B GIO DC V O TO
I HC HU
TRNG I HC S PHM
PHAM THậ THAO
AẽNH GIAẽ THặC TRANG VAè TRệNG
THặ NGHIM MĩT S
GING DặA L (Cucumis melo L.) TAI XAẻ
VINH XUN,
HUYN PHUẽ VANG, TẩNH THặèA THIN
HU
Chuyờn ngnh: Thc vt hc
Mó s: 60 42 20
LUN VN THAC Sẫ SINH HOĩC
NGI HNG DN KHOA HC:
PGS.TS. TRN VN MINH
Huóỳ, Nm 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực,
được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố
trong bất kì một công trình nào khác.
Huế, tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thảo
ii
Để hoàn thành luận văn này tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến Thầy giáo, người hướng dẫn khoa học PGS. TS. Trần
Văn Minh đã tận tình hướng dẫn, góp ý cho tôi trong suốt thời
gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Sinh –
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1.1. Nguồn gốc của cây dưa lê 8
1.1.2. Phân loại 8
1.1.3. Đặc điểm sinh học cây dưa lê 9
1.1.4. Giá trị của dưa lê 10
1.1.5. Kỹ thuật chăm sóc cây dưa lê 15
1.1.6. Tình hình sâu bệnh ở cây dưa lê 17
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 18
1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dưa trên thế giới và trong nước 18
1.2.1.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dưa lê trên thế giới 18
1.2.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dưa lê ở Việt nam 20
1.3. MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CÂY DƯA LÊ 21
1.3.1. Nghiên cứu dưa lê ở trên thế giới 21
1.3.2. Nghiên cứu về cây dưa lê ở Việt Nam 23
CHƯƠNG 2 25
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 25
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25
2.2.1 Điều tra tình hình sản xuất dưa lê 25
2.2.2. Trồng thử nghiệm giống dưa lê 25
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
1
2.3.1. Phương pháp phỏng vấn và phiếu điều tra 25
2.3.2. Thực nghiệm về giống dưa lê 25
2.3.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 25
2.3.2.2. Quy trình kỹ thuật trồng 26
2.3.2.3. Phương pháp theo dõi 27
2.3.2.4. Phương pháp xử lý số liệu 28
CHƯƠNG 3 30
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.2.6. Đánh giá hiệu hiệu quả kinh tế của trồng các giống dưa lê 52
PHẦN 3 53
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
3.1. KẾT LUẬN 53
3.2. ĐỀ NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AVRDC : Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á
CS : Cộng sự
ĐC(đ/c) : Đối chứng
ĐH : Đại học
NN : Nông nghiệp
NXB : Nhà xuất bản
SHƯD : Sinh học ứng dụng
TB : Trung bình
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất dưa chuột của một số nước trên thế giới 19
qua các năm 2008, 2009 19
Bảng 1.2. Tình hình xuất nhập khẩu dưa chuột một số nước trên thế giới 2005 20
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất và sản lượng một số loại rau chủ lực năm 2004 21
Bảng 3.1. Diễn biến khí hậu thời tiết vụ Đông Xuân 2013 tại Thừa Thiên Huế 31
Bảng 3.2. Tình hình sản xuất dưa lê qua các năm ở xã Vinh Xuân 33
Bảng 3.3. Diện tích trồng dưa lê của 30 hộ dân ở vùng điều tra 33
Bảng 3.4. Các giống dưa được trồng ở Vinh Xuân (30 hộ điều tra) 34
Bảng 3.5. Tình hình sử dụng phân bón đối với trồng dưa lê 35
Bảng 3.6. Thành phần và mức độ gây hại của sâu, bệnh hại dưa lê ở xã Vinh Xuân
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Dưa lê (Cucumis melo L.) thuộc họ bầu bí là rau ăn quả có thời gian sinh
trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao. Dưa lê có
nguồn gốc từ Châu Phi, sau đó được trồng ở Ai Cập, Trung Quốc, Ấn Độ và ngày
nay dưa lê trồng được ở nhiều nơi trên thế giới (Milne and milne, 1975)[9]. Quả
dưa lê được sử dụng chủ yếu để ăn tươi, ép nước quả. Giá trị dinh dưỡng của dưa lê
phụ thuộc nhiều vào giống. Dưa lê chứa nhiều vitamin C và Potassium. Những
giống có vỏ màu vàng như Cantaloupe chứa nhiều beta carotene, tiền tố của vitamin
A. Mặc dù nhu cầu sử dụng khá lớn song diện tích trồng dưa tăng chậm. Một trong
những nguyên nhân chủ yếu là thiếu giống tốt cho các vùng trồng. Các giống dưa
trồng ở nước ta hiện nay chủ yếu là các giống địa phương như dưa lê trắng Hà Nội,
dưa lê mật Bắc Ninh, dưa lê vàng Hải Dương. Các giống này cho năng suất không
cao, thịt quả mỏng, quả chóng bị hỏng và kích thước mẫu mã không đẹp. Một số
giống nhập nội có ưu thế lai nên cho năng suất cao song giá giống khá đắt. Việc
đánh giá thực trạng trồng dưa lê và khảo sát những giống dưa lê có khả năng sinh
trưởng, phát triển, cho năng suất tối ưu là việc làm hết sức cần thiết. Qua đó người
dân sẽ thấy được những giống dưa lê nào có khả năng cho năng suất cao để đưa vào
sản xuất nhằm tăng hiệu quả kinh tế. Mặt khác qua đánh giá thực trạng chúng ta sẽ
thấy được tình hình trồng dưa lê ở Thừa Thiên Huế, tình hình phát sinh sâu bệnh từ
đó có những phương pháp phòng trừ hiệu quả.
Dưa lê có nguồn dinh dưỡng khá lớn, cung cấp các khoáng chất cho cơ thể
tuy nhiên việc nghiên cứu về dưa lê chưa nhiều, hiện tại thì những nghiên cứu về
đánh giá thực trạng và khảo sát giống dưa lê cho năng suất cao ở Thừa Thiên Huế
chưa được thực hiện.
Với nhu cầu thực tiễn trên tôi chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng và trồng thử
nghiệm một số giống dưa lê (Cucumis melo L.) tại xã Vinh Xuân, huyện Phú Vang,
tỉnh Thừa Thiên Huế”.
6
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đánh giá được thực trạng trồng dưa lê ở xã Vinh Xuân, huyện Phú Vang,
không có trong thời kỳ La Mã, và được nhập khẩu từ Ba Tư hoặc Caucasus nhờ du
khách, làm cho dưa lê xuất hiện ở châu Âu chỉ khoảng thế kỷ thứ 13. [9]
1.1.2. Phân loại
Dưa lê là cây trồng làm vườn quan trọng trên thế giới. Trong chi Cucumis,
nó thuộc về phân chi melo, có bộ nhiễm sắc thể 2n = 24. Hình thái thể hiện trong
các đặc điểm của quả như kích thước, màu sắc, hình dạng, kết cấu, hương vị và
thành phần. Vì vậy C. Melo được coi là loài đa dạng nhất của chi Cucumis
(Kirkbride năm 1993; Whitaker & Davis 1962; Jeffrey 1980; Bates & Robinson,
1995). Bao gồm các loài hoang dã, các loài thuần hóa, được sử dụng để tráng
miệng, ăn sống hoặc nấu chín. [9]
Sự khác nhau về hình thái cây, lá, dạng quả đã làm cho các nhà thực vật học
đề xuất phân loại Cucumis melo. Dựa vào hình thái cơ quan sinh sản cái Kirkbride
(1993) phân loại dưa lê thành hai phân loài, ssp. melo và ssp. agrestis, cơ quan sinh
sản cái: ssp. Melo có bầu quả có lông hoặc lanate, trong khi ssp. agrestis có bầu quả
có lông rất mịn (Lông appressed, thường rất ngắn) đây cũng là đề xuất của
Grebenscikov (1953), Jeffrey (1980) và Zohary (1983). [9]
Năm 1753 Linne tiến hành đặt ra tên chi là Cucumis, và mô tả loài dưa trồng.
Nhưng sau đó đã được thống nhất vào một loài duy nhất, Cucumis melo. Naudin
(1859), tiến hành phân loại dưa lê dựa trên một bộ sưu tập gồm 2000 mẫu vật.
Naudin chia dưa lê thành 10 loại. Pangalo (1929) nghiên cứu 3000 mẫu vật tại Viện
Vavilov, và có nhiều đề xuất tinh vi hơn, phân loại đa cấp dựa trên ý tưởng của dãy
8
tương đồng: mỗi giống dưa lê được chia thành hai loài phụ tương đồng, loài được
thuần hóa và hoang dã (agrestis), mỗi loài được chia thành nhiều loại. [9]
Hammer & al. (1986) thừa hưởng một hệ thống phân loại mức độ tương tự từ
Grebenscikov (1953) và cố gắng đơn giản hóa nó: dưa lê được nhóm theo phân loài
hoang dã và thuần hóa. Munger & Robinson (1991) đề xuất thêm một phiên bản
đơn giản hóa phân loại Naudin, chia C.melo vào một loạt các loài hoang dã, C.melo
var. agrestis, và sáu loài được thuần hoá: cantalupensis, inodorus, conomon,
dudaim, flexuosus và Momordica. [9]
1.1.4. Giá trị của dưa lê
Dưa lê là một trong những loại quả vừa cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể, vừa
có tác dụng giải khát, thanh nhiệt và trị được nhiều bệnh. Có thể nói không chỉ là
loại quả giải khát trong mùa nóng, mà tất cả các bộ phận của cây dưa lê như dây, lá,
cuống, hạt… đều có thể dùng làm thuốc. Đặc biệt là bộ phận cuống dưa, thường
dùng để gây nôn, giải độc thức ăn.
Thành phần hóa học
Lá chứa cao flavon glucosid như melonid A (6c. Diglucosyl apigenin),
melonid L (6c digluconyl luteolin và các dẫn chất caffeoyl của chúng
(Phytochemistry 1976, 15, 1053).
Các carotenoid: alpha caroten, beta caroten, caroten.
Dưa lê còn chứa tinh dầu thành phần gồm: n hexanol, 1 octenzol eis 3 nonen
- 1 ol, n butylacelat, isobutyl acetat, 2 methyl butuyl acetat, n hexyl acetat, ethyl n
butyrat, ethyl - 2 - methyl butyrat, benzylacetat, beta phenethyl acetat, y phenyl
propyl acetat, trans 2 - nonenal, n nonanol cis - 3 - nonen - I ol, cis 6 nonen 1 ol, các
methyl este của acid linoleic và linoleic. [24]
Dầu hạt bao gồm các lipid trung tính (91,5%), glucolipid (6.4%),
phospholipid (2,1%). Các lipid trung tính gồm phần lớn là triacetyl glycerol
(90,7%), digalactosyl diacyl - glycerol (CA. 1992, 117, 6569 g).
Các phenolic glycosid cũng được tách từ hạt là (E) 4 hydroxycinnamyl
alcohol, 4-0 - (2’ - o - beta - d apio furanosyl) (1’’ -> 2’) - beta - d.glucopyranosid
cùng với benzyl - o - beta - d. glucopyranosid, 3.29 - o - dibenzoyl multiflor - 8 en -
3a, 7 beta, 29 triol và 3 - o - p - amino benzoyl - 29 - o - benzoyl multifor - 8 en -
3a, 7 beta, 29 triol. [24]
Theo Võ Văn Chi trong quả dưa có các thành phần sau: Nước 95%, protid
0,6%, lipid 0,11%, glucid 3,72%, cellulose 0,33%, tro 0,1%. đường 1,05 - 6% và
các vitamin A (25 - 30000 đơn vị), vitamin B 0,03 mg, vitamin C 1,5 - 2 mg, các
10
chất khoáng p 30 mg, Ca 20mg, Fe 0,4 mg. Hạt chứa globulin, Glutein, đường
galactose và nhiều chất béo. [24]
Tác dụng lợi tiểu
Cao của hạt dưa lê chiết bằng ether có tác dụng lợi tiểu (Singh et al., 1970).
Cũng đã xác định được trong hạt có một số chất có tác dụng ức chế enzym urease
(Malhotra et al., 1978). [24]
Tác dụng trên ARN ribosom và trên protein
Melonin là một protein có trong hạt dưa lê có tác dụng ức chế mạnh ribosom
thuộc các nguồn khác nhau, kể cả ribosom ở tế bào có nhân rải rác (prokarotic), cả
ribosom ở tế bào có nhân điển hình (eukaryotic). Có thể coi melonin như một
enzym thủy phân ARN gây thoái biến ARN một cách phụ thuộc liều, nhưng lại
không ảnh hưởng đến ADN (Rojo et al., 1995). Trong dưa lê còn có chất cucumisin
là một serin - protease kiềm (alkalin serine protease), bền với nhiệt độ và có thể
thủy phân protein thành peptid và aminoacid (Kee, 1999: 245). Enzym thủy phân
protein này (proteinase) có khối lượng phân tử khoảng 50000 (ĐVC). Hoạt tính
thủy phân protein tối đa ở pH kiềm. Nhiệt độ thủy phân casein tối ưu là ở 70
o
C và
pH 7,1. Enzym này bị ức chế mạnh bởi disopropyl fluorophosphat, bị ức chế một
phần do HgCl
2
. acid p - cloronercuribenzoic, N - tosyl - L - lysin cloromethyl ceton
và cả chất ức chế trypsin có trong hạt đậu tương (Kaneda et al 1975). [24]
Tác dụng gây nôn
Uống bột khô của cuống quả dưa lê sẽ bị nôn là do kích ứng niêm mạc dạ
dày. Nếu tiêm dịch cao chiết từ bột khô hoặc dịch ép tươi của cuống quả dưa lê lại
không bị nôn (Kee, 1999: 245). [24]
Tác dụng chống oxy hóa và chống viêm
Trong thí nghiệm in vitro, môi trường có đại thực bào phân lập từ màng bụng
chuột nhắt trắng, được hoạt hóa từ trước bằng 300 IU interferon gamma (1FN – y),
rồi kích thích bạch cầu sản sinh ra các gốc tự do oxy hóa cytokin với các nồng độ
khác nhau của dịch chiết dưa lê. Kết quả cho thấy dịch chiết ức chế sản sinh ra
collagen, thrombin, natri arachidonat, endoperoxyd của prostaglandin. Bằng
phương pháp sắc ký lớp mỏng, phổ từ ngoại, phổ khối và vì tác dụng ức chế sự kết
tiểu cầu mất đi, nếu thêm vào đó adenosin - deaminase; do đó, có thể kết luận chất
có tác dụng ức chế sự kết tụ tiểu cầu là adenosin (Altman et al., 1985). [24]
Tác dụng tăng hấp thu sắt trong bữa cơm
Uống dịch quả và ăn dưa lê sẽ làm tăng sự hấp thu sắt trong bữa ăn cơm.
Dùng phương pháp Fe phóng xạ ở hồng cầu, nghiên cứu trên 234 phụ nữ Ấn độ đã
sinh đẻ, thấy các loại quả làm tăng hấp thu sắt từ mức vừa đến khá là dâu tây, mận,
chuối, xoài, lê, dưa lê, dứa. Quả ổi và đu đủ làm tăng hấp thụ sắt rất mạnh. Tuy
13
nhiên, cũng có nhiều loại quả không có ảnh hưởng đến hấp thu sắt như nho, táo, bơ
(Ballo et al., 1987). [24]
Tác dụng làm giảm stress oxy hóa thận do đái tháo đường
Cơ chế quan trọng của đái tháo đường gây ra bệnh thân là do Stress oxy thận.
Oxykin là cao chiết từ quả dưa lê rất giàu superoxyd dismutase thực vật có tác dụng
làm giảm stress oxy hóa thận do đái tháo đường. Thí nghiệm được tiến hành trên ba
lô chuột nhắt trắng: lô chuột bình thường không bị đái tháo đường db/m; lô chuột
đái tháo đường di truyền db/db và lô chuột đái tháo đường db/db có dùng oxykin.
Sau 12 tuần, nồng độ glucose huyết và thể trọng không khác nhau giữa lô chuột đái
tháo đường dùng thuốc và đái tháo đường không dùng thuốc. Tuy nhiên, diện tích
màng nâng cuộn mao mạch tính theo tỷ số cuộn mao mạch/cuộn tiểu cầu được cải
thiện rõ ở lô dùng oxykin so với lô không dùng oxykin. Việc tăng albumin niệu và 8
- OhdG (8 - hydroxy deoxyguanosin) niệu vào tuần điều trị thứ 12 bị ức chế có ý
nghĩa ở lô dùng oxykin. Như vậy, oxykin cải thiện được tiến triễn và tốc độ của
bệnh thận do đái tháo đường đối với mô hình chuột nhắt trắng bị đái tháo đường tip
2, làm giảm Stress oxy hóa do đái tháo đường và giảm tổn thương tế bào cuộn mao
mạch thận (Naito et al., 2005). [24]
Độc tính cấp
LD50 của cucurbitacin B ở chuột nhắt trắng dùng đường uống là 14,0 3,0
mg/kg, còn đường tiêm dưới đa là 1,00 0,07 mg/kg. Như vậy, cucurbitacin là một
pha. Đất xấu, đất cát cần tăng thêm phân bón lót và tăng thêm lần bón thúc. Đất sét,
đất thịt nên xới xáo nhiều hơn và bón tăng phân hữu cơ. Đất cần luôn luôn ẩm, song
lại phải thật thoát nước. Sau mỗi trận mưa rào, nước cần được tháo bỏ thật nhanh.
Về ánh sáng, dưa lê cũng như tất cả các giống dưa khác đều yêu cầu rất lớn, đất
không thông thoáng, bị che lấp ánh sáng không nên trồng dưa lê.[26]
Bón phân [26]
Lượng phân bón lót cho mỗi 1.000 m
2
đất (Khoảng 3 sào Bắc bộ) chừng 3-5 tấn
phân chồng hoai cộng 1,5 tạ vôi bột cùng 8kg đạm, 25kg lân và 8kg kali nguyên chất.
- Bón thúc lần thứ nhất khi cây có 2 - 3 lá thật, kết hợp với xới đất sâu làm cỏ
và vun gốc, vun nhẹ với khoảng 2kg đạm và 2kg kali nguyên chất.
- Bón thúc lần hai sau lần thứ nhất 40 - 45 ngày, khoảng 2kg đạm và 2kg kali
nguyên chất. Kết hợp vun xới làm cỏ và bấm ngọn cho cây phát triển nhánh.
15
- Bón thúc lần thứ ba, khi cây bắt đầu nở hoa. Khoảng sau khi trồng 60-70
ngày. Cũng kết hợp vun xới và làm giàn.
Sau khi trồng 90 – 100 ngày sẽ được thu hoạch quả chín. Đặc điểm của dưa
lê là cây cho cả hoa đực và hoa cái như tất cả các cây trong họ bầu bí. Nhưng ở hoa
cái của dưa lê vẫn tồn tại cả nhị đực. Do đó cây rất dễ thụ phấn và đậu quả. Một đặc
điểm quan trọng nữa là, cây dưa lê cho hoa ở ngay nách lá của cành nhánh. Nên
muốn dưa lê sai quả cần lưu ý tới khâu bấm ngọn cho cây phân nhánh. Có nhiều
cách bấm ngọn cho cây phân nhánh.
Làm giàn [26]
Nếu làm giàn, thì nên làm giàn theo kiểu hình chữ nhân và luống được đánh
theo hướng đông tây cho cả ngày cây dưa lê đều được hưởng ánh nắng. Luống đánh
cao 30 – 35cm, rộng 1.2 – 1.5m, bổ rãnh hai hàng, cách nhau 60 – 70cm, bón phân
vào rãnh, trộn đều với đất rồi san bằng và trồng mỗi cây một hốc, cách nhau 30 –
35cm. Khi cây bắt đầu leo thì làm giàn. Mỗi cây dưa được cắm hai cọc giàn. Khi
cây có 6 – 7 lá thật thì bấm ngọn, để cây sinh các nhánh con, để lại 2 nhánh to khỏe
2) Sâu ăn lá dưa (Diaphania indica): thường có mật độ cao khi cây sinh
trưởng tốt sau trồng 25 - 30 ngày, chúng hại búp, lá non. Gây hại chính ở vụ xuân
hè và thu đông sớm.[25]
3) Rệp (Aphis craccivora): chúng thường xuất hiện trong điều kiện thời tiết
khô hanh, hạn hán. Mật độ thường tăng rất nhanh do chúng đẻ ra con, trong năm
thường gây hại nặng vào các tháng 3 - 5 và 9 - 11 trong năm.[25]
4) Bọ trĩ (Thrip spp.) Bọ trĩ chích hút dịch ở lá, ngọn, thân non làm lá bị
xoăn, cứng và giòn. Trong năm chúng thường có mật độ cao vào các tháng 3 - 5 (vụ
xuân hè) và tháng 9 - 11 (vụ thu đông)[25]
Phòng trừ sâu hại: áp dụng các biện pháp canh tác, thủ công, sinh học. Theo
dõi phát hiện sớm, khi cần phun các loại thuốc: Elincol 12 ME, Vertimex 1.8EC;
Sherpa 25EC, Trebon 30EC (trừ sâu ăn lá), Confidor 100SL, Oshin 20WP, Elsin
10EC (trừ các loại chích hút), …
5) Bệnh héo xanh vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum Smith): gây hại ở
tất cả các thời kỳ của cây nhưng nghiêm trọng nhất là thời kỳ hoa - quả và bệnh
phát triển thuận lợi ở nhiệt độ 25 - 30
0
C. Bó mạch thâm nâu, cây không hút được
nước, héo và chết.[25]
17
6) Bệnh giả sương mai (Pseudoperonospora cubensis): bệnh phát sinh nặng
trong điều kiện nhiệt độ dưới 20
0
C ẩm độ không khí cao. Gây hại cả thân, lá và
thường gây hại nặng trên dưa chuột vụ thu đông và xuân hè sớm.[22]
7). Bệnh phấn trắng (Erysiphe sp): bệnh phấn trắng gây hại cả 2 mặt lá,
nhưng thường phát sinh gây hại mạnh ở mặt trên. Nấm bệnh tồn tại trong hạt giống
tàn dư cây bệnh và lan truyền theo gió.[22]
8). Bệnh khảm lá (Cucumber mosais virus): do virut gây hại, nếu bị bệnh từ
khi cây còn nhỏ, cây còi cọc lá xoăn nhỏ và thường không ra quả. Bệnh do côn
Quốc gia Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
2008 2009 2008 2009 2008 2009
Trung Quốc 1.008,5 1.037,4 41,9 42,7 42.256,15 44.296,9
Iran 66,9 82,9 21,8 19,3 1.458,42 1.599,9
Liên Bang Nga 66,2 66,2 17,0 17,1 1.125,4 1.132,0
Mỹ 58,1 58,4 15,8 15,2 917,9 887,7
Thổ Nhĩ kỳ 57,5 60,0 29,2 28,9 1.679 1.734,0
Indonesia 52,9 53,0 10,2 10,9 539,6 577,7
Ukraina 49,6 51,5 15,2 17,1 753,9 880,6
Iraq 44,9 43,9 8,5 9,6 381,7 421,4
Ấn Độ 22,5 22,9 6,1 6,2 137,3 141,9
Thái Lan 21,4 21,1 8,1 8,2 173,3 173,0
Ba Lan 19,9 20,1 25,1 23,9 499,5 480,4
Rumani 12,9 13,1 13,4 13,4 172,9 175,5
Mexico 17,1 14,6 27,7 29,6 473,7 432,2
Ả rập Syria 10,3 10,4 13,6 12,7 140,1 132,1
Uzbekistan 10,0 15,0 31,8 23,3 318,0 349,5
Nhật Bản 12,5 12,4 50,2 50,0 627,5 620,0
Thế giới 1.913,1 1.958,0 30,4 30,9 58.158,24 60.502,2
(Nguồn: FAO.org, 2011)[27]
19
Bảng 1.2. Tình hình xuất nhập khẩu dưa chuột một số nước trên thế giới 2005
Nhập khẩu Xuất khẩu
Quốc gia Khối lượng
(nghìn tấn)
Sản lượng
(tấn)
Cà chua 20.648 17,34 357.210
Dưa chuột 19.874 16,88 33.537
Dưa hấu 18.140 17,82 322.890
Đậu rau 7.681 6,87 52.760
Cải các loại 26.184 22,64 592.805
Hành tỏi 14.678 15,84 232.500
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2009)[23]
Từ bảng 1.3 chúng ta cũng thấy rằng các loại rau được trồng với diện tích
lớn nhất cung cấp một lượng lớn nhu cầu rau cho người dân với diện tích trồng đạt
26.184 ha, năng suất trên một ha đạt được 22,64 tấn, sản lượng đạt 592.500 tấn.
Trong khi đó thì các loại đậu rau được trồng với diện tích thấp nhất năng suất trên
một ha đạt 6,87 tấn, sản lượng đạt 52.760 tấn.
1.3. MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CÂY DƯA LÊ
1.3.1. Nghiên cứu dưa lê ở trên thế giới
Nghiên cứu lập bản đồ gen ở đối tượng dưa chuột bằng cách đánh dấu ADN.
Nghiên cứu các gen kháng bệnh nhằm ứng dụng trong sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế
cao. Nghiên cứu lập bản đồ gen được thực hiện qua nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả
khác nhau như: Y.H. Wang cùng C. E. Thomas và R. A. Dean (1997), Y.Hong Wang
(1998), Ana Isabel López-Sesé and J. E. Staub (2001). [10, 12, 14, 19, 20]
Raphael Z. Gilbert, Molly M. Kyle, and Henry M. Munger (1994) nghiên
cứu sự ảnh hưởng các dòng kháng virut để đưa vào sản xuất nhằm nâng cao năng
suất của cây, hạn chế thiệt hại do nhiễm viruts. [16]
M.C. J. L. Reyes Carrilloa and Ph.D. P.Cano Ríos (2004) nghiên cứu mối
quan hệ giữa ong và dưa trong hoạt động tìm kiếm thức ăn và thụ phấn của cây cho
thấy vườn dưa được ong thụ phấn thì cho năng suất, phẩm chất quả tốt hơn ở vườn
không được thụ phấn nhờ ong, số lượng ong càng nhiều hiệu quả thụ phấn càng
tăng. [15]
Fikret Yasar, Sebnem Kusvuran and Sebnem Ellialtioglu (2006) nghiên cứu
Khan and Abdus Salam đã công bố nghiên cứu điều tra chất lượng quả trong các
giai đoạn phát triển của quả nhằm xác định thời gian thu hoạch quả cho năng suất
và phẩm chất tốt và sự biến đổi chất lượng quả trong thời gian bảo quản. Nghiên
cứu tiến hành ở các giai đoạn phát triển. Dưa lê được thu hoạch sẽ được bảo quản ở
22