Đánh giá ảnh hưởng của thức ăn viên công nghiệp và thức ăn chế biến lên tốc độ tăng trưởng và hiệu quả kinh tế của cá rô phi vằn đơn tính dòng GIFT - Pdf 20

Phần I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay nghề nuôi trồng thủy sản đã và đang là ngành mang lại nhiều
lợi nhuận cho người dân và cũng là ngành kinh tế đóng góp lớn lượng ngoại
tệ cho nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, thủy sản đã trở thành ngành kinh tế quan
trọng góp phần tạo nguồn thực phẩm cho nhân dân và nguồn nguyên liệu cho
xuất khẩu.
Trong cơ cấu nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam thì diện tích nuôi lợ,
mặn chiếm chủ yếu còn nuôi nước ngọt thì ít hơn. Mặc dù vậy nhưng việc
nuôi các đối tượng nước ngọt vẫn được người dân tiến hành rộng rãi. Với các
ưu điểm như tận dụng được nguồn nước sẵn có của tự nhiên, dễ nuôi và yêu
cầu kỹ thuật không phức tạp, phù hợp với trình độ kỹ thuật của người dân
thường quen với việc nhà nông.
Trong quá trình phát triển, các hình thức canh tác thường xuyên được
đổi mới. Từ nuôi quảnh canh năng suất thấp cho đến ngày nay các quốc gia
đang hướng đến việc công nghiệp hóa ngành nuôi thủy sản. Đại bộ phận các
nước tiên tiến của khu vực và thế giới đã chuyển từ hình thức nuôi quảng
canh và quảng canh cải tiến sang nuôi bán thâm canh và thâm canh. Do đó
việc tìm kiếm các đối tượng nuôi và nguồn thức ăn phù hợp là vấn đề đặt ra
trong thực tiễn sản xuất. Đã có nhiều đối tượng đã được nghiên cứu để nuôi,
trong đó với những tính năng vượt trội cá rô phi vằn dòng GIFT với đặc điểm
có khả năng sử dụng loại thức ăn rẽ tiền dễ kiếm, nuôi trong nhiều hình thức
khác nhau, nuôi với mật độ cao, ăn rất mạnh và tốc độ tăng trưởng nhanh,
không bị dịch bệnh gây chết cá, thịt cá thơm ngon và dễ tiêu thụ là một đối
tượng được người nuôi cá rất ưa chuộng.
Mặc dù vậy hiệu quả kinh tế của việc nuôi cá rô phi còn khá thấp. Một
trong những nguyên nhân là do chi phí thức ăn ngày càng cao, đặc biệt khi sử
dụng thức ăn viên công nghiệp. Chính vì lý do làm tăng hiệu quả của nghề
nuôi cá rô phi, được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn, tôi đã thực hiện đề
1
tài: “Đánh giá ảnh hưởng của thức ăn viên công nghiệp và thức ăn chế
biến lên tốc độ tăng trưởng và hiệu quả kinh tế của cá rô phi vằn đơn

2.1.3. Đặc điểm sinh học và tập tính sống
Cá rô phi vằn dòng GIFT được Philippine lai tạo và chọn lọc từ 8 dòng
cá khác nhau, trong đó có 4 dòng cá châu Phi (Egypt, Ghana, Kenya,
3
Senegal) và 4 dòng cá rô phi thuần từ các nước Israel, Singapore, Đài Loan và
Thái Lan.
Năm 1993 cá rô phi vằn dòng GIFT được Viện nghiên cứu nuôi
trồng thuỷ sản 1 nhập vào nuôi thử nghiệm từ Philippine trong chương trình
dự án “Nâng cao phẩm giống di truyền cá rô phi nuôi” thông qua lai tạo và
chọn lọc từ các dòng cá khác nhau.
Cá rô phi vằn dòng GIFT sinh trưởng và phát triển trong nước ngọt,
nước lợ và có thể phát triển ở nước biển có độ mặn 32‰. Phát triển tối ưu ở
độ mặn dưới 15
o
/
oo
. Cá sống ở tầng nước dưới và đáy, có thể chịu đựng được
ở vùng nước có hàm lượng Oxy hoà tan thấp hơn 1mg/l, ngưỡng gây chết cho
cá khoảng 0,3-1mg/l. Giới hạn pH 5-11 và có khả năng chịu được hàm lượng
khí NH
3
lên tới 2,4 mg/l. Cá có nguồn gốc nhiệt đới, nhiệt độ thích hợp để cá
rô phi phát triển là 25
o
C-35
o
C, song chịu đựng kém với nhiệt độ thấp. Nhiệt
độ gây chết cho cá là 11-12
o
C.

nhiệt độ 20
0
C thời gian ấp của cá rô phi kéo dài khoảng 10-15 ngày, ở nhiệt
độ 28
0
C là 4-6 ngày và khi nhiệt độ tăng lên đến 34
0
C thì thời gian ấp trứng
chỉ còn từ 3-5 ngày. Cá bố mẹ còn tiếp tục bảo vệ và chăm sóc con cái đến
khi cá con có thể tự kiếm ăn được, thường thời gian chăm sóc kéo dài khoảng
1-4 ngày. Trong thời kỳ ấp trứng cá cái thường ngừng kiếm ăn. Chúng kiếm
ăn mạnh nhất khi thời kỳ ấp trứng đã kết thúc hoàn toàn và chuyển sang giai
đoạn tái phát dục lần tiếp theo. Giai đoạn kiếm ăn tích cực kéo dài khoảng 2-4
tuần đến khi cá đã sẵn sàng tham gia sinh sản lần kế tiếp. Chu kỳ sinh sản của
cá rô phi kéo dài khoảng 30-45 ngày từ khi phát dục lần đầu đến khi phát dục
lần kế tiếp. Tuy nhiên, khoảng cách giữa hai lần sinh sản còn phụ thuộc vào
điều kiện dinh dưỡng, hàm lượng ôxy hoà tan và nhiệt độ Trong điều kiện
khí hậu ở miền Nam nước ta thì cá có thể đẻ 10-12 lần/năm, nuôi ở miền Bắc
chỉ đẻ 5-7 lần/năm. Tuỳ theo kích cỡ và tuổi cá bố mẹ, thông thường mỗi lần
cá đẻ 1.000-2.000 trứng đối với cá có trọng lượng 200-250 g/con [1]
5
2.2. Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới.
Cá rô phi là những loài cá có nguồn gốc từ lưu vực sông Nil thuộc châu
Phi. Năm 1920 thí nghiệm về nuôi cá rô phi ở Indonesia, Malaysia một số
nước khác ở châu Á [2]. Trong những năm thập niên tám mươi, nuôi cá rô phi
đạt được sản lượng đáng kể giai đoạn này các nước Nam Mỹ như (Costaria,
Colombia, Brazil…). Nghề nuôi cá bắt đầu đi vào theo hướng sản xuất công
nghiệp. Cũng thời gian này ở một số nước châu Phi như (Nam Phi, Zimbabue,
Kenya) đã phát triển nuôi đối tượng này và đạt được năng suất và sản lượng
cao, không những phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn có khả năng

thị trường tiêu thụ lớn và thích hợp với nhiều tầng lớp người dân trong xã hội.
Do đặc điểm tự nhiên thuận lợi và có thị trường tiêu thụ lớn nên việc
nuôi cá rô phi trong lồng bè rất được phát triển ở các sông và hồ chứa các tỉnh
phía nam. Năng suất cá rô phi nuôi tại các lồng bè hiện nay từ 35 – 60 kg/m
3
lồng. Hiện nay có hai đối tượng cá rô phi đang được sử dụng trong nuôi lồng
là cá rô phi vằn và cá điêu hồng. Trong một thời gian dài cá điêu hồng gần
như chiếm ưu thế trên thị trường. Tuy nhiên vừa qua do quản lý chất lượng
đàn giống kém, nhiều cơ sở sản xuất giống đã để đàn cá bố mẹ lai tạp với
những loài cá rô phi khác nên màu sắc cá thay đổi, chất lượng thịt kém, cá
chậm lớn. Vì lý do này cá điêu hồng có giá bán giảm sút nhiều (từ 30.000
đ/kg - 40.000 đ/kg giảm còn 12.000-13.000 đ/kg). Do sự suy giảm nhu cầu
của thị trường cá điêu hồng, đồng thời với những tính năng vượt trội của
mình, cá rô phi dòng GIFT được người nuôi lựa chọn như là giải pháp có ý
nghĩa chiến lược [10].
Ở Thừa Thiên Huế việc nuôi cá rô phi đơn tính mới được bắt đầu từ
năm 1995 do một số hộ gia đình và trung tâm khuyến ngư thuộc sở thủy sản
tỉnh thực hiện. Hiện nay việc nuôi cá rô phi đơn tính đã được phát triển ra
diện rộng trên toàn tỉnh, nhất là các vùng ven đầm phá.
7
2.4. Một số vấn đề liên quan đến dinh dưỡng của cá rô phi
( Oreochromis niloticus)
Cá rô phi là loài cá được nghiên cứu khá kỹ về dinh dưỡng. Đã có
nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về nhu cầu dinh
dưỡng của cá rô phi đối với đạm và axit amin, năng lượng, các axit béo,
vitamin và các chất khoáng [14] . Ý kiến khá thống nhất cho rằng nuôi trong
điều kiện không có thức ăn tự nhiên, cá rô phi cỡ cá hương cần khoảng 50%
đạm đã cân bằng axit amin, với cá rô phi cỡ trên 30g nhu cầu này chỉ là 30 –
35% với cá rô phi cỡ lớn hơn giảm xuống còn 25 – 35%. Nhu cầu đạm ở cá rô
phi thay đổi theo cỡ cá, lượng thức ăn tụ nhiên có trong ao, bể nuôi và tùy

là nguồn đạm tốt hơn đạm của nguyên liệu khác như lạc, đậu tương, hạt
hướng dương, cùi dừa, hạt cải và hạt bông. Cũng theo Chhorn Lin (1990, Wu
và Jan, 1987) đã dùng đậu tương làm nguồn đạm để nuôi cá rô phi và có bổ
sung thêm riêng lẻ từng loại trong 10 axit amin mà cá cần. Hướng dùng các
phụ phẩm của nông nghiệp làm thức ăn nuôi cá rô phi là hướng phổ biến.
Người ta chú ý đến dùng nguyên liệu là thực vật khi nuôi cá rô phi bán thâm
canh và chú ý đến nguyên liệu lấy từ động vật hoặc bột cá khi nuôi thâm canh
Ở điều kiện nuôi bán thâm canh, người ta thường cho cá ăn thức ăn có
nguồn gốc thực vật như cám gạo, bã bia, thực vật ủ…(P. Edwards, Kmall M.
& Wee K. L 1985) [16]
Nuôi cá rô phi bán thâm canh trong ao ở Isarel người ta thường dùng
công thức thức ăn 25% Protein theo hai công thức 15% bột cá; 20% bột đậu
tương; 20% lúa mỳ; 45% lúa miến hoặc 8% bột lành canh; 28,8% bột đậu
tương (có 48% đạm); 59,4 hạt hoặc phụ phẩm của hạt; 2% chất kết dính, 1,5%
dicanxium photphas; 0,25% hỗn hợp vitamin và 0,05% hỗn hợp khoáng. Khi
nuôi cá nước chảy trong lồng, do cá chỉ dựa vào thức ăn nhân tạo làm nguồn
9
dinh dưỡng là chủ yếu nên công thức thức ăn phải có đầy đủ dinh dưỡng hơn,
đạt 32% Protein với các thành phần nguyên liệu là 12% bột lành canh; 43%
bột đậu tương; 38,8 hạt; 1,9% mỡ; 2% chất kết dính; 2% dicanxium photphas;
0,25% hỗn hợp vitamin và 0,25% hỗn hợp khoáng (Chhorn Lin, 1990;
K.J.Rana & M.C.M. Beveridge (1992) [13] đã giới thiệu một số công thức
thức ăn thích hợp để nuôi thâm canh có kết quả, trong đó dùng đến 2 – 3
nguồn đạm động vật.
Những kết quả nuôi cá rô phi ở châu Phi đã cho phép rút ra những gợi ý
tốt về nguyên liệu làm thức ăn nuôi loài cá này J. Lajrad, P. Morissen và
P.Parel (1990) đã lưu ý đến vai trò của bột cá trong việc tăng năng suất cá
nuôi. Các tác giả cho biết khi cho cá rô phi ăn thức ăn hỗn hợp có 69% cám
gạo + 31% khô dầu bông, năng suất cá thu được là 11 tấn/ha/năm; còn nếu
cho cá ăn thức ăn có 75% cám gạo+ 15% khô dầu bông+ 10% bột cá sẽ thu

sau: bột cá 40%; đỗ tương 15%; ngô 25%; cám gạo 19%; vitamin 1% và nuôi
cá rô phi thịt với các thức ăn : bột cá 10%; đỗ tương 12%; khô lạc 15%; cám
gạo 40%; ngô 17%; sắn 5% và vitamin 1% [4].
11
Phần ba
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại thức ăn gồm: thức ăn viên
nổi của công ty Proconco sản xuất và thức ăn tự chế biến theo công thức phối
trộn của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I (cám gạo 60% + bột bắp 20%
+ bột cá 20 % )
Khách thể nghiên cứu là cá rô phi dòng GIFT (Oreochromis niloticus )
Ngành phụ có hàm: Gnathostomata
Lớp cá xương: Osteichthyes
Bộ cá vược: Perciformes
Họ: Cichlidae
Loài cá rô phi dòng GIFT: Oreochromis niloticus
Tên tiếng anh: Tilapia
3.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
3.2.1. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trong thời gian từ tháng 6/1 đến 9/5 năm 2010
3.2.2. Địa điểm nghiên cứu
Trung tâm giống thủy sản nước ngọt cấp I, tỉnh Thừa thiên Huế
3.3. Vật liệu nghiên cứu
3.3.1. Các loại thức ăn
- Thức ăn viên nổi của công ty Proconco sản xuất
- Thức ăn chế biến theo công thức phối trộn của Viện Nghiên cứu nuôi
trồng thủy sản I (cám gạo 60% + bột bắp 20% + bột cá 20 % )
3.3.2. Bố trí thí nghiệm
12

2
)
- Cho ăn: Khẩu phần ăn của cá rô phi qua các độ tuổi được áp dụng
theo Tacon (1988) được chỉ ra ở bảng I
Bảng 1. Khẩu phần của cá rô phi ở các lô thí nghiệm
Cỡ cá (g) Tỷ lệ thức ăn (% trọng lượng cở thể)
0 – 5 30 giảm xuống 20
5 – 20 14 giảm xuống 12
20 – 40 7 giảm xuống 6,5
100 – 200 4 giảm xuống 2
200 – 300 1,8 giảm xuống 1,5
( Nguồn: Melard and Philippart,1981. Trích dẫn của tacon, 1988)
- Số lần cho ăn trong ngày: Thức ăn được chia đều và cho ăn 2 bữa/
ngày vào các thời điểm, sáng 8h, chiều 16 h
3.4. Nội dung và chỉ tiêu nghiên cứu
3.4.1. Sự biến động của các yếu tố môi trường trong ao nuôi:
Theo dõi sự biến động một số yếu tố môi trường trong ao nuôi thí
nghiệm gồm các chỉ tiêu theo dõi là: nhiệt độ, chỉ số pH và hàm lượng oxy
hoà tan.
3.4.2. Sinh trưởng của cá rô phi đơn tính khi sử dụng các loại thức
ăn thí nghiệm:
Nghiên cứu sinh trưởng của cá rô phi đơn tính khi sử dụng các loại
thức ăn thí nghiệm thông qua các chỉ tiêu sau:
 Tăng trưởng về chiều dài
14
 Khả năng tăng trọng
 Tăng trưởng về chiều dài
 Tỉ lệ sống
 Hệ số sử dụng thức ăn FCR.
3.4.3. Hoạch toán kinh tế

n
i
i
X
n
X
1
1
Tính độ lệch chuẩn:
( )
n
XX
S
n
i
i

=

±=
1
2
Trong đó:
X
: Giá trị trung bình
i
X
: Số liệu thu lần thứ i
n: Số mẫu kiểm tra
Sai số chuẩn của giá trị trung bình

17
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiên của trung tâm giống thuỷ sản nước ngọt cấp I
4.1.1. Vị trí địa hình
Thừa Thiên Huế là một tỉnh duyên hải Miền Trung Việt Nam nằm
trong toạ độ 16
0
10 đến 16
0
35 độ vĩ Bắc, 106
0
30 đến

108
0
10 độ kinh Đông.
Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp Thành phố Đà Nẵng, phía Đông
giáp biển Đông với 126 km chiều dài bờ biển. Tỉnh Thừa Thiên Huế có hệ
thống đầm phá nước lợ chạy dọc gần hết chiều dài ven biển của tỉnh với tổng
diện tích 22.000 ha nằm trong khu vực chế độ bán nhật triều không đều.
Chiều dài của hệ đầm phá thông qua các huyện Phong Điền, Quảng Điền,
Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc gồm 5 khu vực chuyển tiếp nhau từ Bắc vào
Nam: Phá Tam Giang, đầm An Truyền, đầm Sam, Đầm Thuỷ Tú, đầm Cầu
Hai.
Trung tâm Giống Thuỷ sản nước ngọt cấp I, Thừa Thiên Huế thuộc Sở
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thừa Thiên Huế nằm trong địa phận xã
Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, nằm trên vùng đất bán sơn địa cách trung
tâm thành phố Huế 5 km về phía Tây, gần đồi Thiên An.
4.1.2. Đặc điểm thời tiết khí hậu

Nắng là nguồn năng lượng không thể thiếu được trong quá trình quang hợp
của sinh vật, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự sinh trưởng và phát
triển của cá.
+ Về gió: Gió mùa Đông thổi theo hướng Bắc Nam, dần dần chuyển
sang hướng Đông Bắc. Tốc độ gió mùa Đông ở vùng đồng bằng bình quân 1,5
m/s. Gió mùa Đông Bắc không liên tục, tràn về từng đợt, kèm theo những đợt
rét và mưa phùn dẫn đến nhiệt độ môi trường hạ thấp.
Gió mùa hè chủ yếu thổi từ lục địa ra biển. Do bị chắn bởi dãy Trường
Sơn nên khi gió mùa vượt qua thổi ra biển mang theo hơi nóng. Đây là đặc
trưng của gió Tây Nam khô và nóng.
+ Về các yếu tố thuỷ hoá: do nhiệt độ luôn luôn biến động, giữa mùa
nắng, mùa mưa chênh lệch nhau nên ảnh hưởng đến độ pH và lượng oxy hoà
tan, pH giao động từ 5 - 7,5. Lượng oxy hoà tan từ 4-8 mgO
2
/lít.
4.1.3. Nguồn nước và chế độ thuỷ văn:
Trung tâm Giống thủy sản nước ngọt cấp 1 nằm trên vùng đất bán sơn địa
cách trung tâm thành phố Huế 5 km về phía Tây, gần hồ Thủy Tiên. Do đó có
điều kiện nguồn nước rất thuận lợi. Trung tâm đã đầu tư đường ống dẫn nước
bằng gang để lấy nước tự chảy từ hồ Thủy Tiên về phục vụ sản xuất. Nguồn
nước ở đây được duy trì quanh năm, các yếu tố môi trường nước rất thích hợp
cho việc sinh sản nhân tạo và sản xuất cá giống nước ngọt. Hàng năm Trung tâm
đã tiết kiệm được nhiều chi phí nhờ sử dụng nguồn nước tự nhiên này.
19
4.1.4. Sơ đồ Trung tâm giống thủy sản nước ngọt cấp I - Thừa Thiên Huế
Sơ đồ 2: Sơ đồ bố trí hệ thống sản xuất của Trung Tâm
A. Nhà tập thể; B. Nhà cân thức ăn và làm việc; C. Nhà truyền
thống;
D. Nhà kho thức ăn và dụng cụ lao động;
E. Nhà ấp trứng cá bằng khay ấp và bình vây;

4
D
1
D
2-3
D
9
C
6
C
5
C
4
C
3
C
2
A
6
C
1
B
1
B
4
B
3
B
2
B

Chức vụ Số lượng (người)
Giám đốc 1
Phó giám đốc 1
Kế toán 1
Thủ quỹ 1
Tạp vụ 1
Cán bộ kỹ thuật 5
Công nhân 6
Bảo vệ 3
Tổng 19

Sơ đồ 3: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của trung tâm
4.1.5. Lịch sử phát triển và tình hình sản xuất Trung tâm giống
thuỷ sản nước ngọt cấp I
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÒNG KỸ THUẬT
GIÁM ĐỐC
TỔ
KẾ HOẠCH
TỔ
KẾ TOÁN
TỔ
KỸ THUẬT
TỔ
SẢN XUẤT
KẾ HOẠCH TỔNG HỢP
21
TỔ
BẢO VỆ
-Tổng diện tích đất đai thuộc xí nghiệp quản lý là 12ha, trong đó tổng

Đối tượng
Năm
Chép Trắm Mè Trôi Tổng
1996 172 954 128,4 84 1338,4
1997 80 126,5 12,6 100 319,1
1998 121 22 120 165 428
1999 82,5 13 129,9 102,3 327,7
2000 197 36,4 195 268 696,4
Bảng 4. Kế hoạch và thực hiện sản xuất cá giống nước ngọt của
trung tâm qua 3 năm (2006-2008)
CHỈ TIÊU ĐVT
NĂM 2006 NĂM 2007 NĂM 2008
Kế
hoạch
Thực
hiện
Kế hoạch
Thực
hiện
Kế
hoạch
Thực
hiện
1. Cá rô phi đơn
tính
Con
1.900.00
0
1.892.000 2.500.000 2.458.000
2.800.00

(Nguồn số liệu: Báo cáo kế hoạch và thực hiện sản xuất của Trung tâm - Từ
phòng Kế hoạch kinh doanh)
23
4.1.6. Những thuận lợi, khó khăn và phương hướng phát triển của
Trung tâm
* Thuận lợi
- Trung tâm có vị trí thuận lợi, gần đường quốc lộ, xa khu dân cư, giao
thông thuận lợi, môi trường ít bị ô nhiễm, an ninh trật tự được bảo đảm.
- Cơ sở vật chất đầy đủ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.
- Có đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lâu năm, lành nghề và giàu kinh
nghiệm.
- Quan hệ khách hàng của trung tâm rộng rãi, có uy tín.
- Có nguồn nước tự chảy, đảm bảo đầy đủ cho quá trình sản xuất giống
và ương nuôi các loại thủy đặc sản được chủ động, ít tốn kém.
- Cho sinh sản được nhiều đối tượng mới.
* Khó khăn
- Nguồn cá bố mẹ do sử dụng lâu ngày nên có chiều hướngCác đối
tượng nuôi ngày càng thoái hóa nhưng trung tâm chưa có điều kiện để chọn
và nhân giống trở lại.
- Một số đối tượng chưa cho sinh sản được mà phải nhập từ nơi khác.
- Chất đáy và nguồn nước của trung tâm thuộc vùng núi nên kém dinh
dưỡng, độ pH thấp.
- Sự cạnh tranh của các cơ sở sản xuất tư nhân với Trung tâm ngày
càng gia tăng.
* Phương hướng phát triển của Trung tâm trong thời gian tới
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang phát triển, bên cạnh những
thuận lợi và khó khăn, thách thức, nhất là đối với các đơn vị trong nghề nuôi
trồng thủy sản thì càng khó khăn hơn, đặc biệt là khó khăn khi phải đối mặt với
thiên tai, lũ lụt như hiện nay. Để sản phẩm cá giống của Trung tâm đứng vững
trên thị trường và ngày càng phát triển hơn, trung tâm cần phải thực hiện một

diện tích ao hồ, xây dựng các hệ thống cấp và thoát nước để có thể nâng cao
sản lượng sản xuất. Mặt khác cần phải đa dạng hoá đối tượng cá giống, vì hiện
nay trung tâm chủ yếu chỉ sản xuất kinh doanh các đối tượng cá giống như cá
rô phi đơn tính, cá trắm cỏ, cá mè, cá trê lai Trong khi đó các đối tượng giống
thủy sản nước ngọt khác có hiệu quả kinh tế cao và cũng là đặc sản như cá
chình, cá bống tượng, tôm càng xanh ,có giá trị xuất khẩu cao thì Trung tâm
chưa sản xuất để bán ra thị trường. Vì vậy việc đa dạng hoá sản phẩm là rất
25

Trích đoạn 0C Sáng Chiều Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng chiều dài của cá cá rô phi vằn đơn tính dòng GIFT Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng về trọng lượng của cá cá rô phi vằn đơn tính dòng GIFT.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status