. Kết quả
đánh giá của chính những ngời tham gia phỏng vấn cho thấy những kỹ thuật tập huấn
đợc đánh giá là phù hợp với trình độ của họ, họ cũng làm theo những kỹ thuật học
đợc
18
Bảng 2. Giới tính của ngời đợc phỏng vấn (%)
Giới tính
Nam
Nữ
Tổng
Hải Dơng
Nhóm 1
Nhóm 2
(N = 22)
(N = 20)
86
65
kinh doanh chỉ đợc coi là nghề phụ, chỉ có 4% đến 15% trong số họ cho rằng nghề
NTTS là nghề chính của bản thân và gia đình. Một số hoạt động khác của ngời tham
gia phỏng vấn nh làm công ăn lơng, cán bộ nghỉ hu, thơng bệnh binh hoặc viên
chức trong làng xã cũng đợc nghi nhận nhng số lợng này không nhiều. Nghề phụ
của ngời tham gia phỏng vấn (Phụ lục II, bảng 11).
19
Bảng 3. Nghề chính của ngời tham gia phỏng vấn (%)
Nghề nghiệp
chính
Nông nghiệp
NTTS
Tổng
Hải Dơng
Nhóm 1
Nhóm 2
(N = 22)
(N = 20)
96
85
4
15
100
100
Nghệ An
Hải Dơng
Nhóm 1
Nhóm 2
(N = 22)
(N = 20)
4
4
2
2
2
2
20
Nghệ An
Nhóm 1
Nhóm 2
(N = 30)
(N = 20)
4
4
2
2
2
2
3.1.5. Sản xuất nông nghiệp
Diện tích đất trồng lúa của mỗi nông hộ dao động trong khoảng 480 5.000 m2.
5,21
5,36
5,21
5,36
8
8
5,59
5,83
5,59
5,83
8
8,33
2004
Nhóm1 Nhóm2
(N = 30) (N = 20)
8
8,05
0,00
0,03
8
8
8
8,33
Tại hai vùng của Hải Dơng và Nghệ An đều có đặc điểm thuận lợi về nguồn
nớc ngọt cung cấp cho sản xuất nông nghiệp. Do vậy năng suất lúa tơng đối cao, đạt
khoảng 5 tấn đến 8 tấn/ha (Phụ lục III, bảng 13). Sản phẩm nông nghiệp của nông hộ
hầu nh không đợc bán mà chỉ để tiêu dùng trong nông hộ. Kinh tế "Tự cung tự cấp"
thể hiện rất rõ nét tại hai vùng này. Hầu nh không ai phải mua thóc để phục vụ cho
từ tất cả các nghề. Tổng thu nhập trong năm 2003 và năm 2004 không sai khác có ý
nghĩa giữa các nhóm nông dân (P> 0,05).
Bảng 6. Tổng thu nhập của nông hộ từ các nghề khác nhau ('000đ/hộ)
Hải Dơng
Nghệ An
Chỉ
số
2003
2004
2003
2004
Nhóm1 Nhóm2
Nhóm1
Nhóm2
Nhóm1 Nhóm2 Nhóm1 Nhóm2
(N=22) (N=19)
(N=17)
(N=18)
(N=30) (N=19) (N=29) (N=19)
Trung 12957 12440
13791
14046
14447 10233 15568 10465
bình 480,3 2772,3 1908,3 3023,2 1257,4 974,4 15568 1135,2
(* Chú thích: Mean SE.)
3.2. Đặc điểm nuôi trồng thuỷ sản ở nông hộ
Lý do
Tận dụng ao
Tăng thu nhập
Tạo việc làm
Cả ba
Tổng
Nghệ An
Nhóm 1
Nhóm 2
(N = 30)
(N = 20)
20
23
60
40
16
100
40
100
3.2.2. Diện tích và đặc điểm của ao
Diện tích ao nuôi cá giữa hai năm của các nhóm hầu nh không có sự thay đổi.
Diện tích ao trung bình của nông hộ nhóm 2 lớn hơn diện tích ao của nông hộ nhóm 1.
Trung bình mỗi nông hộ có khoảng 1000 m2 ao. Diện tích ao lớn nhất một nông hộ sở
hữu là 6120 m2.
Bảng 8. Diện tích ao nuôi cá (m2)
Hải Dơng
1084,21
119,02
2004
Nhóm 1
(N = 30)
948,33
113,02
Nhóm 2
(N = 20)
1084,21
119,03
Với những kinh nghiệm và kiến thức về kỹ thuật NTTS đợc học thông qua
những chơng trình tập huấn, xem ti vi, nghe đài, đọc báo, hầu hết các ao của nông hộ
đều đợc san phẳng đáy sau mỗi vụ thu hoạch cá
23
Vùng Hải Dơng và Nghệ An đều có nguồn nớc ngọt chủ động đảm bảo quanh
năm. Các hộ đều sử dụng 100% nguồn nớc thuỷ lợi để nuôi cá. Nớc thuỷ lợi thờng
xuyên có sẵn, do vậy có tới 100% số ao có nớc quanh năm. Nhìn chung, điều kiện
nuôi cá của các nông hộ gặp nhiều thuận lợi trong việc chủ động thay nớc bổ sung
trong quá trình nuôi.
3.2.3. Loại hình và chu kỳ nuôi cá
* Loại hình nuôi cá
Loại hình nuôi cá của các nông hộ 100% là nuôi cá thịt, trong đó tại vùng Hải
Dơng có 64% là chỉ nuôi cá thịt trong ao và 36% là kết hợp nuôi cá thịt cùng với ơng
80
95
5
20
100
100
* Chu kỳ nuôi cá rô phi dòng NOVIT 4 và cá khác
Tháng/vụ
9.73
10
9.57
Cá rô phi dòng NOVIT 4
8.64
9
7.63
Cá khác
8
7
6
5
4