ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG kỹ THUẬT và ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH tế xã hội của NGHỀ NUÔI tôm CHÂN TRẮNG (penaeus vannamei boon, 1931) QUY mô NHỎ tại MÓNG cái QUẢNG NINH - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGÔ VĂN ĐẠT
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ ĐÁNH
GIÁ HIỆU
QUẢ KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA NGHỀ NUÔI TÔM
CHÂN TRẮNG
(Penaeus vannamei Boon, 1931) QUY MÔ NHỎ TẠI
MÓNG CÁI -
QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang, 2010
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGÔ VĂN ĐẠT
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU
QUẢ KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA NGHỀ NUÔI TÔM CHÂN TRẮNG
(Penaeus vannamei Boon, 1931) QUY MÔ NHỎ TẠI MÓNG CÁI -
QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Nuôi trồng thuỷ sản
Mã số: 60.62.70
Người hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Anh Tuấn
Nha Trang, 2010
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn
khoa học của thầy giáo TS Ngô Anh Tuấn. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong

DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT vii
MỞ ĐẦU 1
Cơ sở khoa học và thực tiễn 1
Ý nghĩa của đề tài 2
Mục tiêu nghiên cứu 2
Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nuôi tôm chân trắng trên thế giới 3
2.2 Tình hình nuôi tôm chân trắng tại Việt Nam 8
2.3 Tình hình nuôi tôm chân trắng và một số vấn đề kinh tế xã hội Quảng Ninh 12
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 18
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu 18
2.1.2. Thời gian và đối tượng nghiên cứu 18
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu 18
2.2.1.1. Thu thập số liệu thứ cấp 19
2.2.1.2. Thu số liệu sơ cấp 19
2.2.2. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 19
2.2.2.1. Xử lý số liệu 19
2.2.2.2. Phân tích số liệu 19
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1. ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU 22
3.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 22
3.1.1.1. Vị trí địa lý 22
3.1.1.2. Khí hậu 22
iv
3.1.1.3. Địa hình và đất đai 22

3.3.1.1. Số nhân khẩu, năm kinh nghiệm 45
v
3.3.1.2. Thông tin về độ tuổi 45
3.3.1.3. Thông tin về giới tính 46
3.3.1.4. Trình độ văn hoá, học vấn và chuyên môn của hộ nuôi 46
3.3.1.5. Đất đai của hộ nuôi 47
3.3.2. Những khó khăn thường gặp, kiến nghị và hướng phát triển của hộ nuôi .48
3.3.2.1. Những khó khăn thường gặp của các hộ nuôi tôm chân trắng 48
3.3.2.2. Kiến nghị của hộ nuôi 50
3.3.2.3. Hướng phát triển của hộ nuôi 51
3.3.3. Kết quả kinh tế trong nuôi tôm chân trắng quy mô nhỏ tại Móng Cái 51
3.3.3.1. Các khoản chi phí trong nuôi tôm 51
3.3.3.2. Doanh thu từ hoạt động nuôi tôm chân trắng 54
3.3.3.3. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 55
3.3.4. Hiệu quả xã hội 55
3.3.4.1. Đánh giá về lao động 55
3.3.4.2. Đánh giá về môi trường 56
3.3.4.3. Một số vấn đề khác 57
3.4. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM CHÂN
TRẮNG BỀN VỮNG TẠI MÓNG CÁI 57
3.4.1. Giải pháp về chất lượng con giống 57
3.4.2. Mật độ nuôi 58
3.4.3. Ao chứa, xử lý nước 58
3.4.4. Vấn đề vốn 58
3.4.5. Thị trường tiêu thụ sản phẩm 59
3.4.6. Công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền 59
3.4.7. Quy hoạch vùng nuôi 59
3.4.8. Kiểm soát, hạn chế dịch bệnh nâng cao chất lượng sản phẩm nuôi 60
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 61
4.1. Kết luận 61

Biểu đồ 3. 7: Sản lượng tôm chân trắng vụ Xuân hè và Thu đông từ 2003 - 2009 38
vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT
Chữ viết tắt
BTC
Ctv
DS
DT
ĐVT
ĐBSCL
FAO
GDP
HPV
HQ
IHHNV
KTXH
Max
Min
NN&PTNT
NSBQ
NTTS
PL
SL
TB
TC
TP
Tr.đ
TSCĐ
TSV
USD

Hội chứng bệnh đốm trắng
Tổ chức thương mại thế giới
Bệnh đầu vàng
1
MỞ ĐẦU
Cơ sở khoa học và thực tiễn
Tôm chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931 hoặc Litopenaeus vannamei)
có nguồn gốc từ Nam Mỹ, không phân bố tự nhiên ở vùng biển các nước châu Á. So
với tôm sú (Penaeus monodon), tôm chân trắng có nhiều ưu việt: tốc độ sinh trưởng
nhanh [63], có thể nuôi mật độ cao do có đặc tính phân bố đều trong cột nước; Tôm
chân trắng có tỷ lệ sống và sinh trưởng tốt hơn nhiều lần so với tôm sú ngay cả trong
điều kiện độ mặn biến động lớn; có khả năng chịu được nhiệt độ thấp (<15oC) [82],
đặc biệt tôm chân trắng cũng đòi hỏi thức ăn có hàm lượng protein thấp hơn tôm sú
nên ngày càng được phát triển nuôi rộng [77].
Là đối tượng tôm nuôi được nhập nội vào Việt Nam năm 2001 [58] nhưng tôm
chân trắng hiện đang được nuôi rộng rãi tại các tỉnh ven biển nước ta. Trong giai đoạn
từ năm 2007 đến 2009, diện tích nuôi tôm chân trắng đặc biệt phát triển nhanh trên
phạm vi cả nước, từ 4.002 ha tăng lên 16.611 ha. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây,
nghề nuôi tôm chân trắng tại Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn do ô
nhiễm môi trường, dịch bệnh và con giống kém chất lượng [21].
Quảng Ninh là tỉnh có nghề nuôi tôm chân trắng phát triển khá sớm, với hình
thức nuôi chủ yếu là bán thâm canh và thâm canh năng suất cao. Theo thống kê của
Cục nuôi trồng Thuỷ sản, tính đến năm 2009 diện tích nuôi tôm chân trắng của Quảng
Ninh là 4.050 ha, chiếm 24,4% diện tích nuôi tôm chân trắng cả nước và đồng thời là
tỉnh có diện tích nuôi tôm chân trắng lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, việc mở rộng diện
tích nuôi tương đối nhanh, trong khi trình độ kỹ thuật, khả năng đáp ứng con giống, cơ
sở hạ tầng và đặc biệt là vấn đề quy hoạch vùng nuôi, quản lý môi trường và dịch bệnh
còn nhiều bất cập, nghề nuôi tôm chân trắng đang bộc lộ tính thiếu bền vững [20].
Với câu hỏi nghiên cứu đặt ra là Hiện trạng nghề nuôi tôm chân trắng quy mô
nhỏ tại Quảng Ninh đem lại hiệu quả kinh tế- xã hội như thế nào? Và nhằm có một cái

1.1 Tình hình nuôi tôm chân trắng trên thế giới
Tôm chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931 hoặc Litopenaeus vannamei)
phân bố tự nhiên ở vùng tây Thái Bình Dương của châu Mỹ La tinh từ phía nam Peru đến
phía bắc Mexico nơi có nhiệt độ trung bình 200C. Chúng có tên thường dùng trong các tài
liệu nước ngoài là: pacific white shrimp, West Coast white shrimp, Camaron blanc,
langostino; Tổ chức FAO thường dùng trong tài liệu của mình là: Whiteleg shrimp,
Crevette pattes blanches, Camaron patiblanco. Trong tài liệu của Việt Nam viết bằng tiếng
anh là Whiteleg shrimp [55]. Từ những thập niên 70 - 80 thế kỷ XX tôm chân trắng được
nuôi ở Hawaii, phía nam Caroline, Texas và ở phía nam Brazil [29], sau đó được nuôi mở
rộng sang các quốc gia khác, đặc biệt phát triển mạnh ở các nước châu Á. Các nước nuôi
nhiều tôm chân trắng hiện nay là Thái Lan, Trung Quốc, Inđônêxia, Malaixia, Philippin,
Êcuađo, Mêhicô, Panama, Hundurat, Braxin, Mỹ, Columbia [97,75,80].
Do có khả năng kháng bệnh cao nên loài tôm này đã được phát triển nuôi mạnh
ở châu Mỹ từ cuối thập kỷ 80, nhưng đến năm 1989 dịch bệnh IHHNV bùng phát trên
tôm chân trắng ở các nước Nam Mỹ, gây thiệt hại lớn cho các quốc gia này [82,83]. Tới
những năm 90 tôm chân trắng đã chiếm ưu thế với trên 70% tổng sản lượng tôm nuôi tại
các quốc gia châu Mỹ. Cũng trong thập kỷ 90 ngành nuôi tôm chân trắng ở châu Mỹ
phải trải qua hai đợt dịch bệnh đó là dịch Taura và đại dịch đốm trắng, trong đó hội
chứng Taura đã gây thiệt hại cho ngành nuôi tôm chân trắng ở châu Mỹ Latinh trong
thập niên 1999 khoảng 1 - 1,3 tỷ USD [70]; Ecuador thiệt hại khoảng 30% sản lượng
tôm chân trắng nuôi năm 1992 [73]. Tới năm 2002, tình hình nuôi tôm chân trắng ở
châu Mỹ dần ổn định trở lại và đã đem lại sản lượng đạt 213.000 tấn [70].
Ở châu Á, tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) được đưa vào nuôi trên cơ sở
thử nghiệm vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước [23], đến năm 1996 L.vannamei
được nhập vào Châu Á để nuôi thương phẩm, bắt đầu là tại Trung Quốc đại lục, Đài
Loan và sau đó được mở rộng tới các quốc gia khác [25]. Tổng sản lượng tôm chân
trắng năm 2002 của châu Á đạt xấp xỉ 316.000 tấn. Năm 2003, chỉ tính riêng quốc gia
Trung Quốc sản lượng tôm chân trắng là 605.259 tấn [4, 64]. Đến năm 2004 tôm chân
trắng đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến ở những quốc gia châu Á và đã đưa tổng sản
lượng tôm chân trắng thế giới tăng lên nhanh chóng, đạt 1.297.935 tấn. Đến năm 2006

tăng trưởng bình quân15%/năm. So sánh giá trị thu được giữa các đối tượng thuỷ hải
sản nuôi thì tôm chân trắng tạo ra giá trị cao nhất [65].
Giá trị (USD)
10000000
9000000
8000000
7000000
6000000
5000000
4000000
3000000
2000000
1000000
0
1451039
228407
6
3433640
4484169
5857430
7720509
8815854
Năm
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
(Nguồn: Fao 2007, Fishery and Aquaculture Statistics)
Biểu đồ 1. 2: Diễn biến giá trị tôm chân trắng thế giới 2001 - 2007
5
Mặc dù tôm chân trắng không phải là loài tôm bản địa ở các nước trong khu vực
châu Á như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, …song các quốc gia này cũng đã có rất
nhiều tiến bộ trong lĩnh vực phát triển công nghệ, kỹ thuật nuôi và đạt được những

đổi để quản lý môi trường ao nuôi tốt hơn, nhằm hạn chế dịch bệnh. Ngoài ra các quốc
gia khác cũng đang phát triển nuôi tôm chân trắng như Malaysia, Ấn độ, Philippin,
Tuy nhiên, các quốc gia châu Á này vẫn luôn cảnh giác với các vấn đề về môi trường,
dịch bệnh, con giống, thức ăn,…và thực tế nhiều nước đã và đang phải đối phó, giải
quyết những vấn đề đó nhằm xây dựng và phát triển lĩnh vực sản xuất, nuôi tôm chân
trắng bền vững.
Cùng với nghề nuôi tôm chân trắng phát triển một cách nhanh chóng, hoạt động
chế biến tôm chân trắng trên thế giới cũng đạt mức khá cao. Nếu như năm 1993, tổng
sản lượng tôm chân trắng chế biến của thế giới chỉ đạt 109.397 tấn thì đến năm 2003
con số này là 723.858 tấn, trong đó châu Á đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng
trưởng này. Những quốc gia có sản lượng tôm chân trắng chế biến lớn nhất phải kể đến
là Trung Quốc, Thái Lan, Brazil và Ecuador [80]. Mặc dù tôm chân trắng mang lại hiệu
quả cao cả về mặt kinh tế và xã hội trên toàn cầu, song để đạt được điều này nhiều quốc
gia đã phải đối mặt với không ít khó khăn các vấn đề về môi trường nuôi, thiên tai và
bệnh dịch. Đặc biệt, những năm 90 của thế kỷ trước, khi tôm sạch bệnh (SPF) chưa ra
đời, bệnh dịch đã tràn lan gây thất thu nghiêm trọng [29].
Trước năm 2000-2002, nhiều nước châu Á đã tìm cách hạn chế phát triển nuôi
tôm chân trắng do lo sợ lây bệnh cho tôm sú. Nhưng sau đó, lợi nhuận cao và những
ưu điểm rõ ràng nên các nước đều phát triển nuôi tôm chân trắng tự phát và rồi mới
chính thức cho phép. Một số bệnh nguy hiểm chủ yếu đã gây thiệt hại lớn đối với tôm
chân trắng như: Hội chứng Taura (TSV), bệnh được phát hiện đầu tiên tại các trại nuôi
tôm chân trắng dọc bờ sông Taura (Ecuador) năm 1992, tại Peru năm 1993; Colombia,
Honduraz, El Salvadoz, Hawaii, Florida and Brazil năm 1994; Mexico, Texas, và Nam
Carolina năm 1995-96 [61,72] và tại một số nước vùng Châu Á như Trung Quốc năm
1999; Đài Loan, Thái Lan và Indonesia năm 2003; Malaysia và Việt Nam năm 2004
[69]. Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu (IHHNV) được phát hiện đầu tiên trên tôm chân
trắng tại khu vực Châu Mỹ năm 1981, ở Châu Á-Thái Bình Dương bệnh đã xuất hiện
tại Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Philippine, Thái Lan, Malaysia, và Indonexia
[65]. Bệnh đốm trắng cũng đã gây thiệt hại cho nghề nuôi tôm khu vực Châu Á từ
những năm 1992 và khu vực Châu Mỹ La Tinh từ những năm 1999. Tôm chân trắng

lý bởi một số người chung vốn với nhau. Những người chủ thực sự của trang trại nuôi
thường là người ở nơi khác. Đa số các trang trại nuôi bán thâm canh sẽ có một số diện
tích nuôi theo công nghệ thâm canh. Đối với quy mô vừa có diện tích ao khoảng 5-40
ha/trang trại. Các ao nuôi thâm canh trong trang trại thường được thả giống ở mật độ
8
trên 25 PL/m2 và quá trình nuôi đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ môi trường nước ao, mật
độ động vật phù du, thực vật phù du và lượng thức ăn để đảm bảo môi trường nuôi tối
ưu nhất nhằm giảm tối đa các yếu tố bất lợi cho động vật nuôi. Thức ăn công nghiệp
được sử dụng ngay sau khi thả giống và ban đêm có sục khí. Tuy nhiên, việc đầu tư
bài bản và khép kín từ khâu sản xuất và ương giống, cung ứng thức ăn và mua sắm
trang thiết bị cho các trang trại nuôi thâm canh và bán thâm canh thường chỉ được tiến
hành ở các trang trại quy mô vừa và lớn còn với các trang trại quy mô nhỏ ít có điều
kiện để đầu tư [61].
2.2 Tình hình nuôi tôm chân trắng tại Việt Nam
Tôm chân trắng là loài tôm he ngoại lai duy nhất được nhập vào Việt Nam,
lần đầu tiên nhập từ Đài Loan vào nuôi thử ở Bạc Liêu từ tháng 1 năm 2001. Năm
2003 diện tích tôm chân trắng cả nước đạt 691 ha [54], năm 2004 là 1.600 ha, sản
lượng đạt được khoảng 5.000 tấn [55], cho tới năm 2006 diện tích nuôi đối tượng này
đã đạt 5.446 ha [22]. Tôm chân trắng được nuôi ở một số địa phương, có nơi dân
nuôi tự phát [55]. Do đây là một đối tượng mới nhập vào Việt Nam nên Bộ Thuỷ Sản
đã chỉ đạo kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất tôm chân trắng từ khâu giống đến nuôi
thương phẩm và tiến hành thực hiện nuôi khảo nghiệm. Đồng thời chưa cho phép
nuôi tôm chân trắng ở các tỉnh khu vực miền Đông Nam Bộ và ĐBSCL do lo ngại về
dịch bệnh, môi trường sinh thái và các vấn đề khác[8].
Mặc dù ngành thuỷ sản đang rất thận trọng trong việc phát triển các mô hình
nuôi tôm chân trắng vì sợ không kiểm soát được môi trường tự nhiên, nhưng khoảng
thời gian từ năm 2002 đến 2005, nhiều địa phương nuôi tôm chân trắng đã thu được
kết quả tốt như tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Nghệ An [54]. Đối với các tỉnh ven
biển miền Trung nói chung, nuôi tôm chân trắng vẫn hấp dẫn nông ngư dân, vì cho
năng suất cao [84]. Năm 2005 các tỉnh miền Trung nuôi tôm chân trắng trên diện tích

0
2
0
0
0
0
691
1600
4002
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Năm
Nguồn [22,54,55]
Biểu đồ 1. 3: Diễn biến diện tích nuôi tôm chân trắng cả nước 2003 - 2009
Kể từ khi du nhập tôm chân trắng vào nuôi thương phẩm tại Việt nam cho tới năm
2007 nuôi tôm chân trắng phát triển chủ yếu tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung [56].
Tuy nhiên, bước sang năm 2008 tôm chân trắng được phép nuôi trên phạm vi cả nước
[2,3] đã làm diện tích nuôi tôm chân trắng tăng lên nhanh chóng và đạt 16.611 ha vào
năm 2009 [21].
Tính trong năm 2009, Quảng Ninh là địa phương có diện tích thả nuôi tôm chân
trắng nhiều nhất cả nước với 4.050 ha, chiếm 24,4% diện tích tôm chân trắng cả nước.
Đứng thứ hai là tỉnh Phú Yên (1.596 ha), tiếp đến là các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận,
Long An, Quảng Ngãi, Quảng Bình và Quảng Nam [21,55,54].
Cùng với sự gia tăng về diện tích thì sản lượng nuôi cũng tăng từng năm. Tổng
sản lượng tôm chân trắng ở Việt Nam từ năm 2002 mới chỉ đạt khoảng 10.000 tấn, năm
2004 là 30.000 tấn nhưng sang năm 2008 đã đạt 73.590 tấn, tốc độ bình quân tăng
trưởng về sản lượng qua các năm đạt 15%/năm [56]. Trong năm 2009, Bình Thuận và
10
Phú Yên là hai tỉnh có sản lượng tôm chân trắng nhiều nhất với 6.590 và 6.196 tấn, tiếp
theo là các tỉnh Ninh Thuận: 4.774 tấn, Quảng Ngãi: 4.124 tấn, Quảng Nam và Bà Rịa -
Vũng Tàu mỗi tỉnh đạt hơn 3.000 tấn. Theo Cục Chế biến, thương mại nông lâm thủy
sản và nghề muối, tính cuối năm 2009, Việt Nam đã xuất khẩu được 670 tấn tôm he

Năm 2004, dịch bệnh đốm trắng trên tôm chân trắng đã xảy ra và gây chết tôm
hàng loạt ở nhiều địa phương như: Quảng Nam (20 ha), Bình Định (20 ha), Quảng
Ngãi (16 ha), Phú Yên (49 ha). Năm 2009 diện tích nuôi tôm chân trắng bị thiệt hại do
bệnh là 2.196 ha, chiếm 13,2% tổng diện tích nuôi tôm chân trắng của cả nước, cao
hơn 9,5% so với cùng kỳ năm 2008 (470 ha, chiếm 3,7%). Qua đó đã gây thiệt hại
khoảng 243 triệu con giống với giá trị khoảng 7 tỷ đồng. Trong đó Khánh Hòa và
Quảng Ninh là hai tỉnh bị thiệt hại nhiều nhất với 1.732 ha, chiếm 83,4 % tổng diện
tích nuôi tôm chân trắng bị bệnh trên cả nước [21].
Một trong những nguyên nhân phát sinh dịch bệnh là do việc nhập lậu tôm chân
trắng giống từ Trung Quốc đã vận chuyển và phát tán ra nhiều tỉnh trong cả nước. Các
nghiên cứu khoa học và thực tế sản xuất cũng cho thấy, nếu không được quản lý chặt
chẽ và kiểm soát nghiêm ngặt thì nguy cơ thiệt hại về kinh tế xã hội và môi trường rất
cao từ các hoạt động nuôi tôm chân trắng [55].
Nuôi tôm chân trắng ở Việt Nam hiện đang tồn tại nhiều quy mô khác nhau,
trong đó nuôi quy mô lớn thường gặp chủ yếu là các doanh nghiệp có thể là nhà nước
hoặc tư nhân. Ở quy mô này, việc đầu tư xây dựng công trình nuôi, trình độ tổ chức và
quản lý mang tính chất chuyên nghiệp. Chẳng hạn như các cơ sở sản xuất lớn ở Quảng
Ninh, Sóc Trăng, Bến Tre, Bạc Liêu, Kiên Giang đầu tư xây dựng khu nuôi vài chục đến
hàng trăm ha, qui họach, thiết kế bài bản, cách ly an toàn sinh học nên ít xảy ra dịch
bệnh, đạt năng suất nuôi cao và khá ổn định. Diện tích ao nuôi phổ biến từ 2.000-5.000
m2/ao, ao lót bạt hoặc đổ bê tông, có hệ thống cấp thoát nước riêng; có hệ thống ao lắng
và xử lý. Đối với cơ sở nuôi này, nguồn giống được thả nuôi thường có nguồn gốc xuất
xứ rõ ràng, con giống chất lượng. Mật độ tôm thả nuôi từ 120-150 con/m2, cỡ giống thả
PL10-12, nuôi 1-3 vụ/năm, kích cỡ tôm thu họach từ 40-80 con/kg, thời gian nuôi 3-3,5
tháng/vụ. Năng suất nuôi dao động từ 10-15 tấn/ha [54].
Đối với cơ sở nuôi quy mô nhỏ hiện nay thường là quy mô hộ gia đình, đa phần
bị hạn chế bởi việc thiếu tài chính và nhân lực để đầu tư sản xuất; hạn chế về kỹ thuật
nuôi, trình độ quản lý [19]. Thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định và dễ bị ép giá
của các đầu nậu, nhất là trong trường hợp ao nuôi có sự cố về bệnh phải bán gấp. Công
tác kiểm dịch, kiểm tra chất lượng giống ít được chú trọng. Mật độ nuôi cao, dao động

ha, trong đó tôm chân trắng 1.067,9 ha, tập trung ở các huyện thị: Móng Cái (815,4
ha), Hải Hà (12 ha), Đầm Hà (90 ha), Vân Đồn (40 ha), Hoành Bồ (31 ha), Yên Hưng
(59,5 ha) và khoảng vài chục ha tại các huyện, thị khác như Cẩm Phả, Hạ Long.
13
Từ năm 2005 - 2009 là giai đoạn nghề nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ninh phát
triển nhanh trên phương diện diện tích.
14000
Diện tích (ha)
12000
11232
11500
10380 10542
10000
8000
9423
6000
4000
2400
3500
4000 4050
2000
0
1350
2005 2006 2007 2008 2009
Năm
Tổn
g
DT
tôm
nuô

7000
6000
5000
4310
5300
6690 7000
6368
40
00
4340 4500
4772
3000
2000
2500
2670
1000
Năm
0
2005 2006 2007 2008 2009
Nguồn [24,48, 49, 50, 51]
Biểu đồ 1. 5: Sản lượng tôm nuôi tại tỉnh Quảng Ninh từ 2005 – 2009

Trích đoạn Trình độ văn hoá, học vấn và chuyên môn của hộ nuôi Những khó khăn thường gặp, kiến nghị và hướng phát triển của hộ nuôi Kiến nghị của hộ nuôi Các khoản chi phí trong nuôi tôm Đánh giá về môi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status