BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
DƢ NGỌC TUÂN
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA NGHỀ NUÔI
TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei)
THƢƠNG PHẨM TẠI TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang, tháng 11 năm 2011
Học viên cao học
Dƣ Ngọc Tuân
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận
được sự quan tâm và giúp đỡ của các cơ quan, tập thể, các nhà khoa học và bạn bè,
đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang;
- Tập thể cán bộ giảng viên Khoa Nuôi trồng thủy sản, phòng Đào tạo Đại học –
IHHNV : Infectious hypodermal & hematopoietic necrosis virus
IMNV : Infectious Myonecrosis Virus
KHTSCĐ : Khấu hao tài sản cố định
NTTS : Nuôi trồng thủy sản
PCR : Polymerase Chain Reaction
PL : Post Larvae
TCT : Thẻ chân trắng
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TSV : Taura Syndrome Virus
UBND : Ủy ban nhân dân
WSSV : White Spot Syndrome Virus
XDCB : Xây dựng cơ bản
YHV : Yellow Head Virus
1.2.4. Ảnh hưởng của Oxy hòa tan (DO) 20
1.2.5. Ảnh hưởng của độ Kiềm 20
1.2.6. Ảnh hưởng của độ trong – màu nước 20
1.2.7. Ảnh hưởng của NH
3
và NH
4
+
21
1.2.8. Ảnh hưởng của các nhân tố sinh học 21
1.3. Ảnh hƣởng của bệnh đối với nghề nuôi tôm 22
1.4. Những nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của nghề nuôi tôm TCT
thƣơng phẩm 23
CHƢƠNG 2 - PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Thời gian thực hiện 26
2.2. Địa điểm thực hiện 26
2.3. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 26
2.4. Thu thập và xử lý số liệu 27
2.4.1. Thu thập số liệu 27
2.4.1.1. Số liệu thứ cấp 27
2.4.1.2. Số liệu điều tra 27
2.4.2. Xử lý và phân tích số liệu 28
2.4.2.1. Xử lý số liệu 28
2.4.2.2. Phân tích số liệu 28
2.5. Các chỉ tiêu xác định kết quả sản xuất 29
2.6. Các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế 29
CHƢƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1. Điều kiện tự nhiên của tỉnh Ninh Thuận. 31
3.1.1. Vị trí địa lý 31
3.1.2. Địa hình 31
3.3.5.1. Nguồn gốc và chất lượng tôm giống 53
3.3.5.2. Mật độ giống thả 56
3.3.5.3. Kích thước giống thả 56
3.3.6. Thức ăn và phương pháp cho ăn 57
3.3.6.1. Thức ăn 57
3.3.6.2. Phương pháp cho ăn 57
3.3.7. Trang thiết bị dùng trong nuôi tôm TCT 59
3.3.8. Quản lý chăm sóc 60
3.3.9. Các loại bệnh thường gặp và biện pháp phòng, trị bệnh 64
3.3.10. Những khó khăn, hướng phát triển và kiến nghị của hộ nuôi tôm TCT 65
3.4. Kết quả nuôi và hiệu quả kinh tế - xã hội. 73
3.4.1. Kết quả và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm TCT
thương phẩm tại Ninh Thuận 73
3.4.2. Phân tích đánh giá các chỉ tiêu kết quả sản xuất 77
3.4.3. Phân tích đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của 1 ha ao nuôi tôm 78
3.4.3.1. Giá trị sản xuất (GO) hay doanh thu 79
3.4.3.2. Giá trị gia tăng (VA) 79
3.4.3.3. Thu nhập hỗn hợp (MI) 80
3.4.3.4. Lợi nhuận (Pr) 80
3.4.4. Hiệu quả về mặt xã hội 80
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 84
A. Kết luận 84
B. Đề xuất ý kiến 85
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Một số yếu tố thích hợp của môi trường nước nuôi tôm TCT 5
Bảng 1.2: Diện tích và sản lượng tôm nuôi ở tỉnh Ninh Thuận 2006 – 2010 16
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu đặc trưng khí hậu các tháng trong năm 2010 32
Bảng 3.2: Các yếu tố thủy lý, thủy hóa vùng biển vịnh Phan Rang 33
Bảng 3.3: Phân bố độ tuổi của các chủ hộ nuôi tại 3 huyện điều tra 37
Bảng 3.4: Trình độ văn hoá của chủ hộ nuôi tại 3 huyện điều tra 38
Bảng 3.5: Trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi tại 3 huyện điều tra 39
Bảng 3.6: Phân bố độ tuổi lao động trong các hộ nuôi tôm TCT tại 3 huyện 39
Bảng 3.7: Kết cấu chất đáy ao nuôi tại các địa phương vùng nghiên cứu 46
Bảng 3.8: Ưu điểm của ao bạt nổi so với ao bạt chìm 46
Bảng 3.9: Một số chỉ tiêu kỹ thuật cải tạo ao nuôi tôm TCT 47
Bảng 3.10: Nguồn kiến thức để áp dụng nuôi tôm 53
Bảng 3.11: Nguồn gốc tôm giống được sử dụng để nuôi thương phẩm 54
Bảng 3.12: Khó khăn của hộ nuôi khi mua tôm giống 55
Bảng 3.13: Nhận xét về chất lượng tôm giống của các hộ nuôi. 55
Bảng 3.14: Thời lượng vận hành máy quạt nước 60
Bảng 3.15:Sử dụng các sản phẩm trong quản lý môi trường 60
Bảng 3.16:Hoạt động thay nước trong quá trình nuôi tôm TCT 62
Bảng 3.17: Hoạt động xả, thải trong quá trình nuôi 63
Bảng 3.18: Một số bệnh thường gặp trên tôm TCT nuôi trong năm 2010 64
Bảng 3.19: Những khó khăn vướng mắc đối với nghề nuôi tôm TCT hiện nay 66
Bảng 3.20: Hướng phát triển của các hộ nuôi tôm TCT thương phẩm 66
Bảng 3.21: Kiến nghị của các hộ nuôi tôm TCT thương phẩm 67
Bảng 3.22: Mục đích vay vốn của các hộ nuôi 68
Bảng 3.23: Những khó khăn hộ nuôi thường gặp khi vay vốn ngân hàng 68
Bảng 3.24: Nhu cầu về đất sản xuất của hộ nuôi 69
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Tôm thẻ chân trắng 4
Hình 1.2: Diện tích, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm TCT năm 2008-2010. 13
Hình 1.3: Diện tích và sản lượng tôm TCT nuôi tại Ninh Thuận
giai đoạn 2006 – 2010 17
Hình 1.4: Quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện phát sinh bệnh 22
Hình 1.5: Nước thải từ các ao nuôi tôm TCT không qua xử lý 24
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 26
Hình 3.1: Lót bạt ao nuôi trên cát 43
Hình 3.2: Ao chứa lắng nuôi tôm trên cát 43
Hình 3.3: Nuôi tôm trong ao bạt nổi 45
Hình 3.4: Nuôi tôm trong ao bạt chìm 45
Hình 3.5: Nuôi tôm trong ao đất 45
Hình 3.6: Cải tạo ao đất 49
thành một nghề sản xuất chính ở tất cả các tỉnh, thành ven biển từ Bắc vào Nam. [1,
22]
Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931) là loài tôm nhiệt đới có
nguồn gốc từ Nam Mỹ, được nuôi phổ biến ở các nước châu Mỹ La tinh. Đây là đối
tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, có thị trường lớn và sản lượng không ngừng gia tăng.
Tôm có thịt ngon, giàu dinh dưỡng, tỷ lệ phần thịt nhiều, sinh trưởng nhanh, mùa vụ
sinh sản tương đối dài và có thể thành thục đẻ nhiều lần. Thức ăn cho tôm thẻ chân
trắng (TCT) yêu cầu hàm lượng đạm thấp hơn tôm sú. Tôm TCT có thể chịu được sự
thay đổi của môi trường và đặc biệt có thể nuôi được trong các thủy vực nước mặn,
nước ngọt và nước lợ. Một số nước châu Á như Đài Loan, Trung Quốc bắt đầu di nhập
nuôi thử nghiệm đối tượng này vào những năm của thập niên 70. Tại Việt Nam tôm
TCT được đưa vào nuôi thử nghiệm từ năm 2001. Đến nay loài tôm này đã trở thành
đối tượng nuôi phổ biến ở nhiều địa phương trên cả nước. [2]
Ninh Thuận là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ có tiềm năng diện tích vùng đất
cát hoang hoá ven biển lớn. Diện tích NTTS mặn, lợ của tỉnh Ninh Thuận vào khoảng
4.500 ha, trong đó có khoảng 1.500 ha diện tích vùng cát có khả năng sử dụng cho
NTTS, đặc biệt là nuôi tôm theo hình thức bán thâm canh và thâm canh. Tính đến cuối
năm 2009 tổng diện tích đưa vào NTTS toàn tỉnh là 1.574 ha, trong đó diện tích nuôi
tôm TCT thương phẩm theo hình thức thâm canh là 770 ha. [8]
Năm 2005 UBND tỉnh Ninh Thuận chính thức cho phép đưa tôm TCT vào nuôi
thử nghiệm tại khu vực nuôi tôm thuộc dự án nuôi tôm trên cát xã An Hải, huyện Ninh
Phước, sau đó được nhân rộng tại hai vùng dự án nuôi tôm trên cát An Hải và vùng dự
án nuôi tôm công nghiệp Sơn Hải kể từ đầu năm 2006 theo Quyết định số 455/QĐ-
UBND ngày 24/01/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận.
Ngay từ khi triển khai, đối tượng tôm TCT đã được nhiều người dân hưởng ứng
chuyển đổi nhờ những ưu điểm của nó so với tôm sú như: dễ sinh sản và thuần dưỡng;
có thể nuôi ở mật độ cao; yêu cầu hàm lượng protein trong thức ăn thấp hơn so với
tôm sú, chịu được nhiệt độ thấp và chịu được nước có chất lượng kém hơn so với tôm
sú. Từ năm 2006 đến nay diện tích nuôi tôm TCT tại Ninh Thuận không ngừng tăng
lên.
3.2. Tạo cơ sở khoa học cho việc khôi phục lại nghề nuôi tôm tại một số khu
vực trong tỉnh, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho người nuôi, tạo
công ăn việc làm ổn định.
4. Nội dung nghiên cứu
4.1. Điều tra hiện trạng kỹ thuật nuôi tôm TCT thương phẩm.
4.2. Đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm TCT thương phẩm.
4.3. Đề xuất các giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý để nghề nuôi tôm TCT
phát triển ổn định và bền vững.
biện thon dài, thường có 3 ÷ 4 hàng, phần cuối có hình roi. Gai gốc (basial) và gai
ischial nằm ở đốt chân ngực thứ nhất (Tarfante & Kensley, 1997). Vỏ tôm có màu
trắng đục nên được gọi là “tôm trắng”. Bình thường tôm có màu xanh lam, các đốm
sắc tố xanh tập trung dày đặc gần mép của telson và uropod (chân đuôi) (Eldred &
Hutton, 1960). [2]
1.1.1.2. Môi trường sống và khả năng thích nghi:
Ở vùng biển tự nhiên, tôm TCT thường sống nơi đáy bùn, từ vùng nước ven bờ
đến nơi có độ sâu khoảng 72 m (Dore & Frimodt, 1987), độ mặn từ 1 ÷ 40 ‰ (Davis,
Samocha & Boyd, 2004). Nghiên cứu của Wyk & Scarpa (1999) ở Harbor Branch
Oceanographic Institution (HBOI) cho thấy rằng 0,5 ‰ là giới hạn chịu đựng độ mặn
thấp nhất của tôm TCT mà tôm có thể sống và sinh trưởng đến cỡ thương phẩm. Đối
với hàm lượng oxy hòa tan, mức phù hợp là ≥ 5 mg/L, mức gây chết là 1,5 mg/L.
Tôm TCT có thể sống ở môi trường nước có biên độ nhiệt độ dao động rộng, giới hạn
dưới khoảng 15
o
C, giới hạn trên khoảng 35
o
C. Khoảng nhiệt độ thích hợp dao động
trong phạm vi hẹp từ 24 ÷ 32
o
C, ngoài phạm vi này tôm sẽ bị stress và chậm lớn. [45]
Kết quả nghiên cứu các mô hình nuôi tôm TCT trong môi trường nước có độ
mặn thấp tại Châu Á của Green (2007) cho thấy tôm TCT thích nghi và tăng trưởng tốt
ở môi trường nước có độ mặn thấp. [44]
Bảng 1.1: Một số yếu tố thích hợp của môi trường nước nuôi tôm TCT [45]
Các yếu tố môi trƣờng nƣớc
Chỉ tiêu
Nhiệt độ (
o
C)
≤ 0,002
1.1.1.3. Nghiên cứu về thức ăn:
Tôm TCT là loài ăn tạp, thức ăn bao gồm cả xác phiêu sinh thực vật lẫn động
vật, mùn bã hữu cơ, lab – lab, các sinh vật đáy đến thức ăn công nghiệp, thức ăn tươi
sống .v.v. Khả năng bắt mồi giữa các cá thể khá tương đồng nên ít có hiện tượng phân
đàn khi nuôi. Khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm TCT rất cao, trong điều kiện nuôi
thương phẩm lượng thức ăn chỉ cần 5 % thể trọng tôm. Thức ăn của tôm TCT cũng
không cần lượng protein cao như tôm sú, 35 % protein được coi là thích hợp hơn cả
trong khi tôm sú cần 40 % protein và tôm he Nhật Bản cần 60 % protein. Thức ăn có
thêm mực tươi rất được tôm TCT ưa thích. [46]
Thí nghiệm cho tôm ăn tại Đại học Hawaii từ 1, 2, 3, 4, 5, 6 lần trong ngày cho
thấy cho tôm ăn 4 lần/ ngày là tốt nhất. [49]
Công ty Gold Coin (Indonesia) đã thử nghiệm loại thức ăn chứa 36 % protein
mang tên Gold forte và so sánh với thức ăn có hàm lượng protein cao hơn (40 ÷ 42 %
protein) tại trại nuôi ở đông Java. Với mật độ nuôi 80 con/ m
2
, diện tích ao nuôi 0,6 ha,
kết quả như sau: 2 ao nuôi sử dụng thức ăn có 36 % protein sau 101 và 108 ngày cỡ
tôm thu hoạch đạt 13,3 g/ con và 12,5 g/ con, năng suất 11,35 tấn/ ha và 8,65 tấn/ ha,
hệ số thức ăn FCR = 1,22 và 1,34. Ở 2 ao đối chứng, sau 102 ngày và 107 ngày tôm
nuôi đạt cỡ 13,3 g/ con và 11,1 g/ con, năng suất 11,60 tấn/ ha và 8,06 tấn/ ha, hệ số
thức ăn FCR = 1,22 và 1,39. Qua thử nghiệm trên cho thấy tôm TCT ăn thức ăn có
hàm lượng protein 36 % cho kết quả như thức ăn có hàm lượng prortein cao hơn. [30]
1.1.1.4. Nghiên cứu sản xuất giống:
Tôm TCT thành thục sớm hơn tôm sú. Tôm cái trọng lượng từ 30 ÷ 45 g là có
thể tham gia sinh sản. Con cái đẻ nhiều nhất khoảng 10 lần/ năm. Sức sinh sản thực tế
của tôm cái khoảng 10 ÷ 25 vạn trứng, tùy thuộc vào kích cỡ tôm cái. Trứng có đường
kính trung bình 0,22 mm. Ngoài tự nhiên tôm giao vĩ, đẻ trứng ở những vùng biển có
độ sâu 70 m, nhiệt độ 26 ÷ 28
trong giai đoạn đầu, mỗi tuần có thể tăng trưởng 3 g với mật độ 100 con/ m
2
tại Hawaii
không kém tôm sú. Sau khi đạt cỡ 20 g tôm bắt đầu lớn chậm lại, tăng trưởng khoảng
1 g/ tuần. Tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực. Tôm nuôi trong ao đất sử dụng
nước biển tự nhiên lớn nhanh hơn (50 %) so với tôm nuôi bằng nước giếng đã khử
trùng. [30, 49]
Trong nuôi thương phẩm tôm TCT sinh trưởng và phát triển tốt ở mật độ cao
hơn nhiều so với tôm sú. Tại Hawaii, mật độ cho năng suất cao nhất là 75 con/ m
2
.
Cùng một cách thức nuôi như tôm sú, trong điều kiện các yếu tố môi trường được duy
trì liên tục trong suốt vụ nuôi (DO = 8 ppm, độ trong = 55 cm, nhiệt độ = 28
o
C, pH =
8), lượng nước thay đổi đều đặn hàng ngày từ 10 ÷ 80 % hay nhiều hơn, năng suất
nuôi tôm TCT tại Viện Hải dương học Hawaii đạt đến 44 tấn/ ha. Cũng theo nghiên
cứu của Viện Hải dương học Hawaii, diện tích ao hồ nuôi tôm TCT cho năng suất cao
hơn cả là 2.000 m
2
. [49]
Để tăng năng suất, hạn chế bệnh, quản lý chất thải giảm thiểu ô nhiễm môi
trường, nhiều nước có khuynh hướng phát triển nuôi bền vững, duy trì lượng sinh khối
phù hợp cho hệ thống sản xuất, nuôi không thay nước hoặc hệ thống nuôi tuần hoàn
nước. Thử nghiệm hệ thống nuôi tôm TCT không thay nước được áp dụng ở Tahiti
trong suốt những năm thập niên 80 cho năng suất khoảng 20 tấn/ ha/ năm (Aquacop).
Theo nghiên cứu của Viện Hải dương học Hawaii (1999), tôm TCT nuôi theo mô hình
không thay nước ngoài trời tăng trưởng nhanh hơn tôm nuôi trong điều kiện nước chảy
trong nhà với cùng một loại thức ăn và chế độ cho ăn. Khối lượng thân cuối cùng và tỷ
lệ tăng trưởng trung bình hàng tuần ở các mô hình không thay nước ngoài trời là lớn
châm hàng đầu. Vì vậy trong suốt quá trình nuôi phải coi trọng tất cả các khâu từ tẩy
dọn ao, khử trùng đáy ao, xử lý nước, chọn giống thả, cho ăn, quản lý chất lượng
nước.
Theo Lighner và Bell (1984 – 1987), Wyban và Sweeny (1991), ấu trùng tôm
TCT rất dễ bị nhiễm vi khuẩn Vibrio, vi khuẩn dạng sợi và các bệnh do nguyên sinh
động vật. Để phòng các bệnh này cần chuẩn bị nguồn nước sạch trước khi đưa ấu trùng
vào ương nuôi. Loài tôm này cũng rất dễ bị cảm nhiễm nấm Sirolpidium sp. Khi ấu
trùng tôm bị bệnh có thể chết 100 %. Một số báo cáo cho biết có thể dùng Treflan ở
nồng độ 0,1 ppm để phòng trị nấm Sirolpidium sp. [47]
Bệnh do virus gây ra ở tôm TCT có thể kể đến một số bệnh chủ yếu như hội
chứng Taura, bệnh IHHNV (Infectious hypodermal & hematopoietic necrosis virus),
BP, REO, đặc biệt là bệnh đốm trắng – WSSV. Đến nay trên thế giới vẫn chưa có các
loại thuốc đặc hiệu để chữa trị các bệnh do virus gây ra trên tôm nuôi.
Năm 1992 ÷ 1993 dịch bệnh Taura (TSV) được tìm thấy ở tôm TCT. Bệnh xảy
ra ở ao nuôi sau khi thả giống được 20 ÷ 60 ngày, gây tỷ lệ chết rất cao từ 50 ÷ 80 %,
gây tổn thất nghiêm trọng cho nghề nuôi tôm thương phẩm ở Châu Mỹ. [30].
TSV cũng gây dịch bệnh truyền nhiễm lan rộng ở những vùng nuôi tôm chính
ở Tây Bán cầu (Brak, 1997) và là nguyên nhân gây chết tôm nuôi ở Taiwan (Tu,
1999). Từ năm 1995 ÷ 1998, Argue & CTV – Viện nghiên cứu Hải dương học Mỹ tiến
hành chương trình chọn giống tôm TCT đưa vào nuôi thương phẩm để theo dõi sinh
trưởng và khả năng kháng hội chứng virus Taura. [39]
Bệnh đốm trắng xảy ra và lan rộng từ năm 1999 ÷ 2000 gây thiệt hại lớn nhất
trong lịch sử nuôi tôm TCT ở châu Mỹ. Dịch bệnh đã làm sản lượng tôm TCT giảm
sút, chỉ còn chiếm 11 % tổng sản lượng tôm nuôi trên thế giới và nghề nuôi tôm TCT
lại trở về thời kỳ đầu với sản lượng chỉ vào khoảng 90.000 tấn/ năm. [30]
1.1.1.7. Tình hình nuôi thương phẩm
Trên thế giới tôm TCT được nuôi chủ yếu theo hình thức thâm canh. Châu Mỹ
có 12 quốc gia nuôi tôm TCT. Năm 1998 sản lượng tôm TCT chiếm hơn 90 % sản
lượng tôm nuôi ở Tây Bán cầu. Các nước nuôi cho sản lượng cao như Ecuador đạt
130.000 tấn (1999), phương thức nuôi chủ yếu là bán thâm canh. Kế đến là các nước
Cam Ranh tiếp tục nghiên cứu để hoàn chỉnh quy trình công nghệ.
Năm 2007 Viện Nghiên cứu NTTS (Đại học Nha Trang) thực hiện đề tài:
“Chuyển giao công nghệ sản xuất giống và nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng
(Litopenaeus vannamei) cho Quảng Bình” Mã số: B2007-13-26-TĐ
Năm 2008 Trường Đại học Nha Trang lập dự án “Xây dựng mô hình áp dụng
tiến bộ kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An.
Năm 2009 TS. Bùi Quang Tề, Viện nghiên cứu NTTS I biên soạn tài liệu “Nuôi
thâm canh tôm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm theo mô hình GAqP”; Năm 2009,
Viện nghiên cứu NTTS III đã phối hợp với các Trung tâm giống, Chi cục NTTS ở các
tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Ninh Thuận và Bình Thuận thực hiện mô
hình nuôi thương phẩm tôm TCT F1 – V3 – VN. [60, 63]
Năm 2010, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia
TP. Hồ Chí Minh) đã hoàn thành nghiên cứu về ứng dụng công nghệ Biofloc, với ưu
thế giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh, tăng năng suất, tiết kiệm chi phí thức ăn
cho người nuôi tôm. [57]
1.1.2.2. Tình hình nuôi thương phẩm
Việt Nam cũng là một trong những nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á di
nhập giống tôm TCT, nhưng lại là nước phát triển nuôi loài này vào loại chậm trong
khu vực. Từ năm 1996 - 1997 một Việt kiều Mỹ là ông Trần Kia đã lập dự án xin nhập
giống tôm TCT về nuôi tại Bạc Liêu. Tuy nhiên, đến năm 2001 - 2002 Bộ Thủy sản
(nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) mới cho 3 doanh nghiệp 100 % vốn
nước ngoài là Công ty Duyên Hải (Bạc Liêu), Công ty Việt Mỹ (Quảng Ninh) và Công
ty Asia Hawaii (Phú Yên) được nhập con giống SPF có nguồn gốc từ Hawaii và Trung
Quốc để nuôi thử nghiệm. [59]
Tháng 4/ 2001 công ty Duyên Hải (Bạc Liêu) nhập 1 triệu con giống (PL
8
, PL
9
)
Năm 2004 công ty Giống thủy sản Hải Phòng cũng đã hoàn thành quy trình
nuôi tôm TCT Nam Mỹ trong môi trường nước ngọt, nước lợ. Kết quả nuôi thử
nghiệm tại Bát Tràng (An Lão), cầu Nguyệt (Kiến An) đạt năng suất 0,6 ÷ 1,2 tấn/ ha.
[13]
Năm 2005 công ty Đầu tư và phát triển Hạ Long đã nuôi tôm TCT đạt năng suất
11 tấn/ ha/ vụ. [2]
Năm 2007 nhiều hộ nuôi tôm sú đã mạnh dạn chuyển sang nuôi tôm chân trắng
vì nhu cầu thực tế thị trường lúc bấy giờ. Tuy vậy, chúng ta đã đi chậm hơn Thái Lan
tới gần 10 năm về nuôi đối tượng tôm TCT. Theo báo cáo của ngành thủy sản, một số
kết quả đạt được trong năm 2008 tại các địa phương: sau 3 tháng nuôi thả, năng suất
bình quân đạt từ 10 - 12 tấn/ha, với giá bán 60.000 - 65.000 đồng/kg (loại 70 - 75 con/
kg), tính ra mỗi ha lợi nhuận khoảng 250 triệu đồng, cao hơn nhiều so với tôm sú. [55]
Bước sang những tháng đầu năm 2009, ngươi nuôi tôm chân trắng ở các tỉnh đã
gặp phải dịch bệnh Taura. Theo kết quả xét nghiệm của Viện Nghiên cứu NTTS III
ngày 27/03/2009, tại hai cơ sở sản xuất giống tôm TCT ở thành phố Tuy Hòa và hai ao
nuôi tôm TCT thương phẩm ở huyện Đông Hòa cho thấy đã phát hiện bệnh Taura. [61]
Năm 2010 dịch bệnh tôm xảy ra ở nhiều địa phương gây thiệt hại lớn ở các tỉnh
Long An, Bạc Liêu, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Trị. Nguyên nhân tôm bị dịch bệnh
là do chất lượng tôm giống kém, không rõ nguồn gốc xuất xứ, không qua kiểm dịch,
nguồn nước nuôi tôm bị ô nhiễm, tình trạng nắng nóng kéo dài, người nuôi thiếu ý
thức cộng đồng, nuôi tôm không tuân theo mùa vụ của cơ quan quản lý ở địa phương,
xả thải bừa bãi, thả nuôi với mật độ khá cao (khoảng 100 con/m
2
). [61]
Tại Việt Nam, ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung tôm TCT được nuôi theo
hình thức thâm canh. Riêng khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tôm TCT hiện đang
được nuôi theo nhiều hình thức (thâm canh, bán thâm canh, quảng canh cải tiến). Phát
triển nuôi tôm TCT ở đồng bằng Sông Củu Long không phải để thay thế tôm sú mà
nhằm tận dụng những ưu điểm, lợi thế của tôm chân trắng nhằm đa dạng hóa đối tượng
nuôi cũng như tận dụng những diện tích không thuận lợi cho nuôi tôm sú để phát triển
thương phẩm lớn nhất (gần 4.000 ha) và các tỉnh Nam Trung Bộ với tổng diện tích
nuôi khoảng 7.000 ha. [55]
* Sản lượng tôm nuôi:
8000
47800
14500
89500
300
25397
136700
414.6
0
20000
40000
60000
80000
100000
120000
140000
2008 2009 2010
Diện tích nuôi
(ha)
Sản lượng
(tấn)
Kim ngạch
(triệu USD)
Cùng với sự gia tăng về diện tích nuôi, sản lượng tôm TCT cũng liên tục tăng
qua từng năm. Năm 2008 sản lượng đạt 47.800 tấn, năm 2009 sản lượng đạt 89.500
tấn. Sang đến năm 2010 sản lượng đạt 136.700 tấn (tăng 50 % so với năm 2009).
* Giá trị tôm nuôi: