1
DANH MỤC CÁC BẢNG
1
1
2
DANH MỤC CÁC HÌNH
2
Bảng 2.1. Tình hình sử dụng đất tại xã Tân Sơn 21
Bảng 2.2. Tình hình dân số và lao động của xã Tân Sơn 23
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp 26
Bảng 2.4. Tình hình cơ sở hạ tầng 27
Bảng 3.1. Mẫu bảng SWOT 33
Bảng 4.1. Hệ thống giao thông của xã Tân Sơn 34
Bảng 4.2. Chi tiết hiện trạng hệ thống điện trên địa bàn xã 36
Bảng 4.3. Tình hình nghèo đói của các xóm trong xã năm 2011 41
Bảng 4.4. So sánh tình hình thực hiện các tiêu chí xây dựng NTM tại xã Tân
Sơn với Bộ tiêu chí 48
Bảng 4.5. Bảng SWOT trong xây dựng NTM tại xã 60
2
3
MỤC LỤC
3
3
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCĐ Ban chỉ đạo
CN – TTCN Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp.
CNH- HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
LĐ Lao động
LĐNN Lao động nông nghiệp
MTQG Mục tiêu quốc gia
thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân
tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật
chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ chương chính sách nhằm
phát triển nông thôn trong quá trình phát triển đặc biệt là trong giai đoạn hiện
nay. Ngày 5/8/2008 tại hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành trung ương Đảng
khóa X đã ra nghị quyết 26 – NQ/TW về Nông nghiệp, Nông dân, Nông
thôn[9]. Sau 20 năm đổi mới đất nước đây là lần đầu tiên Đảng ta có một nghị
5
5
6
quyết toàn diện nhất về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn trong điều kiện kinh
tế thị trường hội nhập[4]. Đồng thời, nhằm thực hiện các nhiệm vụ mà Nghị
quyết 26-NQ/TW ( 05/8/2008)[13] đề ra, Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày
16/4/2009[15] ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Tiếp sau đó ngày
21 tháng 8 năm 2009 của Bộ Nông Nghiệp và PTNT đã quyết định ra thông tư số
54/2009/TT-BNNPTNT về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về
NTM. Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 phê duyệt chương trình Mục tiêu
quốc gia (MTQG) về xây dựng nông thôn mới 2010 - 2020.
Cũng như các tỉnh thành khác trên cả nước, tỉnh Hà Nam cũng đã và
đang tiến hành rà soát sơ bộ tại các huyện trên địa bàn tỉnh, và cũng tiến hành
xây dựng nông thôn mới thí điểm tại một số xã trong các huyện. Kim Bảng là
một huyện nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh, và là một trong số các huyện được
tỉnh quan tâm chú trọng phát triển tới đời sống của người dân trong vùng. Việc
xây dựng các mô hình thí điểm về nông thôn mới đã và đang được các ban
ngành trong huyện chú trọng thúc đẩy để nâng cao đời sống của người dân
trong huyện, cũng như giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc từ bao đời nay.
Việc xây dựng Nông thôn mới mang lại một diện mạo mới cho nông thôn
hiện nay nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần của người dân ở nông thôn.
Tuy nhiên để xây dựng được mô hình Nông thôn mới các địa phương còn gặp rất
tư 54/2009/TT-BNNPTNT đã đề ra.
- Từ những kết quả đạt được ở khóa luận, là cơ sở lựa chọn giải pháp phù hợp
trong việc xây dựng nông thôn mới ở cấp xã tại huyện Kim Bảng - tỉnh Hà Nam.
7
7
8
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1. Khái niệm về Nông thôn
Hiện nay thì vẫn chưa có một khái niệm chuẩn và chung nhất về nông
thôn trên thế giới. Vì vậy với mỗi một quốc gia một khu vực lãnh thổ hay với
mỗi vùng miền khác nhau hoặc các tiêu chí khác nhau thì có những quan điểm
khác nhau về nông thôn.
Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở
hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng
đô thị.
Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường,
phát triển hàng hoá để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản
xuất hàng hoá và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn.
Cũng có ý kiến nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong
vùng để xác định. Theo quan điểm này, vùng nông thôn thường có số dân và mật
độ dân thấp hơn vùng thành thị.
Vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là
nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp
Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học thì: “Nông thôn
là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm
việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ
dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn”.
và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác” (Nguyễn Duy Hoan
và cs, 2007) [6].
9
9
10
2.1.1.3. Nông thôn mới
Để nắm rõ và đi sâu triển khai xây dựng Nông thôn mới từ cấp TW đến
địa phương, phải nắm rõ được khái niệm của nông thôn mới là như thế nào và
nội dung ra sao? Vậy nông thôn mới là gì?
Nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị
trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái
quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: (i) làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng
hiện đại; (ii) sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; (iii)
đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao;
(iv) bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển; (v) xã hội nông thôn an
ninh tốt, quản lý dân chủ.[4]
Với mục tiêu “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội
nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi
trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo
của Đảng được tăng cường”[8]. Nông thôn mới phải đảm bảo các chức năng
chính sau:
Chức năng vốn có của nông thôn là sản xuất nông nghiệp có năng suất chất
lượng cao, phát huy được bản sắc dân tộc của địa phương (đặc sản) đồng thời
phát triển các ngành nghề truyền thống của địa phương, tăng thu nhập cho ngườu
dân nông thôn.
Chức năng giữ gìn văn hóa bản sắc dân tộc: Bản sắc văn hóa làng quê cũng đồng
nghĩa với bản sắc từng dân tộc, giữ gìn nó là giữ gìn văn hóa truyền thống đa
dạng của các dân tộc, của từng quốc gia.
491/QĐ- TTg, ngày 16/4/2009[2] gồm 5 nhóm tiêu chí:
+ Nhóm quy hoạch (gồm 1 tiêu chí: quy hoạch)
+ Nhóm hạ tầng kinh tế xã hội (gồm 8 tiêu chí: giao thông, thủy lợi, điện, trường học,cơ
sở vật chất, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư)
11
11
12
+ Nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất (gồm 4 tiêu chí: thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao
động, hình thức tổ chức sản xuất)
+ Nhóm văn hóa- xã hội- môi trường (gồm 4 tiêu chí: giáo dục, y tế, văn hóa, môi
trường)
+ Nhóm hệ thống chính trị (gồm 2 tiêu chí: hệ thống tổ chức chính trị vững mạnh, an
ninh trật tự xã hội)
Nội dung của từng tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia được thể hiện ở bảng
phụ biểu 03, và các tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật về xây dựng NTM của Bộ
NN&PTNT[3] được thể hiện ở phụ biểu 04.
2.2. Tình hình xây dựng NTM trên thế giới
Phát triển nông nghiệp để xây dựng một nông thôn mới trong giai đoạn
hiện nay, từ các góc cạnh khác nhau, đang là mối quan tâm chung của cả cộng
đồng thế giới. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này là
bài học cho Việt Nam trong công cuộc xây dựng NTM trên phạm vi cả nước.
• Tại Mỹ
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông
nghiệp. Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới. Lượng
mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông và nước ngầm cho
phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa.
Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao
động có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp Mỹ.
Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồng rất thuận lợi:
máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy
và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết
những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất
đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác. Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà
nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi
lớn phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết
đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây
13
13
14
trồng khác trong sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với
việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước.
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập
trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp
nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng
truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với
việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu.
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng
nông nghiệp, thủy hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp
chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công
nghiệp phát triển.
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho
thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước
trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát
triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước[18].
• Tại Trung Quốc:
Bên cạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đầu tư áp dụng cơ
giới hóa, phát triển thủy lợi và áp dụng khoa học công nghệ Trung Quốc còn đẩy
mạnh phát triển cơ sở hạ tầng, đây được xem là điều kiện quan trọng thúc đẩy
chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến
nông sản. Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông
thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác Năm 2005, Nhà
nước ban hành đạo luật quy định mọi hoạt động của các bộ, ngành, chính quyền
phải hướng về nông dân. Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn
Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có,
hiện đại bậc nhất châu Á. [17]
15
15
16
• Tại Nhật Bản:
Từ năm 1979, Tỉnh trưởng Oita-Tiến sĩ Morihiko Hiramatsu đã khởi
xướng và phát triển phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm" (One Village, one
Product-OVOP) với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một
cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản. Phong trào "mỗi làng
một sản phẩm" dựa trên 3 nguyên tắc chính là: địa phương hóa rồi hướng tới
toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực. Trong đó,
nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật,
quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh. Sau 20 năm áp
dụng OVOP, Nhật Bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá trị thương
mại cao như như nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam Kabosu,
giúp nâng cao thu nhập của nông dân địa phương.[18]
2.3. Tình hình xây dựng NTM tại Việt Nam
Ở Việt Nam, Chương trình xây dựng thí điểm MHNTM trong thời kỳ
CNHHĐH được triển khai thực hiện theo Kết luận số 32-KL/TW ngày 20/11/2008
của Bộ Chính trị và Thông báo kết luận số 238-TP/TW ngày 7/4/2009 của Ban Bí
thư về Đề án “Xây dựng thí điểm mô hình NTM”, nhằm tổ chức thực hiện Nghị
quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7, BCH Trung ương Đảng
(khóa X) về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”[8]. Chương trình đã thành công
bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng.
của các hộ dân cư ở Tân Thịnh; mô hình liên kết sản xuất giữa nông dân với
doanh nghiệp ở Thụy Hương, Tân Hội… (Phan Xuân Sơn và cs, 2008) [9].
2.4. Xây dựng NTM tại Hà Nam
Sau 03 năm thí điểm xây dựng mô hình NTM, diện mạo nông thôn các xã
điểm trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã thay đổi rõ rệt, hạ tầng kinh tế xã hội đã có
bước phát triển, nhất là hệ thống giao thông và các công trình phúc lợi công
cộng. Các tiêu chí để xây dựng NTM tăng bình quân mỗi xã khoảng 6 tiêu chí.
Đặc biệt việc huy động sự đóng góp của cộng đồng trong xây dựng NTM cũng
đạt hiệu quả khá cao. Từ năm 2009 đến 2011, tổng kinh phí của 5 xã sử dụng cho
xây dựng NTM là 273,125 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách tỉnh lồng ghép các
17
17
18
chương trình là trên 95 tỷ, ngân sách xã 95 tỷ và vốn nhân dân đóng góp là trên
67 tỷ đồng[1]. Đại bộ phận nhân dân đều phấn khởi tích cực hưởng ứng tham gia
thực hiện các nội dung chương trình xây dựng NTM. Đặc biệt trong năm 2011,
thực hiện Nghị quyết 03 của Tỉnh ủy về xây dựng NTM, đến nay 100% các xã
đã được phê duyệt đồ án quy hoạch và đề án xây dựng NTM. Các giải pháp được
lựa chọn đã đạt kết quả cao như việc dồn đổi ruộng đất, mô hình đầu tư cho sản
xuất nâng cao thu nhập, nhất là mô hình chăn nuôi lợn bằng công nghệ đệm lót
sinh học. Ngoài ra, thực hiện Cuộc vận động “Chung sức xây dựng NTM”, năm
2011 các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã đăng ký hỗ trợ gần 25 tỷ đồng và
hàng nghìn khối đá cho xây dựng NTM.[12]
Năm 2012, các cấp ủy đảng, chính quyền trong tỉnh tập trung huy động và
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư trên cơ sở thực hiện lồng ghép có hiệu
quả các chương trình, dự án, đẩy nhanh thực hiện và hoàn thành các tiêu chí
NTM của các xã điểm giai đoạn 2009 - 2011; chỉ đạo xây dựng NTM ở tất cả các
xã trong tỉnh; chú trọng các giải pháp phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho nông
dân như chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật mới; lồng ghép, huy động các nguồn lực, nhất là nguồn lực cộng đồng nhân
khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều.
Nhiệt độ trung bình năm giao động từ 23
0
C đến 24
0
C. Mùa hè nhiệt độ
trung bình 27
0
C, tháng nống nhất trong năm là các tháng 6, 7, nhiệt độ cao nhất
từ 36
0
C đến 38
0
C. Mùa đông nhiệt độ trung bình 18.9
0
C, các tháng lạnh nhất
trong năm là tháng 1,2 nhiệt độ thấp nhất từ 6
0
C đến 8
0
C.
Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2000mm. Năm mưa nhiều
khoảng 2400mm, năm mưa ít khoảng 1200mm. Mùa mưa nhiều từ tháng 5 đến
tháng 10, lượng mưa chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng
11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm khoảng 20% lượng mưa của cả năm.
Tổng số ngày nắng trung bình trong các năm 1276 giờ. Mùa hè có tổng số
giờ nắng lớn, các tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 5,6. Mùa đông số giờ nắng
chiếm trung bình khoảng 92%, độ ẩm trung bình tối thiểu khoảng 82%.
19
19
Bảng 2.1. Tình hình sử dụng đất tại xã Tân Sơn
STT Mục đích sử dụng
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 1,037.63 100,00
1 Nhóm đất nông nghiệp 642.83 62
- Đất sản xuất nông nghiệp 364.46
+ Đất trông cây hằng năm 345.91
+ Đất trồng lúa 306.06
+ Đất trồng cây lâu năm 18.55
- Đất sản xuất lâm nghiệp 250.03
+ Đất rừng sản xuất 15.58
+ Đất rừng phòng hộ 234.45
- Đất nuôi trồng thủy sản 28.34
2 Nhóm đất phi nông nghiệp 384.91 37.1
- Đất ở 41.97
- Đất chuyên dùng 280.84
- Đất tôn giáo, tín ngưỡng 0.89
- Đất nghĩa trang nghĩa địa 6.81
- Đất sông suối 54.4
3 Nhóm đất chưa sử dụng 9.89 0.9
- Đất bằng chưa sử dụng 9.67
- Đất đồi núi chưa sử dụng 0.22
(Nguồn: Ban thống kê xã Tân Sơn)
Qua bảng trên ta thấy được, xã có tổng diện tích tự nhiên là 1.037,63 ha
được chia ra làm 3 nhóm chính:
Nhóm đất nông nghiệp là 642.83ha, chiếm 62% tổng diện tích tự nhiên.
Trong nhóm đất nông nghiệp được chia ra là đất dùng để sản xuất nông nghiệp,
xuống thấp hơn. Còn một phần nhỏ diện tích đồi núi chưa được sử dụng (0.22 ha).
Đất này thường khó canh tác, chủ yếu là núi đá.
2.4.2.2. Tài nguyên nước
Toàn xã có 90.45 ha diện tích đất mặt nước. Trong đó diện tích sông, ngòi,
kênh, rạch, suối là 54.41 ha, đây là nguồn nước chính phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp. Diện tích đất ao, hồ, đầm là 36.04 ha được dùng để nuôi trồng thủy sản
chủ yếu là nuôi các loại cá.
Nguồn nước ngầm: Ở độ sâu từ 6 đến 10m là nguồn nước ngầm phong
phú được người dân trong xã khai thác bằng cách khoan, đào giếng lấy nước
phục vụ cho ăn uống sinh hoạt hàng ngày.
22
22
23
2.4.2.3. Tài nguyên rừng
Diện tích rừng là 250.03ha trong đó diện tích rừng phòng hộ là 234.45ha
và diện tích rừng sản xuất là 15.58ha. Nhũng năm gần đây diện tích rừng ngày
càng giảm do việc khai thác đá ở các núi đá ngày càng nhiều, cần phải có những
biện pháp và chính sách cụ thể để khoanh nuôi phục hồi lại rừng.
2.3.2.4. Khoáng sản
Khoáng sản chủ yếu ở xã Tân Sơn là đá vôi, là nguyên liệu cho sản xuất xi
măng, vôi, sản xuất bột nhẹ, làm vật liệu xây dựng.
Một số loại đá quý có ở xã như đá Vân Hồng, tím nhạt. Hay trữ lượng đất
sét lớn dùng để làm nguyên liêu cho sản xuất xi măng, hay làm gạch, ngói…
2.4.3. Điều kiện kinh tế xã hội
2.4.3.1. Dân số – Lao động – Dân tộc
Toàn xã có 6 thôn được chia ra làm 11 xóm bao gồm tổng số hộ là 2483
hộ với 9342 nhân khẩu. Trong đó, số người trong độ tuổi lao động là 5603 người,
số lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp là 2297 người chiếm 41% tổng lao
động, số lao động làm trong lĩnh vực CN – TTCN là 2073 người, chiếm 37%, số
lao động làm trong lĩnh vực dịch vụ là 533 người chiếm 9.5%, và số lao động
4. Bình quân LĐNN/ hộ NN LĐ/hộ 1.32 1.26 1.24
5. Bình quân NKNN/hộ NN LĐ/hộ 3.69 3.62 3.52
(Nguồn: Ban thống kê xã Tân Sơn)
Qua bảng ta thấy được sự biến động dân số của xã trong những năm qua. Về
tổng nhân khẩu có sự tăng lên về nhân khẩu giữa các năm, năm 2010 tăng lên
0.48% so với năm 2010 và tiếp tục tăng vào năm 2011 (tăng 0.6% so với năm
2011). Tuy nhiên, số nhân khẩu nông nghiệp lại đang có chiều hướng đi xuống
trong những năm gần đây, năm 2010 giảm 2.86% so với năm 2009, và tiếp tục
giảm trong năm 2011, năm 2011 giảm 2.88%. Hiện người dân không còn được
mặn mà với việc phát triển nông nghiệp, chuyển dịch ngành nghề sang các ngành
khác nên việc số nhân khẩu tăng lên nhưng nhân khẩu nông nghiệp giảm xuống
thay vào đó là sự tăng lên về nhân khẩu phi nông nghiệp. Năm 2010 số nhân
khẩu phi nông nghiệp tăng 10.51% so với năm 2009 , đến năm 2011 tăng 9.75%
so với năm 2010. Người dân đang có xu hướng chuyển mục đích kinh doanh
sang CN-TTCN nên số nhân khẩu đang có xu hướng tăng lên, tuy nhiên tăng ở
mức độ nhẹ.
Về tổng số hộ trong xã, số hộ trong xã cũng tăng lên một cách nhanh
chóng, năm 2010 tăng 5.78% so với năm 2009, năm 2011 tăng 6.77% so với năm
2010. Tuy nhiên, số hộ nông nghiệp lại đang ngày một giảm, năm 2010 giảm
0.85% so với năm 2009, năm 2011 giảm 0.33% so với năm 2010 và số hộ phi
24
24
25
nông nghiệp đang có xu hướng tăng lên do có xu hướng chuyển đổi ngành nghề,
năm 2010 tăng 32.13% so với năm 2010, năm 2011 tăng 28.18% so với năm
2010.
Tổng số lao động cũng có xu hướng tăng lên do số nhân khẩu đến tuổi lao
động tăng lên, năm 2010 tăng 0.49% so với năm 2010, năm 2011 tăng 0.55% so
với năm 2011. Tuy nhiên vẫn ở mức độ tăng chậm. Đối mặt với thực tế, việc sản
xuất nông nghiệp không mang lại hiệu quả về kinh tế cho người dân nên việc