Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi ngao của các hộ nông dân xã đông minh, huyện tiền hải, tỉnh thái bình - Pdf 23

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung
thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào
khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Lương Thị Thuyến
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt ngiệp của mình, ngoài sự cố gắng của bản
thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của
các thầy, cô giáo khoa Kinh tế và phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, quan tâm,
chỉ dẫn tận tình của thầy giáo TS. Hồ Ngọc Ninh và CN. Nguyễn Anh Đức đã
trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm khóa luận.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới ban lãnh đạo UBND xã Đông
Minh, các hộ nuôi ngao, cán bộ, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, tiêu
thụ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu
phục vụ cho khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã
giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Lương Thị Thuyến

nghiên cứu một số mục tiêu cụ thể là: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn
về hiệu quả kinh tế nuôi ngao; Đánh giá thực trạng nuôi ngao và hiệu quả
kinh tế của các hộ nông dân trên địa bán xã Đông Minh, huyện Tiền Hải, tỉnh
Thái Bình; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nuôi ngao của
các hộ nông dân xã Đông Minh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Đề xuất một
số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi ngao của các hộ nông dân ở xã
Đông Minh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
Trong đề tài nghiên cứu tôi có sử dụng các phương pháp: thu thập số liệu,
xử lý số liệu (phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tổ thống kê,
phương pháp hạch toán kinh tế) trong đó phương pháp thống kê mô tả và hạch
toán kinh tế được sử dụng chủ yếu dể tổng hợp kết quả điều tra, từ đó tính toán
được các chỉ số đánh giá hiệu quả kinh tế đồng thời qua số liệu đã được xử lý
phân tích được các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế nuôi ngao.
Qua việc nghiên cứu, phân tích số liệu ta thấy rằng việc nuôi ngao của
người dân trong xã được bắt đầu từ năm 1994 vời giống ngao dầu (ngao đỏ),
nhưng do giống ngao này có năng suất thấp khả năng chịu bệnh kém nên năm
2002 người dân bắt đầu chuyển sang nuôi giống ngao trắng cho năng suất và
hiệu quả kinh tế cao hơn. Diện tích nuôi ngao tăng lên theo từng năm nhưng
sản lượng và giá trị sản xuất lại có sự biến động thất thường năm 2012 giảm
đi so với năm 2011 và sang năm 2013 lại có sự tăng lên tuy nhiên tốc độ tăng
của sản lượng lại cao hơn so với tốc độ tăng của giá trị sản xuất. Sở dĩ có việc
này là do năm 2012 có một số diện tích ngao bị thất thu do môi trường bị ô
nhiễm ngao chết hàng loạt, sang năm 2013 tuy sản lượng ngao tăng đột biến
nhưng ngao lại bị rớt giá. Năm 2013 sản lượng ngao đạt được là 7900 tấn, giá
trị sản xuất đạt 88,56 tỷ đồng chiếm 79,7% tổng già trị nuôi trồng thủy sản.
Giải quyết việc làm cho khoảng 1.135 lao động thường xuyên và khoảng
2000 lao động thời vụ, góp phần làm tăng thêm thu nhập và cải thiện đời sống
của người dân tại đây.
iv
Qua nghiên cứu thực tế nuôi ngao tại xã Đông Minh ta có thể thấy được

sở đánh giá các yếu tố ảnh hưởng, nghiên cứu đã đề ra một số giải pháp sau:
quy hoạch lại các diện tích nuôi; cải thiện môi trường nuôi ngao bằng việc
thắt chặt công tác quản lý chất thải từ các nhà máy, khu công nghiệp; đào tạo
chuyên sâu cho các bộ khuyến ngư, tăng cường tập huấn kỹ thuật nuôi ngao
cho các hộ nuôi; thúc đẩy mối quan hệ giữa nông dân với các tổ chức tín dụng
tạo điều kiện cho người dân vay vốn; đầu tư xây dựng các trại giống cơ sở
nghiên cứu và sản xuất giống đảm bảo chất lượng ở tại địa phương; liên hệ và
tìm thị trường tiêu thụ ổn định cho con ngao.
Cuối cùng, từ kết quả nghiên cứu, đưa ra một số kiến nghị cho nhà
nước, chính quyến địa phương và cho chính các hộ dân nuôi ngao nhắm nâng
cao hiệu quả kinh tế cho các hộ nông dân.
vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
MỤC LỤC vii
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xi
PHẦN I 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
PHẤN II 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

4.1.2 Thực trạng sản xuất ngao của các hộ điều tra 50
4.1.3 Tình hình tiêu thụ ngao của các hộ điều tra 59
4.1.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi ngao của các hộ điều tra 61
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nuôi ngao của các hộ điều tra 64
4.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất 64
4.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố thị trường 75
4.2.3 Ảnh hưởng của các yếu tố chính sách 76
4.2.4 Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên 78
4.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi ngao trên địa bàn xã Đông Minh 79
4.3.1 Căn cứ để đề xuất giải pháp 79
4.3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi ngao của hộ nông dân 80
viii
PHẦN V 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
5.1 Kết luận 87
5.2 Kiến nghị 89
5.2.1 Đối với nhà nước 89
5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 89
5.2.3 Đối với người nuôi ngao 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 92
ix
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Tình hình đất đai của xã Đông Minh giai đoạn 2011-2013 38
Bảng 3.2. Tình hình dân số, lao động của xã Đông Minh giai đoạn 2011-2013. .40
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Đông Minh giai đoạn 2011 -2013
43
Bảng 4.1 Kết quả nuôi ngao của xã Đông Minh giai đoạn 2010 – 2013 49
Bảng4.2 Thông tin chung của các hộ nuôi ngao điều tra 50
Bảng 4.3 Giá trị tài sản cố định cho 1ha nuôi ngao 54

HQKT
HQKTh
HQMT
HQPB
HQXH
IC

MI
NTTS
SL
TB
THCS
THPT
TP.HCM
Tr.đ
TSCĐ
UBND
VA
Diễn giải
Bình quân
Cơ cấu
Đồng bằng sông Hồng
Đơn vị tính
Tổ chức lương thực và nông nghiêp liên hiệp quốc
Giá trị sản xuất
Giá trị sản xuất
Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kỹ thuật
Hiệu quả môi trường
Hiệu quả phân bổ

lượng, giá trị xuất khẩu và tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân, đặc biệt
là vùng nông thôn ven biển.
Thái Bình là tỉnh đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng cận nhiệt đới
ẩm, có 5 cửa sông lớn đổ ra biển, tạo ra một vùng bãi triều rộng khoảng
25.000 ha rất thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản mặn, lợ, trong đó có
nuôi ngao. Nhiều năm qua, nông dân vùng ven biển các huyện Tiền Hải, Thái
Thụy đã đầu tư nuôi ngao cho giá trị kinh tế hàng trăm tỷ đồng, góp phần xóa
đói giảm nghèo, làm giàu cho ngư dân vùng biển. Thái Bình có 2 huyện giáp
biển và 12 xã giáp biển có bãi triều có khả năng nuôi ngao, trong đó có xã
Đông Minh thuộc huyện Tiền Hải
Đông Minh là xã mới ven biển thuộc khu Đông huyện Tiền Hải, được
thành lập từ khoảng sau năm 1955 – 1956, có điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển nghề nuôi ngao với 317 ha diện tích nuôi ngao, điều kiện tự nhiên
1
phù hợp với đặc điểm sinh học của ngao. Nuôi ngao là một nghề cho thu nhập
cao, nhờ nuôi ngao mà nhiều hộ nông dân trong xã đã giàu lên nhanh chóng.
Bên cạnh những tiềm năng thì vẫn còn tồn tại những hạn chế như hình thức
nuôi tự phát, nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch; kỹ thuật nuôi của người dân chưa tốt;
nhiều hộ nuôi với mật độ dày, khi gặp thời tiết bất lợi xảy ra tình trạng ngao
chết hàng loạt, không những gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến
môi trường sinh thái vùng bãi triều ven biển Trước tình hình đó việc tìm
hiểu và đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi ngao của các hộ nông dân xã Đông
Minh là cần thiết để thấy được lợi ích và những khó khăn nghề nuôi ngao gặp
phải để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của nuôi ngao
trong xã trong thời gian tới.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “ Đánh giá
hiệu quả kinh tế nuôi ngao của các hộ nông dân xã Đông Minh, huyện
Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung

2. Tình hình nuôi ngao của hộ nông dân ở xã Đông Minh diễn ra như thế nào?
Hiệu quả kinh tế nuôi ngao của các hộ nông dân như thế nào?
3. Những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất ngao ở xã Đông Minh là gì?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nuôi ngao các hộ nông dân
trên địa bàn xã Đông Minh?
4. Có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi ngao của các hộ
nông dân ở xã Đông Minh?
PHẤN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
3
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm và phân loại hiệu quả kinh tế
2.1.1.1 Khái niệm
Hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực
hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết
quả đó trong những điều kiện nhất định.
Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng
của hoạt động kinh tế, là thước đo trình độ tổ chức và năng lực quản lý kinh
doanh của các doanh nghiệp. Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế - xã
hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã
hội, khi nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng
cao hiệu quả kinh tế đòi hỏi khách quan của mọi nền xản xuất xã hội.
Xuất phát từ giác độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra
nhiều quan điểm khác nhau về HQKT.
Quan điểm thứ nhất: Trước đây người ta coi HQKT là kết quả đạt được
trong hoạt động kinh tế. Ngày nay quan điểm này không còn hợp lý, bởi vì
nếu cùng một kết quả nhừn hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này
chúng có cùng một hiệu quả.
Quan điểm thứ hai: Hiệu quả đạt được xác định bằng nhịp độ tăng
trưởng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả sẽ cao khi nhịp độ

xuất, khi người xản cuất với các trình độ ký thuật khác nhau sẽ có số sản
phẩm khác nhau là bao nhiêu.
Hiệu quả phân bổ (HQPB): Là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá
sản phẩm và giá đầu vào. HQPB phản ánh giá trị tăng thêm trên một đồng chi
phí tăng thêm. Thực chất của HQPB là hiệu quả kỹ thuật có tính đến yếu tố
giá đầu vào và đầu ra. Vì thế nó còn được gọi là hiệu quả về giá. Việc xác
5
định hiệu quả này giống như việc xác định các điều kiện về mặt lý thuyết biên
để tối đa hóa lợi nhuận.
Hiệu quả kinh tế (HQKT): Là phạm trù kinh tế trong đó sản xuất đạt
hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều kiện đó có nghĩa là cả hai yếu tố
hiện vật và giá trị đề được tính đến khi xem xét và sử dụng các nguồn lực
trong sản xuất. Nếu chỉ đạt được một trong hai yếu tố đó thì mới đạt được
điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để đạt HQKT. Chỉ khi nào việc
sử dụng nguồn lực đạt được cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân
bổ, khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả.
Đánh giá kinh tế cần phải xem xét tới HQKT trong mối tương quan với
hiệu quả xã hội (HQXH) và hiệu quả môi trường của tổng thể nền kinh tế ở
giai đoạn trước mắt và lâu dài vì HQKT và HQXH có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Cụ thể là khi đánh giá HQKT không thể loại bỏ những mục tiêu về
lợi ích xã hội như nâng cao trình độ văn hóa xã hội và đáp ứng các nhu cầu xã
hội ngày càng tốt hơn. Đó là quan điểm đúng và đủ trong mối quan hệ giữa
kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô, phù hợp với phát triển kinh tế hiện nay.
Hiệu quả xã hội (HQXH): Là kết quả của các hoạt động kinh tế xét
trên khía cạnh công ích phục vụ lợi ích cho toàn xã hội. Cùng với HQKT,
hoạt động sản xuất còn tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế xã
hội như cải thiện và nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân
dân, tạo việc làm tăng thu nhập, giảm tỷ lệ thất nghiệp…
Hiệu quả môi trường (HQMT): Là các tác động đến môi trường tự
nhiên của hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiện nay, HQMT đang được các

doanh và tiết kiệm chi phí các nguồn lực. Nói cách khác, bản chất của HQKT
là vần đề nâng cao năng suất lao động xã hội xà tiết kiệm lao động xã hội.
7
Việc làm rõ bản chất của phạm trù HQKT cần phải phân định rõ sự khác
nhau nhưng lại có mối quan hệ khăng khít với nhau giữa kết quả và hiệu quả.
Kết quả phản ánh về mặt định lượng mục tiêu đạt được bằng hệ thống các chỉ
tiêu kế hoạch đề ra, không đề cập đến cách thức, chi phí bỏ ra để đạt được mục
tiêu đó. Bản chất của kết quả không thể hiện được chất lượng. Hiệu quả thể hiện
một cách toàn diện về mặt định lượng và định tính, về định lượng hiệu quả thể
hiện mối tương quan giữa chi phí đầu vào và kết quả đầu ra.
HQKT được xem xét trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội, hiệu quả
môi trường và phát triển bền vững, với hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.
Trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội thì HQKT chủ yếu phản ánh về mặt
hiệu quả sản xuất còn hiệu quả xã hội phản ánh tương quan so sánh giữa kết
quả đạt được về mặt xã hội với chi phí bỏ ra để đạt hiệu quả đó. Những hiệu
quả đạt được về mặt xã hội bao gồm các vấn đề như: tạo việc làm cho người
lao động, cải thiện đời sống, giải thích thỏa đáng các lợi ích trong xã hội cải
thiện điều kiện môi trường. HQKT xét trong mối quan hệ với hiệu quả môi
trường và phát triển bền vững được tạo ra với những tác động tích cực để tạo
được tốc độ tăng trưởng kinh tế thỏa mãn yêu cầu của xã hội, phải đảm bảo
các lợi ích về mặt xã hội nhưng phải bảo vệ môi trường ở cả hiện tại và tương
lai. HQKT trong mối quan hệ với hiệu quả về mặt kỹ thuật và hiệu quả về mặt
phân bổ được tạo ra khi đã thỏa mãn cả hai hiệu quả này. Trong đó hiệu quả
kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị đầu vào hoặc
các nguồn lực được sử dụng và sản xuất trong điều kiện cụ thể về kỹ thuật và
công nghệ. Hiệu quả kỹ thuật chủ yếu dựa vào bản chất công nghệ được áp
dụng, khả năng của người lao động và môi thường kinh tế xã hội mà ở đó kỹ
thuật được áp dụng. Hiệu quả phân bổ là các chỉ tiêu hiệu quả trong đó các
yếu tố giá đầu vào và giá đầu ra được xét đến để phản ánh giá trị sản phẩm
thu thêm khi tăng thêm một đồng chi phí đầu vào. Thực chất đây là hiệu quả

9
Việc thay nước cũng chủ yếu dựa vào chế độ thủy triều nhưng có thể trang bị
thêm máy bơm để chủ động trong việc điều chỉnh mức nước, do phải đầu tư
thêm trong quá trình nuôi nên diện tích đầm nuôi thường nhỏ hơn.
Nuôi bán thâm canh: Là hình thức nuôi trồng có áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật trong quá trình sản xuất con giống, sản xuất thưc ăn cũng như
quản lý và chăm sóc hàng ngày. Ở hình thức nuôi này đã hình thành nuôi
chuyên canh một loại hải sản nhất định. Diện tích của từng đầm nuôi thường
nhỏ. Đây là hình thức nuôi được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam vì nó phù hợp
vớ khả năng đầu tư cũng như kiến thức nuôi trồng của ngư dân.
Nuôi thâm canh (nuôi công nghiệp): Là hình thức nuôi trong đó con
người hoàn toàn chủ động về số lượng con giống, dùng thức ăn nhân tạo, mật
độ thả giống cao. Máy móc thiết bị đầy đủ, kỹ thuật viên được trang bị đầy đủ
các dụng cụ để quản lý. Hình thức này đòi hỏi đầu tư lớn về vốn và kiến thức.
đây cũng là hình thức nuôi độc canh.
Nuôi siêu thâm canh: Là hình thức nuôi hiện đại, sử dụng một tập hợp
máy móc và thiết bị để tạo ra cho đối tượng nuôi có những điều kiện sống tối
ưu. Nuôi siêu thâm canh thường ở diện tích nhỏ mật độ giống cao, chu kỳ
nuôi ngán. Các hình thức được trang bị trong hình thức nuôi này gồm hệ
thống làm sạch nước, hệ thống tăng dưỡng khí, hệ thống chế nhiệt độ, hệ
thống cung cấp thức ăn phù hợp với từng giai đoáninh thưởng của thủy sản.
2.1.2.3 Phương pháp xác định hiệu quả
Dựa trên các chỉ tiêu, phương pháp đánh giá, phân tích so sánh kết quả
sản xuất qua các năm. Ta có thể tổng hợp các phương pháp tính bằng các
công thức:
Công thức 1: H = Q/ C
Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả sản xuất
C: Chi phí sản xuất
10

tiêu tỷ số giữa kết quả sản xuất với chi phí dịch vụ đầu tư và lao động thì
chưa toàn diện bởi chỉ tiêu này chưa phản ánh được quy mô sản xuất.
2.1.3 Đặc điểm sinh học và kỹ thuật trong nuôi ngao
2.1.3.1 Giới thiệu chung vế họ ngao
Họ Ngao có 40 loài thuộc 7 nhóm giống phân bố dọc bờ biển từ Bắc vào
Nam.Vùng ven biển phía Bắc có Ngao dầu, Ngao mật, vùng ven biển phía Nam
có Nghêu. Ngao và Nghêu là nhóm nhuyễn thể có tiềm năng lớn ở vùng triều
nước ta, kỹ thuật nuôi không phức tạp, chu kỳ nuôi ngắn, đầu tư ít lại có giá trị
xuất khẩu. Nuôi Ngao, Nghêu (sau đây gọi tắt là Ngao) còn là biện pháp tích cực
bảo vệ nguồn lợi này và làm sạch môi trường đáy vùng triều.
Ngao phân bố trên các bãi triều, trong các eo vịnh có đáy là cát pha
bùn (cát chiếm 70-80%), sóng gió nhẹ, có lượng nước ngọt nhất định chảy
vào. Nếu đáy nhiều bùn, Ngao dễ bị chết ngạt, nếu đáy cát (100%) Ngao bị
khô nóng.
Ngao là loài nhuyễn thể sống rộng nhiệt, thích nghi được nhiệt độ từ 5
đến 35
0
C, ở khoảng 18-30
0
C Ngao sinh trưởng tốt nhất. Giới hạn chịu nhiệt
của Ngao là 43
0
C, Ngao chết 50% ở nhiệt độ 44
0
C và chết toàn bộ ở nhiệt độ
45
0
C, ở nhiệt độ -2 đến -3
0
C, Ngao chỉ chết khoảng 10% trong 3 tuần.

sông và bị dòng triều cuốn ra phân bố trên dải cát thấp dọc bờ biển. Ngao sinh
sản vào đầu mùa mưa ( khoảng tháng 4) đến tháng 5 sẽ thành Ngao “ cám”
nhỏ bằng nửa hạt gạo (1mm), có thể khai thác giống đưa vào bãi ương.
Thời gian khai thác trong các tháng 5, 6, 7.
13
Phương pháp khai thác giống bằng cào lưới thủ công với mặt lưới thích
hợp để thu bặt Ngao “cám”: dùng cào gắn lưới nạo sâu xuống mặt cát khoảng
2-3 cm, cát lọt qua lưới, giống được giữ lại bên trong lưới, Ngao giống thu
được sẽ đồng đều, ương nuôi đạt hiệu quả và chất lượng cao.
Giống được đóng trong bao thấm nước, không quá 10kg/bao, nên vận
chuyển vào ban đêm bằng phương tiện thuỷ, tránh mưa, thời gian từ lúc thu
giống đến khi thả ương không quá 12-16 giờ.
Lựa chọn bãi giống
Bãi giống được lựa chọn ngoài việc dựa trên các kinh nghiệm, còn có
thể lựa chọn bãi giống theo các điều kiện sau:
Bãi giống có thể là bãi ngao trưởng thành hoặc gần bãi ngao trưởng thành.
Đáy là cát bùn (trong đó cát chiếm 70 – 80%).
Nước triều lên xuống đều, không phơi đáy quá 4 giờ/ngày, độ mặn
trung bình từ 15 - 25‰, có lượng nước ngọt nhất định đổ vào.
Bãi có độ sâu nhất định trong toàn vùng bãi triều, có thể là vùng nước
quẩn: ấu trùng ngao trong giai đoạn sống phù du chịu ảnh hưởng rất lớn của dòng
chảy, thông thường theo chiều của dòng thuỷ triều, ấu trùng thường bị cuốn đi xa
so với bãi đẻ. Đó chính là lý do khi thấy con giống tập trung theo bãi.
Ngoài ra, còn có thể lựa chọn bãi giống tại một vị trí nhất định, có bờ
chắn lũ, đắp các bờ có bề rộng từ 30 – 40cm, cao 40cm song song với bờ
chắn lũ, chia các ngăn thành từng ô nhỏ, có thể dùng lưới hoặc cây gỗ để làm
giảm lưu tốc nước của thủy triều.
Đối với các bãi giống đã được lựa chọn cần có biện pháp quản lý thích
hợp như thường xuyên kiểm tra bờ bãi, chống nóng, không cho người đi vào,
chống nóng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status