trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa khoa học quản lý
o0o
CHUYÊN Đề
THựC TậP TốT NGHIệP
Đề tài:
thực trạng và một số biện pháp phòng
ngừa,
giải quyết vấn đề trẻ em lao động sớm
tại xã liên sơn, huyện kim bảng, tỉnh hà
nam
Giáo viên hớng dẫn : ths. nguyễn quang
huy
Sinh viên thực hiện : đặng thế thật
Lớp : quản lý kinh tế
MSSV : tx 071587
Hà Nội, 2012
Lời cảm ơn!
Trong thời gian thực tập từ ngày 08/2/2012 đến ngày 30/4/2012 tại
UBND xã Liên Sơn, dưới sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong
khoa công tác xã hội mà trực tiếp là thầy giáo - Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
cùng các anh, chị em cán bộ của UBND xã, tôi không những đã hoàn thành
báo cáo của mình mà kỳ thực tập còn giúp tôi học hỏi được nhiều kinh
nghiệm, kiến thức bổ ích - đó là những kỹ năng rất cơ bản sẽ giúp ích cho tôi
rất nhiều trong quá trình công tác, làm việc.
Em xin chân thành cảm ơn thày giáo Nguyễn Quang Huy, lãnh đạo
UBND xã cùng đội ngũ cán bộ công chức, cán bộ chuyên trách và bán chuyên
trách đã tạo mọi điều kiện, quan tâm, giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tại
xã cũng như hoàn thành báo cáo này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Để tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực này em đã chọn nghiên cứu chuyên đề:
“Thực trạng và một số biện pháp phòng ngừa, giải quyết vấn đề trẻ em lao
động sớm tại xã Liên Sơn - huyện Kim Bảng - tỉnh Hà Nam” với mong
muốn nâng cao kỹ năng, tâm thế nghề nghiệp và đóng góp một phần nhỏ bé
cho công tác phòng ngừa, giải quyết vấn đề trẻ em lao động sớm ở xã Liên
Sơn - huyện Kim Bảng - tỉnh Hà Nam. Chuyên đề tốt nghiệp gồm các nội
Sinh viên: Đặng Thế Thật Khoa: Khoa học Quản lý
1
dung chính sau:
- Khảo sát thực trạng trẻ em lao động sớm tại xã Liên Sơn, huyện Kim
Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Chỉ rõ những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên.
- Đề xuất một số biện pháp phòng ngừa và giải quyết vấn đề trẻ em lao
động sớm một cách có hiệu quả tại địa phương.
Sinh viên: Đặng Thế Thật Khoa: Khoa học Quản lý
2
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẺ EM
LAO ĐỘNG SỚM
1. Trẻ em và trẻ em lao động sớm
1.1. Một số khái niệm
Ngay từ xa xưa lao động trẻ em đã tồn tại dưới dạng này hay dạng khác,
số người ở độ tuổi trẻ em ở các nước nói chung và ở Việt Nam nói riêng phải
đi làm cho bản thân và cho sự sống của gia đình. Các em thường phải sống và
làm việc trong các điều kiện thiếu an toàn và luôn bị những hiểm nguy rình
rập.
* Khái niệm trẻ em
- Căn cứ vào những điều kiện, đặc điểm con người Việt Nam, Luật Bảo
vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em thì: “ Trẻ em là những công dân Việt Nam dưới
16 tuổi”.
- Theo điều một Công ước Quốc tế về quyền trẻ em thì trẻ em là “người
- Còn với trẻ em khi lao động quá sức, tiếp xúc với các chất hoá học độc
hại thì sẽ mang lại tác động tiêu cực vì trong quá trình đó đã tạo ra uốn cong
quá trình phát triển tự nhiên làm cho thể lực, trí lực phát triển không bình
thường.
- Trẻ em lao động sớm góp phần làm gia tăng nạn thất nghiệp và thiếu
việc làm cho người lớn. Khi trẻ em phải lao động để kiếm miếng ăn có ảnh
hưởng xấu tới việc học tập của chúng, lao động trẻ em lớn lên thành lao động
người lớn với trình độ thấp kém không có văn hóa, làm giảm tri thức con
người - tri thức này rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội trong tương
lai. Với những lao động đó không thể có năng suất, thu nhập cao và như vậy
thực tế nghèo đói của xã không giảm mà lại tăng lên gấp bội khi số trẻ này
thành người lớn. Như một vòng luẩn quẩn, đến lượt mình, trẻ em lao động
sớm lại kéo dài sự nghèo đói hoặc dẫn đến sự nghèo đói tiếp theo - trẻ em lại
phải lao động.
Như vậy trẻ em phải kiếm sống mưu sinh dù trong hoàn cảnh, điều kiện
Sinh viên: Đặng Thế Thật Khoa: Khoa học Quản lý
4
nào (làm thuê trong các thành phần kinh tế bất kỳ loại hình sản xuất kinh
doanh hay dịch vụ lao động, lang thang ….) thì đều lợi bất cập hại. Lao động
nhất là trong điều kiện độc hại, nguy hiểm, môi trường xấu, thời gian kéo dài
(tại các khu vực khai thác, chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng….) đều ảnh
hưởng không tốt đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và việc học tập,
vui chơi của các em.
1.3. Nguyên nhân chính và những yếu tố ảnh hưởng đến trẻ em lao
động sớm tại địa phương
1.3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Liên Sơn
Liên Sơn là một trong bảy xã miền núi của huyện Kim Bảng, là nơi đất
không rộng người không đông được tách ra từ xã Khả Phong cũ là nơi có
đường thủy, bộ đi qua thuận lợi cho phát triển kinh tế của xã.
Liên Sơn có tổng diện tích là 2.039,38 ha với dân số năm 2011 là 3.586
người), tình trạng di dân tự do ở trong đồi núi cũng là một nguyên nhân làm
tăng trẻ em lao động sớm.
- Quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá của đất nước tạo ra sự mất cân
bằng về nguồn việc làm và mức sống giữa thành thị và nông thôn đã tạo sức
hút mạnh mẽ trẻ em trong các gia đình khó khăn về kinh tế ra đô thị hay khu
công nghiệp kiếm việc và trở thành trẻ em lao động sớm. Do khó khăn về
kinh tế đi đôi với sự phát triển không đồng đều giữa khu vực nông thôn và
thành thị; do sự chênh lệch về mức sống và thu nhập, những gia đình đông
con là nguyên nhân dẫn đến trẻ em lang thang, trẻ em lao động sớm.
1.3.4. Yếu tố từ bản thân trẻ em
Nguyên nhân chủ quan thuộc về chính bản thân trẻ em là bỏ học, không
chịu được khó khăn, mong muốn có cuộc sống đổi thay, nhạy bén với môi
trường sống, chạy theo thị hiếu, theo bạn bè … Sự lôi cuốn của bạn bè cùng
lứa tuổi có tác động mạnh mẽ tới trẻ, một số em muốn khẳng định vai trò của
bản thân trong việc tự kiếm sống Nguyên nhân này mặc dù ít được bộc lộ
Sinh viên: Đặng Thế Thật Khoa: Khoa học Quản lý
6
ra bên ngoài nhưng lại là nguyên nhân chủ đạo vì đa phần các em tự quyết
định tham gia lao động và lựa chọn cho mình một hình thức lao động riêng.
Nguyên nhân chủ quan thuộc về chính bản thân các em không thích học,
không chịu được cuộc sống khó khăn của gia đình, mong muốn một cuộc
sống thay đổi, chạy theo thị hiếu, theo bạn bè, các em tự quyết định đi lang
thang kiếm sống và tự lựa chọn cho mình một cuộc sống riêng.
1.3.5. Yếu tố về phía chủ sử dụng lao động
Do lao động trẻ em còn thơ ngây không hiểu biết chính sách, dè dặt
trong đấu tranh: dễ sai khiến, chấp nhận giá nhân công thấp và chỉ cần đáp
ứng cho một số những đòi hỏi giản đơn nên chủ sử dụng lao động thích sử
dụng lao động trẻ em hơn. Vì vậy, với những công việc giản đơn, chủ sử dụng
lao động chỉ cần sử dụng lao động trẻ em chứ không muốn thuê lao động
người lớn. Đây cũng là một nguyên nhân khiến cho lực lượng lao động trẻ em
nước đã có nhiều chủ trương, chính sách về vấn đề này:
- Nghị định số 374/NĐ-HĐBT (nay là Chính phủ) ngày 14-11-1991 quy
định chỉ được sử dụng lao động trẻ em trong độ tuổi quy định làm những công
việc mà Bộ LĐTB-XH ban hành.
- Bộ luật lao động được Quốc Hội thông qua ngày 23/6/1994 và có hiệu
lực từ ngày 01/01/1995 quy định những điều khoản về lao động trẻ em và lao
động chưa thành niên được cụ thể qua các Điều 6, Điều 120, Điều 121.
- Chỉ thị số 06/1998/CT-TTg; Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg ngày
12/02/2004 về việc phê duyệt chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng
trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em phải lao động nặng nhọc
trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2005-2010.
- Luật phổ cập giáo dục tiểu học (16/8/1991) quy định quyền cơ bản của
trẻ em là phải được học tập và chính sách phổ cập giáo dục tiểu học bắt buộc
Sinh viên: Đặng Thế Thật Khoa: Khoa học Quản lý
8
đối với mọi công dân Việt Nam từ 6 đến 14 tuổi. Đây là một văn bản pháp lý
quan trọng nhất nhằm bảo vệ quyền học tập của trẻ em trong đó có trẻ em
tham gia lao động trước tuổi.
2. Kinh nghiệm của nước ngoài trong phòng ngừa trẻ em lao động
sớm
Hiện nay, việc xóa bỏ lao động trẻ em được thực hiện theo nhiều cách,
nhiều kiểu khác nhau ở các quốc gia trên thế giới. Ở mỗi nước, mỗi vùng sẽ
có những giải pháp riêng cho mình và được áp dụng tùy theo điều kiện, hoàn
cảnh của những quốc gia hay vùng đó. Có rất nhiều chương trình đã được áp
dụng ở các quốc gia khác nhau nhằm loại bỏ lao động trẻ em hoặc hạn chế,
đặc biệt là những lao động đang phải tham gia vào những công việc nguy
hiểm. Những ví dụ sau đây sẽ minh họa cho điều này:
2.1. Kinh nghiệm của Ấn Độ
Ở Ấn độ có phong trào chống lao động trẻ em mang tên Rugmark. Mục
tiêu của phong trào này là tăng cường sự hiểu biết của cộng đồng đối với vấn
đề lao động trẻ em cần có tính chất toàn diện, tổng thể. Điều này cũng được
các nhà nghiên cứu thống nhất, như được thể hiện trong các nghiên cứu của
Anjli Garg (2000) hay Peter Fallon và Zafiris Tzannatos (1998). Theo đó, giải
pháp hiệu quả nhất là một giải pháp toàn diện, bao gồm nhiều kỹ thuật khác
nhau. Theo Anjli Garg (2000), một giải pháp toàn diện cho việc giải quyết
vấn đề lao động trẻ em phải bao gồm một cách tiếp cận đa khía cạnh gồm
những yếu tố sau:
- Chính phủ Mỹ và các quốc gia khác phải cố gắng sửa đổi các qui định
của WTO là bao gồm IFLS, ví dụ như việc cung cấp lao động trẻ em.
- Chính phủ các quốc gia phải cung cấp các giải pháp an sinh xã hội cho
người nghèo.
Sinh viên: Đặng Thế Thật Khoa: Khoa học Quản lý
10
- Các công cụ đa phương, ví dụ như định hướng về thỏa ước ILO, cùng
với các tổ chức quốc tế và NGOs, phải đấu tranh vấn đề lao động trẻ em
- Các giải pháp phải đấu tranh với sự chấp nhận của xã hội về vấn đề lao
động trẻ em bằng cách gia tăng sự hiểu biết của toàn xã hội về vấn đề này.
- Ở các quốc gia có vi phạm về lao động trẻ em phải tăng cường những
đạo luật về lao động trẻ em một cách mạnh mẽ, cũng như công ước về quyền
trẻ em đó xây dựng những chuẩn mực mới về luật pháp quốc tế mà mỗi quốc
gia phải tuân thủ, dẫn đến các qui định trong quốc gia cần có những qui định
về những hành vi được chấp nhận trong xã hội đó. Tất cả các quốc gia phải
thành lập một hệ thống các qui định về lao động trẻ em. Chiến lược này rất
quan trọng đối với sự thành công của Hongkong trong việc xóa bỏ lao động
trẻ em.
- Các phương tiện và chương trình giáo dục phải được xây dựng nhằm
thâu nhận những đứa trẻ được đưa khỏi công việc. Công việc có thể cản trẻ
em đến trường, trong khi đó, giáo dục kém chất lượng thường làm cho trẻ em
nghỉ học sớm và bắt đầu đi làm. Giáo dục tốt, ngược lại, có thể giữ chân trẻ
lao động. Giáo dục càng dài hơn và càng tốt, khả năng trẻ bị bắt đi làm sẽ
và số người đã hết tuổi lao động là 513 người chiếm 15,6% dân số. Thu nhập
Sinh viên: Đặng Thế Thật Khoa: Khoa học Quản lý
12
của người dân chủ yếu dựa vào cây lúa với một năm có hai vụ chính là vụ
chiêm và vụ mùa. Diện tích đất nông nghiệp là 154,58 ha. Ngoài ra còn có sự
đan xen trồng cây hoa màu sau khi thu hoạch lúa mùa như cây ngô đông,
khoai đông, đỗ tương, bầu bí … diện tích trồng cây màu vụ đông khoảng 75
ha. Có thể nói Liên Sơn có một nguồn lực tự nhiên rất phong phú, đây sẽ là
điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế đa ngành, liên kết, hợp tác thu hút
đầu tư của các doanh nghiệp, các công ty vào phát triển kinh tế xã hội của xã.
Xuất phát từ đặc điểm chung của xã, vì vậy mà nhân dân chủ yếu sống
bằng nghề nông, trồng cây đồi rừng, có tới 90% dân số có nguồn thu nhập
chính từ sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra còn một bộ phận nhỏ dân cư làm
thêm nghề thủ công như: Mây tre đan, thêu ren, nghề sơn mài, môc, cơ khí
Mấy năm gần đây do xu hướng mở rộng đầu tư phát triển kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá - hiện đại hoá, một số nhà máy xi măng, nghiền sàng được
xây dựng trên địa bàn xã thu hút gần 400 lao động trong xã vào làm góp phần
không nhỏ vào việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và phần nào đáp ứng
nhu cầu nguyện vọng của nhân dân.
Đời sống của nhân dân trong xã khá phong phú, tinh thần thần dân trí
được cải thiện như: Phổ cập giáo dục tiểu học, mở các lớp xoá mù chữ song
vẫn còn nhiều bất cập. Trong xã có ba thôn nhưng theo hai tôn giáo khác
nhau, số hộ theo đạo Thiên Chúa là 290 hộ, còn lại 728 hộ theo đạo Phật. Do
có hai thành phần tôn giáo khác nhau vì vậy mà ở mỗi thôn hình thành một
loại hình văn hoá riêng nó gắn với con người và những giá trị đã được người
dân gìn giữ đến ngày hôm nay như: hát chèo, đua thuyền ngoài ra còn tổ
chức hội làng vào những ngày đầu xuân như hội làng Do Lễ, hội làng thôn
Bút Phong.
Từ những đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội nêu trên cho ta thấy Liên
Sơn là một xã nằm trong khu vực kinh tế năng động, có nhiều tiềm năng để
14
cũng đã có những cuộc điều tra chuyên đề mang tính chất nghiên cứu hoặc có
một số bài viết công bố trên phương tiện thông tin đại chúng nêu nên những
hiện tượng mang tính chất lẻ tẻ, phản ánh một số nét về tình hình lao động trẻ
em. Tính đến thời điểm hiện nay cả nước có khoảng 171.000 trẻ em lao động
sớm và đang có xu hướng gia tăng do hai lý do chủ yếu: Do tác động của nền
kinh tế thị trường và thiên tai, bão lụt, hạn hán trên diện rộng làm cho nhiều
gia đình vốn đã khó khăn về kinh tế lại khó khăn thêm dẫn đến một số trẻ em
phải tham gia lao động sớm tạo thêm thu nhập cho gia đình.
2.1. Quy mô, cơ cấu trẻ em lao động sớm xã Liên Sơn
Liên Sơn là xã miền núi của huyện Kim Bảng, 90% dân số sống bằng
nghề trồng lúa nên đời sống của nhân dân nhìn chung còn nhiều khó khăn.
Chính vì vậy mà số trẻ em phải lao động sớm của xã khá cao và không ngừng
gia tăng, năm sau luôn cao hơn năm trước và một số năm gần đây số lượng trẻ
em lao động sớm gia tăng một cách đột biến.
Bảng 1: Số trẻ em lao động sớm của xã Liên Sơn
(Đơn vị tính: Người)
TT Năm Người
1 2006 34
2 2007 52
3 2008 97
(Nguồn: Báo cáo của xã Liên Sơn tháng 12/2006)
Trong năm 2004 và 2005 số trẻ em lao động sớm không ngừng tăng lên,
đặc biệt năm 2006 có sự gia tăng đột biến. Năm 2006 cả xã có 97 trẻ em lao
động sớm tăng gấp ba lần so với năm 2004 và gấp gần hai lần so với năm
2005. Đó là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân
nghèo đói, thiên tai … dự báo trong những năm tới số trẻ em lao động sớm
sẽ tiếp tục gia tăng. Với tình hình kinh tế xã hội hiện nay, trẻ em lao động
Sinh viên: Đặng Thế Thật Khoa: Khoa học Quản lý
15
Sinh viên: Đặng Thế Thật Khoa: Khoa học Quản lý
16
đây là một điều đáng mừng đối với xã Liên Sơn.
Như vậy có thể thấy rằng ở những thôn có tỷ lệ hộ nghèo, đói cao thì ở
đó có đông trẻ em lao động sớm.
2.2. Độ tuổi, giới tính trẻ em lao động sớm xã Liên Sơn
2
Liên Sơn là xã nghèo, nhân dân vốn có truyền thống cần cù lao động.
Với trẻ em, lao động mang tính chất giáo dục, giúp đỡ gia đình như trông em,
cắt cỏ, chăn bò, nấu cơm các em ở nông thôn có thể làm từ khi lên 7-9 tuổi.
Nhưng xét trên góc độ trẻ em tham gia lao động tạo thu nhập thì ở độ tuổi đó
là quá nhỏ. Theo kết quả điều tra độ tuổi của trẻ em lao động sớm trên địa bàn
xã Liên Sơn cho thấy:
Trẻ em lao động sớm có ở mọi lứa tuổi nhưng tập trung chủ yếu ở một số
độ tuổi sau:
- Độ tuổi 13 - 16: chiếm 70%.
- Độ tuổi 11 - 13: chiếm 25%.
- Độ tuổi 8 - 11: chiếm 5%.
Về giới tính:
- Số em nam là: 63 em chiếm 65%.
- Số em nữ là: 34 em chiếm 35%.
Kết quả điều tra đã phản ánh trẻ em lao động sớm có ở mọi lứa tuổi
(học sinh tiểu học và THCS) nhưng tập trung đông nhất ở lứa tuổi 13 - 16
(chiếm 70%). Đây là độ tuổi phát triển mạnh về tâm sinh lý và là thời kỳ
chuyển tiếp từ thiếu niên sang thanh niên. Ở độ tuổi này các em vẫn còn thiếu
hiểu biết, thiếu kinh nghiệm sống, nhạy cảm, dễ bị kích động. Chính vì vậy
các em dễ bị tác động của môi trường xung quanh. Lao động sớm đặc biệt lại
làm những công việc nặng nhọc, độc hại ở những vùng nguy hiểm sẽ ảnh
hưởng không tốt tới sự phát triển thể chất cũng như nhân cách của trẻ.
2
nhiều em đã bỏ học do chi phí giáo dục quá lớn so với thu nhập của gia đình.
Mặt khác một số bậc cha mẹ còn quá coi trọng lợi ích vật chất trước mắt mà
bắt con bỏ học để lao động kiếm sống hơn là việc tạo cho con có một trình độ
học vấn để phát triển trong tương lai đã đẩy trẻ em vào con đường trẻ em lao
động sớm.
Qua kết quả báo cáo cuối năm 2006 của các thôn, xóm cho thấy:
- 68% trẻ em có trình độ từ lớp 7 - 9 trong đó 21% trẻ em đã bỏ học.
- 27% trẻ em có trình độ từ lớp 5 - 7 trong đó 7% trẻ em đã bỏ học.
- 5% trẻ em có trình độ dưới lớp 5.
Nhưng điều đáng lưu ý là ngoài 28% trẻ em đã bỏ học thì số trẻ em có
nguy cơ bỏ học chiếm tỷ lệ khá cao (khoảng 18%) tập trung chủ yếu ở các em
đang học từ lớp 7-9 và rải rác trong độ tuổi học lớp 5-7. Điều đáng mừng là
90% trẻ em được hỏi cho rằng giáo dục là điều cần thiết, quan trọng, là hành
trang vào đời; nghèo đói buộc các em phải nghỉ học lại là điều khác. Trong số
các em đã nghỉ học khi được hỏi có muốn tiếp tục quay lại trường học không
thì có tới 90% các em mong muốn được tiếp tục đi học, số còn lại thì muốn đi
làm để kiếm tiền hay ngại đến trường Từ những kết quả điều tra, nghiên cứu
cho thấy: trẻ em lao động sớm gắn liền với sự thất học và có trình độ học vấn
thấp.
2.5. Nhu cầu, nguyện vọng trẻ em lao động sớm xã Liên Sơn
Qua kết quả điều tra nhu cầu, nguyện vọng của trẻ em lao động sớm ở xã
Liên Sơn (thông qua các bức tranh vẽ) trong chương trình hỗ trợ trẻ em lao
động sớm của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy: 58% các em ước mơ
trở thành cô giáo, bác sỹ, chú bộ đội, công an 37% muốn trở thành công
nhân giỏi được làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp; có em thích trở thành
bác nông dân cày cấy giỏi như bố, mẹ em
Về nhu cầu nguyện vọng của trẻ có thể nói trẻ em lao động sớm có xu
Sinh viên: Đặng Thế Thật Khoa: Khoa học Quản lý
19
hướng muốn trở thành những người hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục,
+ Thu nhặt phế liệu: 27%
+ Các công việc lao động chân tay: 21%
+ Công việc khác: 7%.
Các em tham gia làm nhiều công việc khác nhau nhưng chủ yếu là thu
nhặt phế liệu và bán hàng rong. Trong quá trình lao động các em gặp rất nhiều
rủi ro như tai nạn giao thông, bị cướp giật, bị bọn côn đồ đánh đập… Với
những em đi thu nhặt phế liệu sẽ bị ảnh hưởng rất lớn về thể lực do phải đi
nhiều nơi, do chất độc từ các bãi rác thải hay lao động quá sức. Nhiều gia
đình rất ít nghĩ đến những ảnh hưởng có thể xảy ra với các em hoặc có biết
cũng bỏ qua nên nhiều khi vô tình các bậc cha mẹ chính là người đưa các em
vào những hoàn cảnh nguy hại mà không ý thức được điều đó. Trẻ em lao
động sớm ở các đô thị là đối tượng đặc biệt rất cần sự quan tâm giúp đỡ của
gia đình và cộng đồng.
* Trẻ em giúp việc trong các hộ gia đình.
Giúp việc trong các hộ gia đình, các em nhỏ ít gặp phải trường hợp
ngược đãi, thô bạo, bất công mà các em đi làm thuê khác thường gặp song các
em phải làm hàng loạt các công việc không tên và chịu một sức ép về thời
gian khá lớn. Những công việc các em làm hàng ngày là quét dọn nhà cửa,
giặt giũ quần áo, trông em, nấu cơm Đây là những công việc gia đình mà
trẻ em thường làm để giúp đỡ bố mẹ nhưng có sự phân công cho các thành
viên khác. Còn các em giúp việc ở đây thì một mình phải làm tất cả các công
việc ấy so với lứa tuổi các em là quá sức, hơn nữa các em còn phải thức
khuya dậy sớm, chăm lo đời sống sinh hoạt hàng ngày cho cả một gia đình.
Theo số liệu thống kê về số lượng trẻ em tham gia lao động trong lĩnh vực
này chiếm 6% và các em đều đã bỏ học hoặc không có điều kiện đến trường.
Có một bộ phận không nhỏ trẻ em làm việc trong các hộ gia đình đã bị chủ hộ
mắng chửi, bắt làm tất cả các công việc trong gia đình. Liệu với trẻ thơ, các
Sinh viên: Đặng Thế Thật Khoa: Khoa học Quản lý
21
em có thể chịu đựng được không? Các bậc cha mẹ có hiểu được việc cho con