MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PES : Chi trả dịch vụ môi trường
MTR : Môi trường rừng
ES : Dịch vụ môi trường
WWF: Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã
GĐGR: Giao đất giao rừng
NN & PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
ADB : Ngân hàng phát triển châu Á
DANIDA: Cơ quan phát triển quốc tế của Đan Mạch
IUCN: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
WB : Ngân hàng thế giới
CDM: Cơ chế phát triển sạch
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tên đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án chi trả dịch vụ
môi trường tại tỉnh Sơn La”
2. Lý do lựa chọn đề tài:
Các hệ sinh thái tự nhiên đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự sống và
tồn tại của con người, đặc biệt là hệ sinh thái rừng. Rừng không chỉ cung cấp
nguyên vật liệu như gỗ, củi cho một số ngành sản xuất mà còn giúp duy trì và
bảo vệ môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc
gia trên thế giới. Tuy nhiên, do sự phát triển quá nhanh của xã hội mà không
có chiến lược bảo vệ rừng khiến nguồn tài nguyên này đang bị suy giảm một
cách nghiêm trọng. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến suy
thoái môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu.
[
Trong những năm gần đây, nhận thức về giá trị, vai trò của rừng ngày càng
được nâng cao, đặc biệt là sự tiếp cận với những cách nghĩ mới về những lợi
ích mà rừng đem lại. Đó không còn là những giá trị trừu tượng mà đã được
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi
4
đã tham vấn ý kiến của một số chuyên gia về PES về tài liệu và các vấn đề
còn vướng mắc.
6. Cấu trúc đề tài
Chuyên đề tốt nghiệp gồm có 4 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phân tích hiệu quả dự án chi
trả dịch vụ môi trường rừng
Chương II: Dự án chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Sơn La
Chương III: Phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án chi trả dịch vụ môi
trường rừng
Chương IV: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của dự án
chi trả dịch vụ môi trường rừng
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÂN TÍCH HIỆU
QUẢ DỰ ÁN CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG
1.1. Khái quát chung về chi trả dịch vụ môi trường
1.1.1. Khái niệm về dịch vụ môi trường
Dịch vụ môi trường (Environmental Services) là những dịch vụ và chức
năng được cung cấp bởi hệ sinh thái và có những giá trị nhất định về kinh tế.
Các nhóm dịch vụ môi trường bao gồm:
• Chức năng phòng hộ đầu nguồn
• Bảo vệ đa dạng sinh học
• Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên
• Hấp thụ Các - bon
5
Dịch vụ môi trường rừng là việc cung ứng và sử dụng bền vững các giá trị
sử dụng của môi trường rừng như điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống bồi
lắng lòng hồ, ngăn chặn lũ lụt, lũ quét, cảnh quan, đa dạng sinh học…(Điều 4
chương I, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10 tháng 4
vụ môi trường rừng.
1.1.3. Thiết lập kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường
Chi trả dịch vụ môi trường (PES) thực chất là một cơ chế chi trả dựa trên
việc người sử dụng hay người cung cấp có được lợi ích từ các dịch vụ sinh
thái, từ đó dẫn đến việc bảo vệ và quản lý chúng. Cơ chế này cần có sự thiết
lập rõ ràng để đảm bảo nó hoạt động thực sự hiệu quả trong một thời gian dài
và có khả năng nhân rộng trên toàn thế giới. Theo Wunder (2005) các tiêu chí
của PES là:
• Tự nguyện trong giao dịch
• Các dịch vụ môi trường cần được xác định rõ
• Có ít nhất một người cung cấp dịch vụ môi trường
• Có ít nhất một người mua dịch vụ môi trường
• Nếu và chỉ với điều kiện là người cung cấp dịch vụ môi trường phải
bảo đảm việc cung cấp dịch vụ môi trường (mang tính điều kiện).
Dựa trên tiêu chí này, dự án chi trả dịch vụ môi trường được xây dựng thông
qua ba bước, bao gồm:
• Nhận dạng và xác định các dịch vụ môi trường
• Xem xét giá trị kinh tế của các dịch vụ môi trường. Trong bước này ta
sẽ xác định giá cho các dịch vụ. Việc tính toán các giá trị kinh tế có thể
dựa trên việc gán số lượng và giá trị bằng tiền cho hàng hoá và dịch vụ
được cung cấp bởi môi trường tự nhiên, dù có hay không giá thị trường
vẫn rất hữu ích trong việc giúp ta tính toán.
7
• Thiết lập kế hoạch chi trả.
1.1.4. Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường
Hai nguyên tắc cơ bản của PES là:
• Tạo ra động lực tài chính hiệu quả thúc đẩy cá nhân và cộng đồng cung
cấp các dịch vụ môi trường;
• Chi trả các chi phí cho việc cung cấp các dịch vụ của họ. Việc chi trả
này có thể dưới hình thức là tiền hoặc hiện vật.
môi trường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cơ chế này cũng có một số hạn chế
nhất định vì người gây ô nhiễm thường không muốn trả tiền hoặc không khắc
phục các thiệt hại về môi trường.
Trái với các cơ chế quản lý trước đây, PES không hoạt động theo cơ chế
người đây ô nhiễm phải trả tiền mà hướng tới một cơ chế khác là người được
hưởng lợi từ dịch vụ môi trường sẽ trả tiền cho việc thụ hưởng đó. Các nhà
kinh tế đã tiến hành nhiều nghiên cứu và chỉ ra rằng, sẽ hiệu quả hơn nếu trả
tiền để con người giữ gìn môi trường hơn là bắt họ phải chi trả cho những
thiệt hại môi trường mà họ đã gây ra. Một ví dụ cụ thể là, thay vì phạt những
người dân ở vùng thượng lưu vì đã chặt phá rừng gây ra lũ lụt cho vùng hạ
lưu thì chi trả cho họ một khoản tiền để họ giữ các khu rừng đó và đem lại lợi
ích cho dân ở vùng hạ lưu. Những người ở hạ lưu trước đây không phải trả
tiền cho bất cứ lợi ích nào họ nhận được từ môi trường rừng thì nay họ sẽ chi
trả một phần cho các lợi ích mà họ được hưởng.
Đây là một cách tiếp cận rất mới của PES, coi dịch vụ môi trường là hàng
hoá và nếu ta nhận được lợi ích từ hàng hoá thì hiển nhiên ta phải trả tiền để
được tiêu dùng nó. Dựa trên cách tiếp cận này, các giá trị của dịch vụ môi
trường, đặc biệt là dịch vụ môi trường rừng sẽ được đánh giá một cách chính
xác hơn.
9
1.2.2. Sự sẵn lòng chi trả (Willingness to pay – WTP)
WTP là thước đo độ thoả mãn, đồng thời là thước đo lợi ích và là đường
cầu thị trường tạo nên cở sở xác định lợi ích đối với xã hội từ việc tiêu thụ
hoặc bán một mặt hàng cụ thể.
Nền tảng của PES chính là việc những người cung cấp dịch vụ môi trường
sẽ nhận được một khoản tiền cho việc họ chấp nhận bảo vệ môi trường (tính
điều kiện) và mức chi trả này phụ thuộc vào sự thoả thuận với bên nhận được
lợi ích từ các lợi ích từ môi trường. Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra các
đặc điểm khác của PES, ví dụ PES là một cơ chế giao dịch tự nguyện giữa ít
nhất một người cung cấp và một người sử dụng đối với các hàng hoá dịch vụ
nhà máy này sẽ sẵn sàng bỏ ra một số tiền để trả cho người chủ rừng nhằm
duy trì các khu rừng đầu nguồn và lợi ích của họ và mức tiền này phải nhỏ
hơn phần thiệt hại về kinh tế nhưng không là giảm bớt lợi ích của người chủ
rừng. Phần chi trả ở đây được thể hiện bằng màu xanh lá cây. Ví dụ, khi các
khu rừng đầu nguồn bị chặt phá, chủ rừng thu nhập được 100 triệu đồng, đồng
thời các nhà máy thuỷ điện sẽ bị thiệt hại 1 tỷ đồng. Nếu rừng được các nhà
máy này sẽ giảm được thiệt hại là 500 triệu đồng, thì họ sẵn sàng chi trả một
mức tiền nhỏ hơn 500 triệu để duy trì rừng đầu nguồn. Lúc này mức chi trả
hợp lý sẽ lớn hơn 100 triệu đồng và nhỏ hơn 500 triệu đồng. Tóm lại, mức chi
trả sẽ được xác định dựa trên cơ sở:
Thu nhập của chủ rừng < Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng < Mức lợi ích
nhà máy thuỷ điện nhận được từ dịch vụ môi trường rừng.
1.3. Nội dung chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
1.3.1. Căn cứ xây dựng chính sách
1.3.1.1. Cơ sở pháp lý
Căn cứ theo hệ thống pháp luật hiện hành, Pháp lệnh số 38/2001/PL-
UBTVQH 10 ngày 28/08/2001 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về phí và lệ
phí có quy định về việc thu phí đối với 12 lĩnh vực. Trong lĩnh vực nông
nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản đã có các quy định về phí thuỷ lợi, phí kiểm
12
dịch động, thực vật; phí kiểm tra vệ sinh thú ý, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản…
Riêng trong lĩnh vực môi trường có phí bảo vệ môi trường đối với nước thải,
khí thải, chất thải rắn, tiếng ồn, khai thác tài nguyên. Như vậy, Pháp luật Việt
Nam đã có sự quan tâm đúng đắn đến vấn đề bảo vệ môi trường, tạo cơ sở
tiền đề cho việc bổ sung, xây dựng các chính sách mới, đáp ứng được xu
hướng phát triển chung của đất nước và thế giới.
Hướng tới việc phát triển bền vững, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ ra đời ngày 10/04/2008 đã quy định rõ về việc cần thiết phải
xây dựng thí điểm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại một số tỉnh, sau
đó rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình này trên cả nước. Hiện nay, chính
trước đây theo quan điểm coi dịch vụ môi trường rừng là một loại hàng hoá.
Đây là cơ sở tiền đề quan trọng để hiểu và tiếp thu “Cơ chế chi trả cho dịch
vụ môi trường”.
1.3.1.3. Tham khảo, kế thừa nghiên cứu và kinh nghiệm của thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu và triển khai dự án chi trả dịch vụ môi
trường rừng đã được chú ý từ những năm 90 của thế kỷ 20. Rất nhiều nghiên
cứu đã được tiến hành, điển hình như nghiên cứu của Trường Đại học
California, nhằm xác định khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng, chi trả
cho ai và mức chi trả là bao nhiêu. Các nghiên cứu đã tính toán ra giá trị của
rừng trong việc bảo vệ đất, nước, không khí, đa dạng sinh học làm cơ sở đưa
ra mức chi trả của xã hội đối với dịch vụ môi trường rừng. Đây là cơ sở tiền
đề cho các nước đi sau, như Việt Nam, tham khảo và kế thừa để áp dụng vào
thực tiễn bảo vệ môi trường, cụ thể là cho môi trường rừng.
14
Thực tế cho thấy, PES đã được áp dụng ở rất nhiều nơi trên thế giới như
châu Phi, châu Á, Đông Âu, châu Mỹ Latinh và đã có những thành công nhất
định. Trong đó, Costa Rica là một trong những nước đầu tiên xây dựng và
thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, bao gồm giá trị hấp thụ
Cac – bon, phòng hộ đầu nguồn, đa dạng sinh học và bảo vệ cảnh quan.
Thành công của các nước đi trước là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong
việc xây dựng và triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng - một
chính sách còn hết sức mới mẻ này.
1.3.2. Nội dung chính sách
1.3.2.1. Đối tượng rừng được đưa vào xác định giá trị dịch vụ môi trường
rừng
• Toàn bộ diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng thuộc quy hoạch rừng
phòng hộ và rừng đặc dụng
• Diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng là rừng sản xuất đủ tiêu chuẩn
phòng hộ thì sẽ xác định giá trị dịch vụ môi trường rừng trong thời gian
chưa khai thác
dụng số tiền này để đầu tư vào việc bảo vệ và phát triển rừng.
• Đối với trường hợp chi trả gián tiếp: tiền thu được từ chi trả dịch vụ
môi trường rừng được sử dụng như sau:
- 10% chi cho các hoạt động của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng
- 90% chi cho các hoạt động của người được chi trả dịch vụ môi trường
rừng. Nếu người được chi trả dịch vụ môi trường rừng là các tổ chức
nhà nước, được sử dụng 10% cho chi phí quản lý, 80% cho việc trả tiền
công khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân, cộng
16
đồng dân cư, thôn bản.
1.4. Kinh nghiệm thực hiện dự án chi trả dịch môi trường
1.4.1. Trên thế giới
PES được áp dụng tại rất nhiều nơi trên thế giới như ở châu Phi, châu Á,
Mỹ Latinh và Đông Âu, một ví dụ điển hình cho việc phát triển PES như một
cơ chế quản lý và bảo vệ rừng hiệu quả chính là Costa Rica. Những người chủ
đất và chủ rừng ở đây được trả tiền cho việc họ cung cấp các dịch vụ môi
trường, tiến hành các hoạt động bảo vệ rừng nhằm duy trì chất lượng cuộc
sống của con người. Chính sách này thiết kế một cơ chế tài chính cũng như
luật pháp khá chặt chẽ nhằm đảm bảo người cung cấp dịch vụ môi trường sẽ
phải thực hiện hết hợp đồng theo thời hạn đã định. Bảng 1.1 là một ví dụ về
các khoản tiền mà những người sử dụng nước phải trả cho dịch vụ môi trường
(ở đây là chức năng phòng hộ đầu nguồn).
Bảng 1.1: Các khoản chi trả của người sử dụng nước tại Costa Rica
17
Tại Jamestown, đảo Rhode, Mỹ, những người nông dân ở đây thường thu
hoạch cỏ trên cánh đồng của họ hai lần một năm. Tuy nhiên việc này đã ảnh
hưởng thói quen của nhiều loài chim ăn cỏ tại đây. Vì vậy các nhà kinh tế từ
trường Đại học Rhode Island và công ty Eco Assets Markets đã vận động các
khoản tiền đầu tư để giúp các loài chim này, số tiền từ 5$ đến 200$ mỗi người
và số tiền này được dùng để bù đắp cho việc giảm năng suất của người nông
SƠN LA
2.1. Giới thiệu đặc điểm chung về tỉnh Sơn La
2.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Sơn La là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc của Việt Nam, có toạ độ
địa lý: 20
o
39’ - 20
o
02’ vĩ độ Bắc và 103
o
11’ – 105
o
02’ kinh độ Đông. Phía
Bắc giáp tỉnh Yên Bái, Lào Cai; phía Ðông giáp tỉnh Lai Châu; phía Nam
giáp tỉnh Thanh Hoá và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; cách thủ đô
Hà Nội 320 km về phía Tây Bắc.
19
Hình 2.1. Sơ đồ hành chính tỉnh Sơn La
Nguồn: www.sfdp.net/docs/images/SonlaMap.gif
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Sơn La là 1.412.500 ha, chiếm 4,3% diện tích
cả nước. Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính: có 1 thành phố là thành phố Sơn
La và 10 huyện là Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, Sông Mã,
Sốp Cộp, Phù Yên, Bắc Yên, Mường La và Quỳnh Nhai.
Sơn La là cầu nối quan trọng của Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ với vùng Tây Bắc. Với đường biên giới Việt – Lào dài 250 km và 4 tuyến
giao thông quan trọng là đường quốc lộ 6, quốc lộ 37, quốc lộ 43, quốc lộ
279, tỉnh đã có những lợi thế nhất định trong giao lưu phát triển kinh tế - văn
hoá - xã hội với các tỉnh khác và giao lưu quốc tế.
(Nguồn: Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội Việt Nam năm 2002)
21
Bên cạnh đó, nằm xen kẽ giữa các cao nguyên là những vùng lòng chảo,
thung lũng với những cánh đồng lúa nước lớn, vừa và nhỏ với quy mô từ 300
– 1000 ha do phù sa các con sông bồi đắp.
Khí hậu
Sơn La chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi có 2 mùa
rõ rệt. Mùa đông lạnh và khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa
hè nóng ẩm và mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 9.
• Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm là 20
o
C – 22
o
C, nhiệt độ thấp
nhất tuyệt đối vào tháng 12 và tháng 1 (0 – 5
o
C). Tổng số giờ nắng
trung bình năm là 1.641 giờ. Trung bình số ngày nắng/tháng là 23 ngày.
• Chế độ mưa: Tổng lượng mưa bình quân là 1.420mm với 118 ngày
mưa/năm. Lượng mưa trung bình tháng là 150mm/tháng. Mùa mưa kéo
dài 6 – 7 tháng (từ tháng 4 đến tháng 9) với lượng mưa chiếm 84 – 92%
tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa lớn, tập trung trong thời gian ngắn
dễ gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi, trượt lở đất, lũ ống, lũ quét…
gây thiệt hại cho sản xuất, tài sản và đời sống nhân dân. Ngược lại, mùa
khô kéo dài, gây khô hạn, thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt, nhất là
các bản vùng cao, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng các loại cây
trồng.
• Độ ẩm: tương đối trung bình năm là 81%, lượng bốc hơi trung bình
năm là 800mm/năm. Từ tháng 10 đến tháng 5 của năm sau là thời kỳ
lượng bốc hơi cao hơn lượng mưa nhiều lần khiến độ ẩm tầng mặt luôn
• Vùng đất có độ dốc cao trên 25% chiếm đến 86%. Tuy vậy 2 cao
nguyên lớn là cao nguyên Mộc Châu và cao nguyên Sơn La – Nà Sản
lại tương đối bằng phẳng và cũng là nơi phân bố của các loại đất có độ
phì nhiêu cao, tầng đất dày như đất đỏ vàng và đất nâu vàng trên đá vôi
rất thích hợp để phát triển một nền nông – lâm nghiệp hàng hoá có quy
23
mô tập trung.
• Độ phì của đất mặc dù bị suy thoái do thảm thực vật bị tàn phá và tập
quán canh tác nương rẫy lạc hậu trước đây nhưng vẫn còn đạt được ở
mức trung bình.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Nguồn nhân lực
Dân số của tỉnh Sơn La vào khoảng 1.007.511 người, trong đó dân cư sống
tại đô thị chiếm khoảng 11,3% tương ứng với 113.680 người còn lại khoảng
88,7% dân số tập trung ở khu vực nông thôn. Mật độ dân số bình quân là 71
người/km
2
, cao nhất là thành phố Sơn La với mật độ dân số trên 200
người/km
2
. (Theo tài liệu thống kê năm 2006).
Hiện nay tại Sơn La có 12 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó có một
số dân tộc chiếm chủ yếu là Thái (chiếm 54%), H’Mông (chiếm 12,02%),
Kinh (chiếm 18%), Mường (chiếm 8,12%) và một số dân tộc khác.
Năm 2006, số người trong độ tuổi lao động của tỉnh là 541.451 người, chiếm
54% dân số toàn tỉnh. Lao động nông lâm nghiệp chiếm gần 90% còn lao động
trong khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chế biến khoảng 10%.
Một vấn đề tồn tại trong phát triển dân số của tỉnh là tỉ lệ tăng tự nhiên vẫn
còn cao vào khoảng 1,59%. Cùng với đó là trình độ dân trí chưa được nâng
cao để bắt kịp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay. Mặc dù