BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN CHÂU LONG ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ ĐÁNH GIÁ
HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI NGHỀ NUÔI CÁ
BỐNG BỚP (Bostrichthys sinensis Lacepède, 1801)
THƯƠNG PHẨM TẠI TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Nuôi trồng thuỷ sản
Mã số: 60 62 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM XUÂN THỦY Nha Trang - 2011 i
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN 1
CHƯƠNG 2 29
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
2.2. Phương pháp luận 29
2.3. Thu thập số liệu 29
2.3.1. Số liệu thứ cấp 29
2.3.2. Số liệu điều tra 29
2.4. Xử lý và phân tích số liệu 30
2.4.1. Xử lý số liệu 30
2.4.2. Phân tích số liệu 31
2.5. Các chỉ tiêu xác định kết quả sản xuất 31
2.6. Các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế 32
CHƯƠNG 3 34
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1. Hiện trạng kinh tế - xã hội của các hộ nuôi cá bống bớp tại Nam Định 34
3.1.1. Những thông tin về chủ hộ nuôi cá bống bớp 34
3.1.1.1. Tuổi của chủ hộ 34
3.1.1.2. Giới tính của chủ hộ nuôi cá bống bớp 34
3.1.1.3. Trình độ học vấn của chủ hộ nuôi cá 35
3.1.1.4. Trình độ chuyên môn của chủ hộ 35
3.1.1.5. Số lượng chủ hộ có sử dụng điện thoại di động 36
3.1.2. Thông tin về chủ hộ nuôi cá bống bớp 36
3.1.2.1. Số nhân khẩu và lao động của chủ hộ nuôi 36
3.1.2.2. Đất đai của chủ hộ nuôi cá bống bớp 36
3.2. Hiện trạng kỹ thuật của nghề nuôi cá bống bớp thương phẩm tại Nam Định .37
3.2.1. Đặc điểm ao nuôi 37
3.2.1.1. Diện tích 37
3.2.1.2. Độ sâu ao nuôi cá 37
3.2.1.3. Hệ thống cấp thoát nước 37
1
LỜI CẢM ƠN
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Xuân Thủy – Viện trưởng viện nghiên
cứu Nuôi trồng thủy sản, trường Đại học Nha Trang, là người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lại Văn Hùng, PGS.TS Nguyễn Đình Mão,
PGS.TS Đỗ Thị Hòa, TS Ngô Anh Tuấn, trường Đại học Nha Trang, đã giúp đỡ tôi trong
việc xây dựng và hoàn thiện đề cương nghiên cứu.
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tôi nhận được sự đồng tình và giúp đỡ rất nhiều
từ gia đình, bố mẹ, bạn bè, đồng nghiệp, các ban ngành: khoa Nuôi trồng thủy sản trường
Đại học Nha Trang, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Nam Định, Trung tâm khuyến nông –
khuyến ngư tỉnh Nam Định, Chi cục bảo vệ và phát triển nguồn lợi tỉnh Nam Định, phòng
Nông nghiệp và PTNT huyện Nghĩa Hưng, Giao Thủy, Hải Hậu – tỉnh Nam Định đã giúp
cho sự thành công của đề tài này.
Xin trân trọng cảm ơn ! Nha trang ngày 5 tháng 3 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Châu Long 2
cần có những nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ hiện trạng kỹ thuật cũng như hiệu quả
kinh tế của nghề nuôi cá bống bớp thương phẩm tại Nam Định.
Được sự đồng ý của khoa Nuôi trồng Thủy sản - trường Đại học Nha Trang, tôi
thực hiện đề tài: “Điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội
nghề nuôi cá bống Bớp (Bostrichthys sinensis Lacepède, 1801) thương phẩm tại tỉnh
Nam Định”.
ĐỀ TÀI GỒM CÁC NỘI DUNG CHỦ YẾU SAU:
1. Điều tra và đánh giá hiện trạng kỹ thuật của nghề nuôi cá bống bớp
a. Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi cá bống bớp thương phẩm
b. Hiệu quả kinh tế của các hộ nuôi cá bống bớp
c. Hiệu quả xã hội của các hộ nuôi cá bống bớp
2. Kết quả và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá bống Bớp thương phẩm
Thực hiện đề tài này, với mục đích nghiên cứu các thông số kỹ thuật chủ yếu của
ao nuôi cá bống bớp thương phẩm ở tỉnh Nam Định, các giải pháp kỹ thuật nuôi và đánh
giá hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi. Những kết quả thu được của đề tài mong rằng
sẽ giúp ích cho việc quy hoạch và phát triển nghề nuôi cá bống Bớp thương phẩm đúng
hướng, đồng thời tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quản trị kinh
tế cho người nuôi.
Đây là một trong những đề tài đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về các vấn đề kỹ
thuật và các khía cạnh kinh tế của nghề nuôi cá bống bớp thương phẩm. Đề tài còn nhằm
mục đích bổ sung, hoàn thiện phương pháp điều tra và xử lý các số liệu trong thống kê
kinh tế và đánh giá hiệu quả kinh tế –xã hội cho một vùng nuôi trồng thủy sản.
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Hình 1.1. Hình ảnh cá bống bớp
1.1.2. Phân bố
1.1.2.1. Phân bố theo địa lý
- Đặc điểm phân bố:
Bảng 1.1. Phân bố cá bống bớp ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Bình, năm 1997-1998
Đặc điểm môi trường Địa điểm
pH Độ muối Chất đáy
Tần suất
bắt gặp
1. Tiên Yên ( Quảng Ninh )
7,27,8 20 30
Cát sét +
2. Đồ Sơn ( Hải Phòng )
7,07,5 15 22
Bùn cát +++
3. Tiền Hải ( Thái Bình )
7,17,8 10 20
Cát bùn +++
4. Nghĩa Hưng ( Nam Định )
7,07,6 10 22
Cát bùn +++
5. Hoàng Hóa ( Thanh Hoá )
6,97,8 18 27
Cát bùn ++
6. Quỳnh Lưu ( Nghệ An )
7,07,5 20 25
Bùn cát +
Ninh cho thấy, từ tháng 11 đến tháng 3 là thời kỳ có nhiệt độ nước biển ổn định dưới
20
o
C. Từ tháng 5 đến tháng 9 là thời kỳ có nhiệt độ nước biển ổn định trên 25
o
C [15].
- Độ muối (S
0
/
00
): Kết quả khảo sát từ 1971 đến năm 1991 ở vùng biển ven bờ Hải
Phòng cho thấy, ở khu vực từ cửa Lạch Huyện đổ lên phía Bắc, nước thường xuyên có độ
mặn cao và ổn định. Độ muối trong năm giao động trong khoảng 20-31 ‰. Khu vực từ
cửa Nam Triệu xuống Phía Nam, nước có độ muối thấp và biến động mạnh từ 5-21‰.
Mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau) độ mặn của nước khá cao và ổn định 20-
31‰. Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), độ muối ở vùng ven biển Hải Phòng thường
thấp và biến động mạnh, sự phân tầng của nước khá rõ. Biến động theo ngày của độ muối
cũng khá lớn, trung bình đạt đến 10-15 ‰ [10].
- Độ pH: Kết quả điều tra tổng hợp Vịnh Bắc Bộ năm 1962 cho thấy ở khu vực ven
bờ phía Bắc vịnh, tháng 8 có trị số pH cao nhất trong năm (pH: 8,34) và tháng 12 có trị số
thấp nhất (pH: 8,2), sự chênh lệch về trị số pH trong năm là 0,14. Khu vực ven bờ phía
Tây vịnh, trị số pH ổn định và tương đối thấp (pH < 8,25) vào mùa đông và đầu xuân. Trị
số pH tăng lên rất nhanh vào cuối xuân và mùa hè (pH> 8,3). Riêng vùng ven biển Hải
Phòng, trị số pH nằm trong khoảng 7,8 – 8,35 [10].
7
- Ô xy hoà tan: Theo kết quả điều tra tổng hợp biển Vịnh Bắc Bộ năm 1962 thấy
tb/m
3
; mùa hạ là 93,28
mg/m
3
và 1.654.10
3
tb/m
3
TVPD; mùa thu là 63,61 mg/m
3
ĐVPD và 2.207.10
3
tb/m
3
TVPD [14].
- Động vật đáy: Đến nay đã phát hiện 541 loài động vật đáy ở vùng triều ven biển
phí Bắc nước ta. Vùng bãi triều thuộc các cửa sông Ba Lạt, Ninh Cơ, Đáy và cửa Càn có
số lượng sinh vật đáy cao, từ 31÷142 mg/m
2
(mùa khô), từ 65,4 ÷152,3 mg/m
2
(mùa
mưa). Sông Trà Lý và Sông mã đạt thấp nhất từ 10÷12,5 g/m
2
(mùa khô) [18]. Động vật
đáy làm thức ăn chủ yếu cho cá là giáp xác, giun nhiều tơ (Polychaeta). Khu hệ động vật
đáy trong vùng chủ yếu là những loài rộng nhiệt và rộng muối [17].
Việc quan tâm đầy đủ các đặc điểm tự nhiên cũng như điều kiện sinh sống là cơ sở
khoa học cho việc đánh giá hiện trạng nuôi cá bống Bớp thương phẩm tại Nam Định.
Hình 1.2. Vảy cá ở tuổi 1
+
(x 50) L: 145mm; W:34g
Vòng tu
i9
Các nước vùng ôn đới, có sự phân biệt rõ rệt giữa các mùa. Ở mùa Xuân và mùa Hạ,
thức ăn tự nhiên phong phú, cá sinh trưởng nhanh nên các vân xương xếp thưa tạo thành
vòng sáng. Mùa đông nhiệt độ thấp, cá sinh trưởng chậm, các vân xương sắp xếp sít nhau
tạo thành vòng tối. Hiện tượng này cứ lặp đi lặp lại hàng năm. Khi tính tuổi cá, cứ hai vòng
sáng tối liền kề được coi như một năm tuổi.
- Vòng tuổi hình thành do các vòng sinh trưởng sắp xếp sít nhau tạo thành vòng
xẫm màu hơn so với các phần vảy phát triển bình thường.
Hình 1.3. Dạng vòng tuổi do các vân xếp xít nhau
- Vòng tuổi hình thành do sự rạn nứt của rãnh phóng xạ, tạo ra vòng sáng nhỏ liên
tục trên vảy. Tại chỗ rạn nứt các vân xương sắp xếp sít nhau. Các phần vảy phía trong và
ngoài vòng tuổi phát triển bình thường
Hình 1.5. Vẩy cá ở tuổi 3
+
Phân biệt vòng tuổi với vòng phụ : Vòng phụ hình thành do kết quả thay đổi đột
ngột, ngẫu nhiên không mang tính chất chu kỳ của điều kiện môi trường, dinh dưỡng kém
hoặc do bệnh tật. Dấu hiệu thể hiện vòng phụ trên vảy không rõ ràng, không liên tục trên
các phần vảy.
Phân biệt vòng tuổi với vòng non: Vòng non còn gọi là vòng phụ, vòng cá giống,
xuất hiện do thay đổi thức ăn khi cá chuyển giai đoạn. Vòng non nằm ở phần giữa tâm vảy
và vòng năm thứ nhất nên dễ nhầm lẫn với vòng năm thứ nhất. Để phân biệt được vòng
này, chúng tôi tính chiều dài cá thể và đối chiếu với chiều dài cỡ cá giống.
b. Sinh trưởng chiều dài của cá ở các độ tuổi.
- Trong suốt thời gian nghiên cứu, số mẫu thu được dùng để xác định tuổi gồm :
655 cá thể, trong đó chủ yếu các cá thể tuổi 1
+
, tuổi 2
+
và 3
+
. Dựa vào kết quả xác định
tuổi trên vảy cá, chúng tôi dùng phương pháp tính của Elea (1910) [61;68] để xác định
chiều dài của cá ở từng lứa tuổi khác nhau. Kết quả được trình bày ở bảng 1.2.
Đực 80
96,5 1,92 139,2 3,0 169,6 1,81
3
+
Cái 95
108,6 3,12 136,4 4,25 162,0 2,18
Bảng 1.2 cho thấy chiều dài của cá ở tuổi 1
+
dao động từ 96,5 118,2 mm đối với
cá thể đực và 108 115,4 mm đối với cá thể cái. Số liệu về chiều dài cá hàng năm được
dẫn ra ở bảng 1 của phần phụ lục và thể hiện ở hình 1.6 và hình 1.7. Trong đó, hình 6 biểu
thị tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài và hình 1.7 biểu thị tốc độ tăng trưởng tương
đối của chỉ số đo.
Hình 1.6. Tốc độ tăng trưởng chiều dài tuyệt đối của cá bống bớp
Hình 1.7. Tốc độ tăng trưởng chiều dài tương đối của cá bống bớp
Kết quả ở hình 1.6 và hình 1.7 cho thấy: Tăng trưởng chiều dài của cá bống bớp
nhanh nhất ở năm thứ nhất sau đó giảm dần từ năm thứ 2.
c. Tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá bống bớp
Mối quan hệ giữa chiều dài và khối lượng của cá được trình bày ở bảng 1.3.
Bảng 1.3. Tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá
Số mẫu L (cm) W (g)
Phương trình tương
quan
Hệ số tương quan
320
7,825,6 5,2172,1
W=0,0076L
3,154
R = 0,970
Hệ số mũ n = 3,154 nằm trong khoảng ( 2,5 3,5 ), kết quả này của chúng tôi trùng
với kết quả của một số tác giả trước đây: Lagler (1956 ); Carlander (1969 ); Weatherly
(1972 ); Ricker (1975 ); Pauly (1984 ) [38;56]. Hệ số R = 0,970 thể hiện tương quan
thuận cao giữa chiều dài và khối lượng tìm thấy ở nhiều loài cá. Cá bống bớp nằm trong
qui luật phổ biến này.
0
5
10
15
20
Hình 1.9. Mối quan hệ chiều dài, khối lượng và độ béo của cá bống bớp
0
0,5
1
1,5
2
2,5
1 2 3 4
ĐỘ BÉO (%)
Nhãm kÝch thíc, khèi lîng
Fulton
Clark
0
25
50
75
100
125
al, 1966; Chen et al, 1982; và Zhang et al, 1981 các tác giả trên đã nghiên cứu về phôi và
ấu trùng cá bớp. Tuy nhiên, phải đến năm 1984, lần đầu tiên tại Viện Nghiên cứu động
vật Trung Quốc, Li Huimei, Zhang Dan và Shi Pinhua mới theo dõi được tương đối đầy
đủ quá trình phát triển của phôi, ấu trùng của cá bống bớp, mở ra một hướng mới cho
những nghiên cứu về sinh sản nhân tạo và sản xuất giống của cá bống bớp. Tuy nhiên,
những tài liệu về sản xuất đại trà và ổn định giống cá bống bớp cho đến nay vẫn chưa thấy
công bố.
1.1.5.1. Sự phân biệt đực cái và chuyển đổi giới tính
Cá bống bớp khi còn bé rất khó phân biệt đực/cái; khi trưởng thành việc phân biệt
cá đực, cá cái khá dễ dàng.
Dấu hiệu đặc trưng:
+ Cơ quan sinh dục đực: Là một gai nhọn mềm nằm phía sau hậu môn, khi cá
thành thục gai có màu hồng ở điểm mút nhọn .
15
+ Cơ quan sinh dục cái: Còn gọi là huyệt sinh dục, nằm phía sau hậu môn có hình bầu
tròn, hơi nhọn về phía vòi trứng. Khi cá thành thục, huyệt phồng lên, có màu phớt hồng.
Cá đ
ự
c
Bu
ồ
ng tr
ứ
ng
D
ả
i tinh16
Khi giải phẫu cá để quan sát, có thể thấy tuyến sinh dục của cá bống bớp gồm hai dải
nằm sát thành cơ thể, dọc hai bên sống lưng, dưới bóng hơi. Phía cuối của 2 dải đổ chung vào
một ống và thông ra ngoài theo lỗ sinh dục. Giai đoạn đầu khó phân biệt đực, cái. Từ giai
đoạn II trở đi, phân biệt noãn sào và tinh sào dễ hơn: Noãn sào dày, có nhiều mạch máu
tương đối lớn phân bố. Từ giai đoạn III trở đi mắt thường có thể trông thấy hạt trứng. Kích
thước và màu sắc noãn sào thay đổi theo mức độ thành thục, noãn sào ở giai đoạn III có màu
vàng cam và giai đoạn IV có màu vàng đậm. Hai nhánh của buồng trứng phát triển đồng đều
ít chênh lệch nhau về kích thước. Các giai đoạn sau, độ lớn và mức độ phân bố mạch máu gia
tăng. Tinh sào của cá đực chưa trưởng thành mỏng và trong. Ở cá thành thục, tinh sào màu
trắng đục, phân thuỳ, có nếp gấp và có các mạch máu nhỏ phân bố.
phong phú. Cá bớp sinh sản bằng hình thức thụ tinh ngoài, đẻ trong hang, trứng dính. Cá
cái 46 gam và chiều dài 17,5cm có khoảng 10.000 trứng (đường kính trứng 0,5 -
0,6mm), các ngư dân cũng thường nhận xét rằng mùa vụ sinh sản của cá bớp diễn ra suốt
thời gian có gió mùa Tây - Nam. Điều này được chứng minh vì cá bớp con (1cm) xuất
hiện ngoài tự nhiên từ tháng 5 đến tháng 8.
17
1.1.5.4. Sức sinh sản
Cá bống Bớp sinh sản bằng hình thức thụ tinh ngoài, đẻ trong hang, trứng dính. Sức
sinh sản tuyệt đối của cá đạt 10.000 trứng/cá thể (đường kính trứng 0,5 - 0,6mm) (Trần Văn
Đan, 2002). Trong một số nghiên cứu của Trần Văn Đan tại Nam Định, Thái Bình, Ninh
Bình 2005-2007, đã chỉ ra rằng sức sinh sản thực tế của cá bống Bớp cái nằm trong khoảng
15.400 – 62.000 trứng/cá thể.
1.1.5.5. Phát triển phôi
Sau khi thụ tinh trứng cá bớp được ấp trong phòng để có thể kiểm soát các yếu tố
môi trường : Nhiệt độ (26 - 31
0
C), oxy hoà tan (5 - 6mg/l ), pH : 7,5 và độ muối S
0
/
00
(17-
18
0
/
00
), đảm bảo cho tỷ lệ nở cao ( 90%) và tỷ lệ sống tốt (85 - 90%) trong những ngày
6 4 23
8 phôi bào : Được phân chia tại góc phải tới ranh giới thứ nhất và thứ
hai.
18
7 4 45 16 phôi bào : Đĩa phôi phân chia thành 16 phôi bào cùng kích cỡ.
8 5 05
32 phôi bào: Từ giai đoạn 32 phôi bào ( Blastomere ) tiếp tục phân chia
thành nhiều tế bào không thể đếm được vì vậy được gọi là giai đoạn
nhiều tế bào.
9 5 15 Giai đoạn phôi nang ( Blastula ), đĩa phôi giảm về kích thước.
10 6 20 Thời kỳ phôi nang cao, phôi nang vẫn tiếp tục phát triển.
11 7 50
Thời kỳ phôi nang thấp, phôi có hình chóp mũ phủ trên phần noãn
hoàng chiếm khoảng 1/3 toàn bộ phôi, phôi tiến gần về phía cuối và gắn
bởi các sợi sơ dính.
12 9 05
Giai đoạn phôi vị : Các tb màng phôi khép quanh khối noãn hoàng tạo
thành vòng phôi.
10 25 Vòng phôi bao 2/5 khối noãn hoàng
11 35 Màng chắn phôi xuất hiện, có hình lưỡi dài.
12 40 Vòng phôi bao 3/4 khối noãn hoàng.
13 20 Giai đoạn tấm thần kinh bắt đầu xuất hiện.
14 25 Khối noãn hoàng có thể quay tự do trong màng trứng.
13 15 15
Thời kỳ này có thêm túi thị giác, toàn khối noãn hoàng và cơ thể có
màu vàng nhạt.
79 20
Mắt gần hoàn chỉnh có màu đen, vết nứt thị giác biến mất, tim đập
mạnh khoảng 106 - 112 lần/phút. Máu lưu thông có màu đỏ cam. Cơ
thể đã hình thành rõ ràng và có các đường viền bao quanh.
98 05
Miệng hình thành, ống tiêu hoá đã hoàn thiện, có thể quan sát được dạ
dày. Bóng hơi sơ đẳng xuất hiện giữa cơ thể, có dạng ô van mỏng và
màu vàng nhạt.
15 105 30
Thời kỳ tiền kỳ nở : Vị trí của miệng hơi nghiêng về phía trước. Khe
mang hình thành, có một vài túi khí có kích thước khác nhau nằm ở bề
mặt trước bụng. Các đoạn ruột lớn dần lên.
16 110 30
Trứng bắt đầu nở : Phôi chuyển động mạnh trong trứng ( nhất là phần
đuôi). Khi nở đuôi ra ngoài trước, sau đó ấu trùng thoát ra ngoài theo
tần số chuyển động của đuôi.
17
Cá nở, bơi dừng - thẳng đứng, noãn hoàng to tròn, phần bụng phình to,
chiều dài thân cá = 5mm, chiều cao = 0,95mm; đường kính noãn hoàng
= 0,87mm; chiều dài đầu cá = 1mm và chiều rộng đầu cá là 0,87mm;
đường kính mắt cá là 0,43mm.
18
Noãn hoàng nhỏ dần và có hình oval ( 0,52-0,43mm ), bụng thon dần,
cá chuyển dần sang bơi ngang, chiều dài cá là 6mm, khẩu độ miệng cá
là 0,22mm, đường kính mắt là 0,43mm.
Ngoài việc xác định những mốc thời gian chính của quá trình phát triển phôi, qua
theo dõi quá trình ấp trứng cá bớp chúng tôi có một số nhận xét sau:
- Trứng cá bớp là loại trứng dính; sau khi thụ tinh và trương nước; trứng có hình
Hình 1.12. cá bột mới nở và cá bột 2 ngày tuổi
1.1.6. Khả năng thích ứng với một số yếu tố môi trường
Hiện chưa có nhiều nghiên cứu sâu về cá bống Bớp nên những số liệu đưa ra dưới
đây chỉ là những dẫn liệu và còn rất sơ lược.