i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TÀO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ ĐÁNH GIÁ
HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NGHỀ NUÔI HẦU
(Crassostrea belcheri Sowerby, 1871) THƯƠNG PHẨM
Ở TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Nuôi trồng thuỷ sản
Mã số: 60. 62. 70
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGÔ ANH TUẤN
trồng thuỷ sản và phòng đào tạo đại học và sau đại học – Trường đại học Nha Trang đã
tạo điều kiện để tôi được học tập, nghiên cứu và nâng cao trình độ trong thời gian qua.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS. Ngô Anh Tuấn đã định hướng, tận tình
giúp đỡ và có nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo Viện nghiên cứu hải sản, Ban lãnh đạo
Phân viện nghiên cứu hải sản, Chi cục Nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và Uỷ
ban nhân dân xã Long Sơn – Thành phố Vũng Tàu, Cục thống kê tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ cho tôi trong thời gian làm luận văn. Xin được gửi
lời cảm ơn tới gia đình các hộ nuôi hầu đã thu xếp thời gian và cung cấp thông tin trong
luận văn này.
Xin cảm ơn các anh chị lớp Cao học Nuôi trồng thuỷ sản 2009 đã chia sẻ, giúp đỡ
tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Sau cùng tôi xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài luận văn này.
Nha Trang, tháng 3 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Phương Thảo iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
v
1.2.1. Định loại loài hầu phân bố ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 19
1.2.2. Một số đặc điểm về đối tượng nghiên cứu 19
1.2.2.1. Đặc điểm hình thái 19
1.2.2.2. Đặc điểm dinh dưỡng 21
1.2.2.3. Đặc điểm sinh sản 22
1.2.3. Các hình thức nuôi hầu 23
1.2.4. Các công trình nghiên cứu về hầu 24
1.3. Một số khái niệm trong nghiên cứu 26
1.3.1. Hiệu quả kinh tế 26
1.3.2. Hiệu quả kỹ thuật 26
1.3.3. Hiệu quả xã hội 26
Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1.Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 28
2.2. Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1. Thu thập số liệu thứ cấp 29
2.2.2. Thu thập số liệu sơ cấp 29
2.2.3. Xử lý và phân tích số liệu 29
2.2.3.1 Xử lý số liệu. 29
2.2.3.2 Phân tích số liệu 29
2.2.4. Chỉ tiêu xác định kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế - xã hội 30
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1. Điều kiện tự nhiên ở Bà Rịa – Vũng Tàu có ảnh hưởng đến nghề nuôi hầu 31
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 31
3.1.2. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến nghề nuôi hầu 34
3.2. Hiện trạng kinh tế - xã hội của hộ nuôi hầu thương phẩm 35
3.2.1. Thông tin về chủ hộ nuôi hầu 35
3.2.2. Thông tin về hộ nuôi hầu 37
3.6.2. Giải pháp khuyến ngư 51
3.6.3. Giải pháp về chính sách và quản lý 51
3.6.4. Giải pháp về thị trường và xúc tiến thương mại 52
Chương 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 53
4.1. Kết luận 53
4.2. Đề xuất ý kiến 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 60 vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các loài hầu nuôi chính và sản lượng 7
Bảng 1.2: Sản lượng hầu lớn Thái Bình Dương qua các năm 8
Bảng 1.3: Sản lượng hầu thu được ở các quốc gia từ 1978 – 1983 9
Bảng 1.4: Vùng phân bố của các loài hầu trên thế giới 11
Bảng 3.1: Độ tuổi của người nuôi hầu……………………………………………………35
Bảng 3.2: Trình độ văn hóa của chủ hộ nuôi hầu 36
Bảng 3.3: Trình độ chuyên môn của chủ hộ 36
Bảng 3.4: Trình độ chuyên ngành học của chủ hộ 37
Bảng 3.5: Phân bố lao động trong gia đình hộ nuôi hầu 37
Bảng 3.6: Diễn biến các hình thức nuôi hầu qua các năm 39
Bảng 3.7: Các loại giàn nuôi hầu 40
Bảng 3.8: Các loại bè nuôi hầu 41
Bảng 3.9: So sánh các ưu điểm và nhược điểm của các hình thức nuôi 43
Bảng 3.10: Diện tích nuôi hầu qua các năm (Đơn vị tính: m
2
) 43
Bảng 3.11: Thị trường tiêu thụ sản phẩm hầu thương phẩm 46
có trong con hầu ở Long Sơn được đánh giá là cao nhất Việt Nam: thịt hầu có 57% protit,
7-11% lipid, 19-30% gluxit, ngoài ra còn chứa nhiều vitamin A, B1, B2, D và E và so với
nhiều nước như Úc, Canada, Mỹ, Pháp… thì ở Việt Nam rất thuận lợi để phát triển nuôi
hầu vì chu kỳ đời hầu ở các nước này khoảng 3 năm còn ở Việt Nam chỉ khoảng 10 – 12
tháng.
Xã Long Sơn có điều kiện rất lớn để phát triển nghề nuôi hầu, nhưng sản lượng
hầu thu hoạch trong năm qua chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Sản
lượng hầu nuôi ở đây chưa đủ lớn để có thể trở thành mặt hàng xuất khẩu sang các nước
khác. Thị trường tiêu thụ hầu chủ yếu vẫn là các nhà hàng và các chợ trong và ngoài tỉnh,
giá bán còn khá rẻ so với các loại khác. Nguyên nhân của tình trạng chậm phát triển nghề
nuôi hầu ở Long Sơn là do thiếu sự quản lý chặt chẽ, để có thể phát triển nuôi hầu bền
vững. Tình trạng phát triển tự phát đã làm ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường. Người nuôi
không đăng ký khu vực nuôi cũng như diện tích nuôi, nên dễ nảy sinh dịch bệnh.
Bên cạnh đó người nuôi chưa hiểu rõ đặc điểm sinh học của hầu, trình độ kỹ thuật
còn thấp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên khi môi trường thay đổi bất thường, dịch bệnh
2
xảy ra họ chưa có biện pháp khắc phục. Do đó, việc thực hiện đề tài “Điều tra hiện trạng
kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi hầu (Crassostrea
belcheri Sowerby, 1871) thương phẩm ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” là rất cần thiết.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu có thể đề xuất các cơ sở khoa học cho việc xây dựng
một mô hình nuôi phù hợp với điều kiện ngư dân, nhằm góp phần nâng cao thu nhập và
giảm thiểu rủi ro trong nghề nuôi hầu.
- Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu các thông số kỹ thuật về nuôi hầu và các giải
pháp khắc phục khó khăn trong nuôi hầu hiện nay ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đồng thời
đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi hầu mang lại cho người nuôi.
- Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Đề tài thực hiện nhằm bổ
sung, hoàn thiện phương pháp điều tra và xử lý các số liệu trong thống kê kinh tế, đồng
thời đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội nghề nuôi hầu cho tỉnh.
Cơ sở để xây dựng qui hoạch phát triển nuôi hầu, tránh tác động tiêu cực về môi
1.1.1.1 Hầu Châu Âu ( Tên tiếng Anh: European Flat Oyster)
Tên khoa học Ostrea edulis, có hình dạng thuôn oval hay dạng trái lê tương đối
đẹp. Vỏ thô, bề mặt nhám, có dạng tròn trịa, kích thước tương đối đều hơn loài hầu Bồ
Đào Nha. Hai mảnh vỏ có hình dạng khác nhau, không đều : vỏ bên trái cong và bám vào
vật bám, trong khi đó vỏ bên phải phẳng có viền nhám, được dùng như nắp đậy. Mặt
trong của cả hai vỏ đều mịn và óng ánh, màu trắng hay xanh nhạt pha xám. Hai vỏ được
giữ lại với nhau bằng một sợi gân co giãn được. Bên ngoài vỏ có màu trắng đục, vàng
nhạt hay kem vỏ trái có những rãnh hướng tâm màu nâu nhạt hay xanh nhạt. Thịt có màu
từ kem đến xám nhạt, vị hơi mặn, khá chắc. Hầu Châu Âu có thể lớn trên 20 cm và sống
đến 20 tuổi Ostrea edulis phân bố từ ven biển Na Uy xuống đến Maroc, qua Địa trung
hải vào đến Biển Đen.
Tại Châu Âu có khá nhiều địa phương đã trở thành nổi tiếng do các loài hầu sinh
sản tại chỗ như hầu 'natives' ở Anh và Belons de Bretagne ở Pháp.
Tại Anh, vùng Colchester ở Essex, có đặc điểm địa chất của London với những lớp
đất sét trải dài khắp vùng hạ lưu, cửa sông, là nơi sinh sản của loài hầu nổi tiếng Pyfleet.
Vùng duyên hải Pháp, Bỉ và Hà Lan dọc Đại tây dương là nơi cư ngụ của một số loài hầu
nổi tiếng, và vùng biển phía Nam Ái Nhĩ Lan là một trong những vùng sản xuất hầu quan
4
trọng nhất Châu Âu. Tại Pháp tuy Ostrea edulis chỉ chiếm 1/10 tổng sản lượng hầu nhưng
lại cung cấp các loại nổi tiếng như Belons de Bretagne (giá đến 80 USD mỗi dozen).
Cũng tại Pháp, giống hầu phẳng của vùng Cancale (trong Vịnh Morbihan) đã hầu như
biến mất do dịch bệnh Bonamia.
Trong khoảng thời gian 50 năm qua, sản lượng hầu Châu Âu đã sụt giảm rất nhiều,
từ con số 30 ngàn tấn (1961) xuống còn chừng 6-7 ngàn tấn (2003 - 2005), trong đó Tây
Ban Nha chiếm 67% (4.500 tấn) và Pháp chiếm 24 % (1.600 tấn), số còn lại là Anh,
Ireland. Tại Hoa Kỳ, hầu Châu Âu được nuôi rất hạn chế, mỗi năm khoảng 300.000 con.
Hiện nay số lượng hầu Châu Âu được nuôi trên thế giới chỉ chiếm 0,2 % tổng số lượng
các loại hầu [45].
1.1.1.2. Hầu Bồ Đào Nha (Tên tiếng Anh:Portuguese Oyster)
1.1.1.4. Hầu California (Tên tiếng Anh Olympia oyster)
Tên khoa học Ostrea lurida, là một loài hầu đặc trưng của địa phương, phân bố từ
Alaska xuống đến Baja, California nhưng tập trung nhiều nhất tại Oregon và Washington.
Do khai thác quá mức và ngộ độc do môi sinh bị ô nhiễm nên loài này gần như bị tuyệt
chủng vào năm 1950. Sau đó nhờ các chương trình tái tạo môi sinh nên số lượng hầu này
dần dần phát triển trở lại. Ostrea lurida tương đối nhỏ: từ 4 - 5 cm, vỏ thuôn tròn màu
xám đậm. Thịt ngọt nhưng hơi chát, hiện được nuôi tại vùng Netarts Bay (Oregon), sản
lượng hàng năm khoảng 500.000 con [45].
1.1.1.5. Hầu ống (Tên tiếng Anh: Pacific oyster, Pacific cupped oyster)
Tên khoa học Crassostrea gigas. Đây là loài hầu lớn nhất, dài tối đa chừng 30 cm
(tuy có những mẫu đặc biệt dài đến 40 cm), trung bình 8 - 15cm. Trong thiên nhiên hầu
Pacific có vò dạng thuôn dài, không đều, màu trắng nhạt có nhiều vệt và đốm tím. Vỏ bên
trong màu trắng. Phân bố khá rộng từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Siberia, Úc, Mỹ và Canada…
Giống từ Nhật Bản được du nhập đưa đến vùng ven biển Hoa Kỳ từ 1919, được nuôi từ
Alaska xuống đến Baja California. Tại Châu Âu: Hầu Pacific được đưa về nuôi trong
vùng biển từ phía nam Bán đảo Anh đến Bồ Đào Nha. Hầu Pacific thay đổi giới tính rất
6
bất thường và tuỳ mùa. Sinh sản tuỳ nhiệt độ của nước biển: mỗi lần đẻ từ 50 đến 100
triệu trứng
Hầu Pacific là loài hầu được nuôi rất nhiều tại Hoa Kỳ và hầu nuôi có hình dạng
thay đổi tuỳ theo địa phương sản xuất: hầu tại Samish Bay có vỏ to, hình quạt; tại Hood
canal nhỏ hơn và thuôn hơn; tại Puget Sound hầu to nhất, thịt dầy và dai rất được ưa
chuộng tại Hồng Kông và các thị trường Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc. Hầu Pacific
thịt đậm và ngọt, giống Puget Sound và Willapa có thêm vị của các loài rong biển mà
chúng dùng lảm thực phẩm Đây là loài hầu được tiêu thụ nhiều nhất tại Hoa Kỳ. Sản
lượng đánh bắt lên đến 32.000 tấn (năm 2006): Hàn Quốc chiếm 11.000 tấn, Hoa Kỳ 600
tấn. Sản lượng nuôi trên toàn thế giới khoảng 4.800 tấn.
Tại vùng Tây Bắc Hoa Kỳ, Pacific hầu được nuôi và sinh sản rất mạnh dọc bờ biển
Tiểu bang Washington, nhất là trong vùng Vịnh Quilcene và Dabob. Hai công ty nuôi hầu
của vò màu trắng, vàng nhạt, óng ánh. Thịt mềm, ngọt, màu trắng hồng. Tại Việt Nam,
Hầu sông phân bố tại các vùng duyên hải miền Bắc như Quảng Ninh, Thanh Hóa trong
vùng nước lợ cửa sông, bám vào các rạng đá ngẩm, dải san hô 45.
1.1.2. Sản lượng hầu thế giới và tình hình xuất nhập khẩu hầu
1.1.2.1. Các loài hầu nuôi chính trên thế giới
Có tới 12 loài hầu khác nhau được nuôi ở khắp các châu lục, nhưng chỉ có 4 -5 loài
có sản lượng cao [23]
Bảng 1.1: Các loài hầu nuôi chính và sản lượng
Loài Sản lượng (Đơn vị tính: 1000 tấn)
Hầu lớn Thái Bình Dương (Crassostrea gigas) 3.600
Hầu châu Mỹ (Crassostrea virginica) 59
Hầu khác (Crassostrea spp) 25
Hầu Philippin (Crassostrea iredalei) 19
8
Như vậy, có thể thấy ngay được rằng hầu nuôi hiện nay chỉ tập trung chủ yếu vào
loài hầu lớn Thái Bình Dương, với sản lượng cao chiếm tỷ lệ 98% sản lượng hầu nói
chung.
Tuy có nguồn gốc ở vùng Tây – Bắc Thái Bình Dương nhưng đến nay hầu lớn
Thái Bình Dương đã được nuôi nhân tạo ở khoảng 30 nước trên thế giới và cho sản lượng
qua các năm như sau: [23]
Bảng 1.2: Sản lượng hầu lớn Thái Bình Dương qua các năm
Năm Sản lượng hầu lớn Thái Bình Dương
(Đơn vị tính: 1000 tấn)
1991 1.190
1995 2.925
1997 2.974
1998 3.438
1999 3.600
Sau gần 1 thập kỷ, sản lượng nuôi hầu Thái Bình Dương tăng lên gấp 3 lần, là mức
1.740
33.591
2.495
36.059
2.606
41.303
4.244
37.706
4.509
30.397
3.294
32.723
Cuba C. rhizophorae 2.100
2.700
2.012
Columbia Crassostrea sp. 49
56
52
56
53
19
Senegal Crassostrea sp. 123
92
149
136
124
124
Sierra Leone Crassostrea sp. 1.092
950
980
Thailand Crassostrea sp. 221
562
5.410
7.856
3.690
3.477
Tổng
40.326
43.959
53.313
54.763
45.708
45.991
Sản phẩm hầu tăng nhanh từ 420.000 tấn năm 1950 lên 4.300.000 tấn năm 2000.
Sự tăng lên này chủ yếu là do tăng sản lượng nuôi trồng với sự tăng trưởng từ 572.000 tấn
năm 1970 lên 4 triệu tấn năm 2000. 93,2% tổng sản lượng hầu là từ nuôi trồng. Năm
2000, hầu Pacific (Crassostrea gigas) là đối tượng nuôi chính với sản lượng trên 3,9 triệu
[18].
1.1.3. Đặc điểm sinh học của hầu
1.1.3.1. Đặc điểm phân bố
Hầu phân bố rộng trên toàn thế giới, nhưng đa số tập trung ở vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới. Vùng phân bố của các loài được trình bày theo bảng 1.4 [32].
11
Bảng 1.4: Vùng phân bố của các loài hầu trên thế giới
Loài Vùng phân bố Nuôi Khai thác tự
nhiên
Ostrea equestris Vịnh Mexico x
O. iridescens Vịnh California đến Peru x
O. palmula Vịnh California đến Ecudor x x
O. stentina Bồ Đào Nha và Angola
O. folium Úc đến Malaysia; Morroco đến Gabon x
O. megadon Vịnh California đến miền Nam Peru x
O. nomades Nam Thái Bình Dương; Bắc Úc
O. trapezina Bắc Úc
Crassostrea virginica Bờ biển từ Mexico đến Venezuela x
C. rhizophorae Quần đảo Antiles, Tây Indies; Từ
Venezuela đến Brazil
x x
C. paraibanensis Đông Bắc Brazil x
C. brasiliana Brazil x x
C. corteziensis Vịnh California đến Panama x x
C. fischeri Baja California đến Ecuador x
C. columbiensis Baja California đến Chile x
C. gasar Senegal đến Angola x
thành thức ăn chủ yếu là thực vật phù du và mùn bã hữu cơ. Các loài tảo thường gặp là
tảo silic như: Melosira, Coscinodiscus, Cyclotella, Skeletonema, Navicula…
Phương thức bắt mồi của hầu là thụ động theo hình thức lọc. Hầu bắt mồi trong
quá trình hô hấp nhờ vào cấu tạo đặc biệt của mang. Khi hô hấp nước có thức ăn đi qua bề
mặt mang, các hạt thức ăn sẽ dính vào các tiêm mao trên bờ mặt mang nhờ vào dịch nhờn
được tiết ra từ tiêm mao. Hạt thức ăn kích thước nhỏ sẽ bị dính vào các dịch nhờn và bị
tiêm mao cuốn thành viên sau đó chuyển dần về phía miệng, còn các hạt thức ăn quá lớn
tiêm mao không giữ được sẽ bị dòng nước cuốn đi khỏi bề mặt mang sau đó tập trung ở
mép màng áo và bị màng áo đẩy ra ngoài. Mặc dù hầu bắt mồi thụ động nhưng với cách
bắt mồi này chúng có thể chọn lọc theo kích thước của hạt thức ăn. Quá trình chọn lọc
được thực hiện 4 lần theo phương thức trên: lần thứ nhất xảy ra trên bề mặt mang; lần thứ
13
hai xảy ra trên mương vận chuyển; lần thứ ba xảy ra trên xúc biện; lần thứ tư xảy ra tại
manh nang chọn lọc thức ăn. Thức ăn sau khi được chọn lọc bởi manh nang chọn lọc
được đưa trở lại dạ dày để tiêu hóa. Tại dạ dày thức ăn bị tiêu hóa một phần bởi các men
Amylase, Bylyrase, Glycogenase và Rennet do mang tinh cá tiết ra. Sau đó thức ăn được
chuyển đến manh tiêu hóa, tại đây thức ăn tiếp tục được tiêu hóa bởi cá men Amylase,
Lactase, Glycogenase, Lipase, Maltase, Protase. Hạt thức ăn không thích hợp được đẩy
thẳng xuống ruột và ra ngoài qua hậu môn [31].
1.1.3.4. Đặc điểm sinh trưởng
Nhiệt độ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của hầu. Ở
vùng nhiệt đới có nhiệt độ ấm áp nên tốc độ sinh trưởng của hầu rất nhanh và quá trình
sinh trưởng diễn ra quanh năm. Ở vùng ôn đới hầu có sinh trưởng thì chỉ diễn ra trong
mùa xuân - hè và mùa thu – đông hoặc gần như không sinh trưởng. Sự sinh trưởng của
hầu khác nhau tùy theo loài và vùng phân bố do điều kiện môi trường nước của từng vùng
khác nhau và do đặc tính riêng của từng loài. Một đặc điểm nổi bật của hầu vùng nhiệt đới
là sinh trưởng rất nhanh trong 6 – 12 tháng đầu tiên sau đó chậm dần [46].
1.1.3.5. Đặc điểm sinh sản
- Giới tính: có hiện tượng thay đổi giới tính ở hầu. Trên cùng cơ thể có lúc mang
- Nguồn nước có đầy đủ thức ăn.
- Địch hại.
- Ít sóng gió, ít tàu bè qua lại, giao thông thuận lợi.
1.1.4.2. Nguồn giống
- Giống tự nhiên:
Trước khi lấy giống cần thực hiện bước dự báo nguồn giống. Có thể dự báo giống
dựa vào tỷ lệ thành thục của bố mẹ thành phần và số lượng ấu trùng phù du trên bãi.
15
+ Xác định tỷ lệ thành thục: định kỳ theo dõi tỷ lệ thành thục của bố mẹ bằng cách
quan sát tế bào sinh dục của hầu bố mẹ. Khi thành thục sinh dục, trứng có hình bầu dục
hay hình quả lê, các hạt trứng tách rời, tinh trùng bắt đầu cử động khi cho vào nước. Xác
định tỷ lệ thành thục chúng ta có thể dự đoán được mùa vụ sinh sản của bố mẹ. Cách này
không xác định chính xác thời gian lấy giống nên phải kết hợp với phương pháp theo dõi
thành phần số lượng của ấu trùng phù du.
+ Theo dõi thành phần và số lượng của ấu trùng phù du: trong mùa sinh sản của
hầu, chúng ta phải thường xuyên theo dõi thành phần (tỷ lệ các giai đoạn phát triển) của
ấu trùng phù du trên bãi. Khi biết được thành phần của ấu trùng ta sẽ biết được chính xác
thời gian lấy giống. Đồng thời với việc xác định thành phần chúng ta cần định lượng ấu
trùng có trong môi trường để có thể xác định thời gian cần thiết để lấy giống.
- Giống nhân tạo:
Sản xuất giống có thể xem là một giải pháp hoàn hảo để cung cấp giống một cách
chủ động, nhưng đòi hỏi phải đầu tư rất lớn về phương tiện, nhân lực. Ở Bắc Mỹ và Châu
Âu chỉ có vài trại kinh doanh sản xuất giống là có thể tồn tại (sản xuất có hiệu quả) trong
số rất nhiều trại. Tất cả các trại giống đang hoạt động đều sản xuất giống các loài ôn đới.
Điều khiển quá trình sinh sản của các loài vùng nhiệt đới không dễ giàng như các loài
vùng ôn đới. Điều kiện cần thiết cho sinh sản là nhiệt độ, ở những thủy vực ôn đới mùa vụ
sinh sản phụ thuộc sự gia tăng nhiệt độ vào mùa xuân, cực điểm của sự chín của tuyến
sinh dục khi nhiệt độ nước đạt mức ngưỡng sinh sản. Nhiệt độ thích hợp cũng cần cho sự
phát triển của ấu trùng. Riêng nhiệt độ ở vùng Đông Nam Á thì thường không phải là yếu
chúng ta duy trì ở mức thích hợp và pH là 7,5. Khi ấu trùng phù du chữ D xuất hiện cần
cung cấp tảo để làm thức ăn cho ấu trùng và thay nước hàng ngày. Đến giai đoạn ấu trùng
bám cần phải cung cấp giá thể cho ấu trùng. Giá thể có thể là vỏ động vật thân mềm, lưới,
khay…kích thước khoảng 2 – 4 mm. Sau khi ấu trùng đã bám thì chuyển sang bể ương
lớn hơn [11].
1.1.4.3. Lấy giống và nuôi lớn
Hầu là loài sống bám nên giá thể thì rất cần thiết trong suốt quá trình sống của
chúng. Trong tự nhiên ấu trùng bám vào các loại giá thể khác nhau như vỏ động vật thân
mềm, đá, cọc… Tuy nhiên, khi không có giá thể cứng chúng cũng có thể bám vào rong
biển. Giá thể thích hợp là những giá thể có chứa calci như vỏ động vật thân mềm hoặc đá
vôi.
Vật liệu làm giá thể cho các loài sống bám như hầu thường là vỏ của động vật thân
mềm, ngoài ra có thể dùng dây thừng, tre, ống nhựa, gỗ hoặc sọ dừa và các loại vật liệu
khác. Sự lựa chọn giá thể tùy theo hình thức và quy mô nuôi. Giá thể dùng để nuôi treo
17
(bè, giàn) thì thường lớn và bền hơn giá thể dùng nuôi đáy. Giá thể thích hợp thì phải đạt
được một số tiêu chuẩn sau:
+ Giá rẻ và có thể cung cấp với số lượng lớn.
+ Rắn, hơi nhám, bề mặt sạch (màu sắc không quan trọng)
+ Khối lượng riêng vừa phải đảm bảo không quá nặng khi treo nhưng cũng phải đủ
nặng để không bị nổi.
+ Dễ dàng vận chuyển.
+ Diện tích bề mặt lớn nhất trên cùng một đơn vị thể tích.
+ Dòng nước phải chảy qua toàn bộ bề mặt của giá thể và đường kính của cọc phải
đủ lớn cho sinh trưởng của ấu trùng đến khi đạt cỡ thu hoạch.
+ Thích hợp cho cả nuôi treo hoặc nuôi đáy.
+ Ít tích tụ bùn trên mặt giá thể.
Lấy giống là một giai đoạn quan trọng nhưng nó chỉ là một giai đoạn ngắn trong
quá trình nuôi. Vì vậy tùy điều kiện cụ thể mà chọn giá thể sao cho thu được nhiều ấu
(Mytilus, Perna), động vật có đuôi sống (Halocynthia), rong (Ulva, Enteromorpha,
Laminaria) và vi khuẩn. Có thể khống chế các sinh vật bám bằng các biện pháp vật lý,
hóa học và sinh học. Phương pháp vật lý hiệu quả nhất là phơi các sinh vật dưới ánh nắng
mặt trời. Biện pháp hóa học là sử dụng một số hóa chất như Sulphat đồng 1 - 2% trong 1
giờ, tuy nhiên phương pháp này tốn nhiều công sức và đắt tiền. Khi áp dụng biện pháp
sinh học chúng ta cần hiểu rõ chu kỳ sống, đặc điểm sinh thái, đặc biệt là mùa sinh sản
của các sinh vật bám. Khi biết được các đặc điểm trên chúng ta có thể chủ động lấy giống
trành những thời điễm xuất hiện nhiều sinh vật bám.
- Ký sinh trùng: bao gồm các nguyên sinh động vật (Mastigophora, Sarcodina), bào tử
trùng (Telasporea, Nematopsis), nhóm bào tử đơn bội (Minchinia nelsoni, Minchinia
costalis), nhóm tiểu bào tử (Chytridiopsis mytilovum), trùng tơ (Ancistrum), vi khuẩn
Vibrio,Virus, nấm (Perkinsus), bọt biển (Cliona), giun dẹp (Stylochus, Pseudostylochus),
sán lá (Busephalus, Gymnophallus), sán dây (Echeneibothrium, Tylocephalum), giun
tròn (Echinocephalus), giun đốt (Polydora), động vật thân mềm (Odostomia), giáp xác
(Mytilicola, Myicola, Ostrincola).