PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Thừa Thiên Huế có hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai lớn nhất Đông
Nam Á, với diện tích mặt nước khoảng 22.600ha, chạy qua 5 huyện với 31
xã, thị trấn. Phá Tam Giang nổi tiếng về nguồn lợi thủy sản dồi dào và đa
dạng sinh học cao. Đây là nguồn sống chủ yếu của hơn 300.000 cư dân ven
phá và đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa
Thiên Huế.
Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là một hệ sinh thái rất đa dạng và
phong phú tuy nhiên trong những năm gần đây nguồn tài nguyên đầm phá
đang đứng trước nhiều nguy cơ. Sự suy giảm nguồn lợi thủy sản , môi trường
bị ô nhiễm, dịch bệnh gia tăng… làm cho đời sống người dân thêm nhiều khó
khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế lâu dài của ngư dân ven phá.
Khi dân số và kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế ngày càng phát triển, thì hệ
sinh thái Tam Giang-Cầu Hai ngày càng có nguy cơ chịu áp lực gia tăng.
Khai thác quá mức tài nguyên thủy sản bằng đánh bắt hoặc sử dụng thiếu
phương pháp, thiếu quy hoạch là những nhân tố chính làm suy thoái nguồn lợi
thuỷ sản. Các hoạt động nuôi trồng thủy sản diễn ra ồ ạt, sự phát triển của
phong trào nuôi trồng theo hình thức ao vây làm cho ngư dân khai thác di
động bị mất ngư trường khai thác, sự phát triển quá mức các ngư cụ khai thác:
Nò sáo, Đáy… làm cản trở dòng chảy, thu hẹp ngư trường khai thác, việc sử
dụn các ngư cụ có tính hủy diệt như xiếc điện, rà điện… đang hủy diệt nguồn
lợi thủy sản và môi trường sinh thái.
Trước thực trạng đó, khi các biện pháp kiểm soát và giám sát được thực
hiện thông qua kênh kiểm soát từ trên xuống tốn khá nhiều ngân sách nhưng
xem ra không mấy hiệu quả, chính quyền tỉnh ngày càng xem sự tham gia của
những người sử dụng tài nguyên là một nhân tố cần thiết trong hệ thống quản
lý thuỷ sản. Chuyển hướng quan niệm tài nguyên đầm phá là sở hữu chung
sang sở hữu của người sử dụng, ai sử dụng thì phải có vai trò, trách nhiệm bảo
vệ, quản lý trước. Giải pháp này được thực hiện bằng việc phát triển các chi
hội nghề cá, chi hội nghề cá sẽ là tổ chức đại diện cho người dân trực tiếp
như vai trò của chi hội nghề cá trong thực hiện các cải tiến đó
- Đánh giá kết quả của các cải tiến quản lý đối với chất lượng tài
nguyên môi trường Đầm Phá, sản xuất thủy sản và cải thiện sinh kế người dân
2
PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Đồng quản lý thủy sản
2.1.1 Khái niệm về quản lý
- “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và
hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật,
đạt được mục đích và đúng với ý chí của người quản lý” (Quản lý nhà nước,
2000)
- Còn theo Fayel thì: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia
đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế
hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện
kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”. [12]
2.1.2 Khái niệm đồng quản lý
Hình thành phương thức tiếp cận đồng quản lý [10]
Theo ước tính thì hiện nay trên thế giới có khoảng 51 triệu ngư dân,
trong số này khoảng 50 triệu hoạt động trên quy mô nhỏ, hành nghề vì sinh kế
và thủ công, những người này chủ yếu sống và hành nghề tại các nước đang
phát triển. Tuy nhiên, nguồn lợi quan trọng đối với sinh kế của người dân thì
lại không ổn định. Một câu hỏi đặt ra là tại sao chúng ta lại tự đẩy mình vào
tình thế khó khăn này và chúng ta làm gì để khắc phục điều đó? Các nhà
nghiên cứu và quản lý đang tích cực tìm kiếm các phương pháp mới đối với
công tác quản lý, và một trong những phương pháp triển vọng nhất là tập
trung vào các cách tiếp cận liên quan đến người sử dụng – chính là các ngư
dân – hoạt động dưới dạng quản lý phối hợp hoặc chia sẻ với các cấp chính
quyền.
Trong thập kỷ qua, đã có sự thay đổi trong công tác quản lý nghề
cá trên một phương diện bao quát hơn qua đó cũng nhận thấy có sự tham gia
trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ giữa Nhà nước và người hưởng lợi thông qua
các cơ chế và hình thức hợp tác thích hợp. [8]
Theo Pomeroy và Viswanathan (2003) thì các bên liên quan
trong đồng quản lý bao gồm các tổ chức phi chính phủ, nhóm người sử dụng
nguồn lợi và chính quyền. Đồng quản lý bao gồm quyền tham gia trong việc
đưa ra các quyết định quan trọng quy định cách thức, khi nào, ở đâu, bao
nhiêu và đối tượng nào được phép khai thác.
4
Theo Jentoft và cộng sự (1998) đã cụ thể hoá thêm khi giải thích:
“Đồng quản lý là quá trình phối hợp và hợp tác trong việc đưa ra các quyết
định quản lý giữa đại diện cả nhóm sử dụng nguồn lợi, Chính Phủ, tổ chức
nghiên cứu. Theo nghĩa ai là người ra quyết định có hai thái cực: quyền lực
Nhà nước và quyền của ngư dân. Hình thức quản lý trên – xuống, Nhà nuớc
đưa ra những quyết định đơn độc còn người dân thụ động thực hiện. Ngược
lại, đồng quản lý tạo cho người sử dụng nguồn lợi có quyền hành, tổ chức và
thực hiện hệ thống quản lý của riêng họ”.
Đồng quản lý nghề cá
Trong Hội thảo của Uỷ Hội Nghề cá châu Á - Thái Bình Dương thống
nhất: “Đồng quản lý nghề cá có thể được hiểu là phương pháp tham gia, nơi
mà Chính Phủ và người sử dụng nguồn lợi thuỷ sản chia sẽ trách nhiệm và
quyền hạn để quản lý Nghề cá quốc gia hoặc nghề cá trong một vùng, dựa
trên sự hợp tác giữa hai bên và với các bên liên quan khác”.
2.1.3 Các loại hình đồng quản lý [2]
Theo Sen và Nielsen, 1996 có các loại hình đồng quản lý sau
Chỉ thị (Instructive): Ít chia sẻ thông tin giữa chính quyền và ngư dân.
Kiểu đồng quản lý theo tính chỉ thị (instructive) này có rất ít sự trao đổi thông
tin giữa Chính quyền và ngư dân. Hình thức đồng quản lý này khác so với
hình thức quản lý tập trung ở điểm rằng ở đây nó có cơ chế đối thoại với ngư
dân, nhưng cuối cùng Chính quyền vẫn quyết định những kế hoạch quản lý và
chỉ thông báo cho ngư dân về những kế hoạch quản lý này.
6. Xây dựng quy chế quản lý trong vùng quản lý của chi hội
7. Xây dựng kế hoạch quản lý, phát triển sinh kế, hoạt động hội
8. Thành lập ban đồng quản lý và phân công trách nhiệm
9. Trao quyền khai thác và chức năng cho chi hội
10. Thực hiện đồng quản lý, giám sát và đánh giá.
2.2 Quản lý dựa vào cộng đồng
2.2.1 Khái niệm quản lý dựa vào cộng đồng
Theo Arnstein (1969), các hình thức quản lý khác nhau nằm trong hai
hình thức cơ bản là quản lý hành chính nhà nước và quản lý cộng đồng. Ngoài
ra đồng quản lý hay quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng là hình thức quản lý
trung gian giữa hai hình thức nói trên. Quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng
là một hình thức hợp tác giữa cộng đồng với nhà chức trách trong việc chia sẻ
6
quyền và trách nhiệm trong quản lý và lợi ích (pomerroy, 1995). Với hình
thức quản lý dựa vào cộng đồng, hiệu quả quản lý sẽ được nâng cao khi có sự
tham gia của người sử dụng nguồn lợi và các bên liên quan trong việc quản lý
(pomerroy, 2000 và VEEM, 2002)
Quản lý dựa vào cộng đồng là phương thức quản lý nguồn lợi của các
nông hộ, cộng đồng trong đó cho phép họ có thể khai thác và sản xuất nguồn
lợi một cách bền vững (David Boyer, 2000): cụ thể hoá trong việc quản lý
vùng nuôi và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản chính là phương thức quản lý cộng
đồng dựa vào thôn, hợp tác xã hay Hội nghề cá, các tổ chức xã hội khác tham
gia vào quản lý, trong đó cá nhân ngư dân được phép khai thác và sản xuất
theo các quy tắc mà cộng đồng đề ra theo hướng sử dụng nguồn lợi và phát
triển NTTS bền vững. [4,17]
Trong quản lý dựa vào cộng đồng con người thành phần trung tâm, họ
quyết định và kiểm soát mọi hoạt động của chính cộng đồng nơi họ sinh sống.
Bản thân cộng đồng đóng vai trò định hướng quản lý. Trong đó, tài nguyên là
cơ sở, nền tảng cho việc quản lý và sử dụng trong cộng đồng. Cộng đồng ngư
dân tham gia các hoạt động như lập kế hoạch, triển khai kế hoạch, chương
thảo luận về định nghĩa của quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng. Định nghĩa
kiểu Nhật Bản hiện nay là: "Hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng là
một hệ thống quản lý nghề cá được phát triển bởi một nhóm ngư dân dựa trên
quyền đánh cá (Fishing Rights) và được thực hiện dưới sự sáng tạo của ngư
dân" (T.Yamamoto, 1998: chủ tịch hội nghiên cứu nghề cá quốc tế - Nhật
Bản). [1]
2.2.2 Tiến trình quản lý dựa vào cộng [4, 19-20]
Xây dựng tổ chức cộng đồng và thiết lập quyền quản lý đó là việc trao
quyền quản lý vể nguồn lợi sinh học cũng như văn hóa cộng đồng và chính
cộng đồng xây dựng nên cơ chế quản lý có hiệu quả và dễ thực hiện cho
mình. Ví dụ: trong cộng đồng hợp tác xã, việc thiết lập ra một cơ chế hoạt
động của cộng đồng do chính hợp tác xã xây dựng cơ chế hoạt động với
người dân nuôi trồng, trong quá trình hoạt động hợp tác xã như thành viên
chủ chốt có tính định hướng về mặt kỹ thuật, cung cấp con giống và vật tư với
vai trò của hợp tác xã chiếm hơn 30%, so với hội nông dân, phụ nữ, thanh
niên và cả UBND xã, bên cạnh đó vai trò tổ đội nghề nghiệp cũng chiếm tỉ lệ
quan trọng hơn 20% trong các hoạt động sản xuất, tái sản xuất và cộng đồng.
8
Việc nghiên cứu quá trình trao quyền quản lý có sự tham gia cho cộng
đồng địa phương: Tổng hợp các kiến thức mới cho việc hình thành các giải
pháp quản lý nguồn lợi và xây dựng niềm tin để tiến đến trao quyền quản lý
cho cộng đồng.
- Đào tạo nâng cao năng lực cho cộng đồng: Đưa thông tin và kiến thức
tổng hợp từ nghiên cứu đến cộng đồng.
- Quản lý nguồn lợi: Đánh giá việc sử dụng nguồn lợi và đưa ra các giải
pháp quản lý đã được xác định từ quá trình nghiên cứu.
- Cải thiện sinh kế: Đa dạng sinh kế để giảm áp lực khai thác nguồn lợi.
- Phát huy sự đa dạng văn hóa.
- Xây dựng mối liên kết và sự ủng hộ với chính quyền: Xây dựng mối
lien kết với các cộng đồng khác, chính quyền các cấp. [4, 19-20]
biển.
Thừa Thiên Huế: Mô hình đồng quản lý nghề cá hồ chứa xã Quảng
Lợi, huyện Quảng Điền; với diện tích 1200 ha mặt nước, dân số 7298 người,
trong đó 31,3% hộ nghèo. Hoạt động chính khai thác và nuôi trồng.
Bình Định: Mô hình đồng quản lý bảo tồn rạn san hô xã Nhơn Hải,
huyện thành phố Qui Nhơn; vơí diện tích 1200 ha, dân số 1221 người. Nuôi
trồng, khai thác kiêm nghề.
Đắc Lắc: Mô hình đồng quản lý nghề cá hồ Buôn Triết, huyện Lắc,
diện tích 150 ha, dân số 5.742 người, dân tộc Êđê, Tày. Hoạt động chính khai
thác.
Bến Tre: (1) Mô hình đồng quản lý nghề cá xã Thạnh Phong, huyện
thạnh Phú, diện tích 5746 ha, dân số 9571 người, hoạt động chính: khai thác,
nuôi nghèo.
An Giang: Mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản khu vực Búng
Bình Thiên nằm trong 3 xã Quốc Thái, Nhơn Hội, Khánh Bình thuộc huyện
An Phú; diện tích 200 – 300 ha, dân số 6800 người. Hoạt động chính khai
thác, nuôi trồng.
Cà Mau: Mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản Đầm Thị Trường
nằm trong 5 xã Phong Lạc, Phong Điền, Phú Thuận, Phú Mỹ, Hoà Mỹ, 3
huyện Trần Văn Thời, Phú Tân, Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Có 680 hộ khai thác,
nuôi trồng. [3]
10
2.4 Quản lý tài nguyên đầm phá trước khi có chi hội nghề cá
Trước khi có chi hội Nghề cá, hoạt động quản lý tài nguyên đầm phá có
sự thay đổi qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau.
Theo Nguyễn Quang Vinh Bình, 1999, trong thời kỳ phong kiến triều
đình giao cho các Vạn chài quản lý những thủy vực, dựa trên các đơn vị nghề
nghiệp và xác nhận quyền sử dụng tài nguyên thu thuế. Vạn chài quản lý trên
các lĩnh vực: quản lý ngư dân (hành vi, ứng xử), quản lý sản xuất, quản lý
cộng đồng và quản lý nguồn lợi thủy sản.
hiện phân vùng mặt nước đầm phá của xã cho các mục tiêu sử dụng và quản
lý.
*Phân vùng quy hoạch chi tiết trong các tiểu vùng đầm phá.
Quy hoạch chi tiết trong các tiểu vùng mặt nước đầm phá do UBND xã
chỉ đạo và hỗ trợ pháp lý. Thôn và các nhóm hộ sử dụng nguồn lợi (nhóm
nuôi trồng, nhóm nò sáo…) trực tiếp thực hiện quy hoạch dựa vào hiện trạng
và đồng thuận giữa các thành viên nhóm.
- Quản lý chủng loại, số lượng và mắt lưới ngư cụ.
Quy định về chủng loại và số lượng ngư cụ không chỉ được thực hiện
trong quy hoạch tổng thể mà còn được UBND tỉnh và huyện ban hành qua
các thời điểm khác nhau. Quy định về chủng loại và số lượng ngư cụ cố định
đang hướng tới mục tiêu giảm quy mô và cường độ khai thác thủy sản, giải
quyết vấn đề khai thác quá mức. Tại các thời điểm ban hành, UBND tỉnh ban
hành các chỉ tiêu điều chỉnh (giảm) chủng loại và số lượng ngư cụ cố định
cho các huyện. Huyện dựa vào chỉ tiêu này để ban hành chỉ tiêu điều chỉnh số
lượng và quy mô ngư cụ tại các xã. Xã tổ chức thực hiện điều chỉnh số lượng
và quy mô ngư cụ thông qua việc sắp xếp lại khai thác do các nhóm đề xuất
theo hướng chia sẻ trong cộng đồng.
Tuy nhiên quy hoạch tổng thể cũng quy định các hoạt động thủy sản
quy mô nhỏ (bao gồm câu cá, chài, lưới bạc với chiều dài của lưới dưới 50m,
chơm cá, bắt sò, cua, ốc bằng tay) và thủy sản giải trí (du lịch) không bị hạn
chế trong quy định về quyền đánh bắt. Có thể nói, việc kiểm soát (giảm)
chủng loại và quy mô khai thác thủy sản bằng ngư cụ cố định chưa được quan
tâm đúng mức. Vì vậy, khai thác di động vẫn là hoạt động tiếp cận mở.
12
- Kiểm soát khai thác hủy diệt.
Hoạt động này có cơ quan chuyên trách là Chi cục Bảo vệ nguồn lợi
thủy sản. Chi cục đề xuất UBND Tỉnh ban hành Quy chế bảo vệ nguồn lợi
thủy sản gồm: các hoạt động bị cấm, quy định mắt lưới, các quy định liên
quan khác và quy định về các hoạt động tuần tra bảo vệ, bắt và xử lý các hộ vi
- Mâu thuẫn xung đột xảy ra thường xuyên vì cạnh tranh mặt nước và
xâm lấn chiếm mặt nước khai thác của nhau.
- Sự phát triển quá nhanh của nghề lừ cả về số lượng hộ và qui mô
lừ/hộ, kích thước mắt lừ quá nhỏ thúc đẩy cạn kiệt tài nguyên thủy sản.
- Vịêc khai thác không đi đôi với duy trì bảo vệ tài nguyên đầm phá đe
dọa đời sống của ngư dân trong tương lai.
14
PHẦN 3. NỘI DUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các đối tác tham gia quan lý, hộ sử dụng tài nguyên, cơ chế
quản lý tài nguyên đầm phá trong vùng ao vây lưới tại cơ sở.
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Trọng tâm nghiên cứu là tìm hiểu thực trạng quản lý tài
nguyên trong vùng ao vây lưới và tác động của các cải tiến quản lý đến sinh
kế ngư dân, tài nguyên đầm phá.
- Không gian: Nghiên cứu vùng ao vây lưới trên đầm phá Tam
Giang-Cầu Hai – Thừa Thiên Huế tại cơ sở.
Thời gian: Tìm hiểu thông tin từ năm 2007 – 2010.
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu.
- Đặc điểm cộng đồng thủy sản vùng nghiên cứu.
- Đặc điểm hộ khảo sát.
3.2.2 Hiện trạng quản lý và sử dụng tài nguyên đầm phá vùng
nghiên
cứu
- Đặc điểm tài nguyên và phân vùng quản lý, sử dụng tài nguyên vùng
nghiên cứu.
- Hoạt động khai thác thủy sản tại vùng nghiên cứu.
- Hoạt động NTTS và KT trong ao vây.
khai thác di động, xin tên các hộ và đi tìm hiểu.
+ Dung lượng mẫu: Đề tài chọn khảo sát 60 hộ ngư dân tại địa điểm
nghiên cứu (thôn Thủy Diện, xã Phú Xuân).
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập số liệu thứ cấp:
+ Báo cáo kinh tế xã hội các năm của xã.
+ Các báo cáo và nghiên cứu, tài liệu được công bố trên báo, tạp chí,
mạng internet, sách… có liên quan đến hoạt động nuôi trồng thủy sản theo
dạng ao vây lưới, khai thác tự nhiên trên địa bàn nghiên cứu.
+ Tài liệu về chi hội (các báo cáo tổng kết hoạt động của hội nghề cá
tỉnh, tổng kết của chi hội, sổ theo dõi của chi hội )
- Phỏng vấn người am hiểu:
16
+ Đối tượng gồm: Cán bộ phòng tài nguyên môi trường, nông nghiệp
huyện, cán bộ phụ trách thủy sản ở xã, chủ tịch xã, cán bộ địa chính xã,
trưởng thôn, chi hội trưởng chi hội nghề cá, thành viên trong ban chấp hành
chi hội,… Đã phỏng vấn 10 người nhằm mục đích hiểu rõ tình hình địa
phương, xin các số liệu thứ cấp và kiểm tra thông tin.
+ Loại thông tin:
- Thông tin chung về thôn (xã).
- Các cải tiến quản lý, cơ chế quản lý tài nguyên đầm phá, chủ
thể quản lý tài nguyên đầm phá.
- Hoạt động quản lý của chi hội.
- Kết quả của cải tiến quản lý và hoạt động của chi hội nghề cá
đến sinh kế người dân và môi trường đầm phá.
- Phỏng vấn hộ:
+ Phương pháp phỏng vấn: sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc, kết hợp
quan sát… nhằm hiểu rõ hơn quá trình khai thác và quản lý tài nguyên của
cộng đồng ngư dân vùng ao vây lưới tại cơ sở.
+ Thông tin thu thập:
4.1.1 Đặc điểm cộng đồng thủy sản vùng nghiên cứu
Xã Phú Xuân có 8 thôn trong đó có đến 7 thôn có sinh kế liên quan đến
các hoạt động sản xuất thủy sản gồm Ba Lăng, Quảng Xuyên, Xuân Ổ, Diên
18
Điểm nghiên cứu
Đại, Lộc Sơn, Thủy Diện và Lê Bình. Hoạt động sản xuất thủy sản ở xã Phú
Xuân cũng khá đo dạng, vừa có nuôi nước ngọt 6 ha ở thôn Lộc Sơn, vừa
nuôi và khai thác thủy sản nước lợ ở 6 thôn Ba Lăng, Quảng Xuyên, Xuân Ổ,
Diên Đại, Thủy Diện và Lê Bình.
Thôn Thủy Diện là một trong hai thôn của xã Phú Xuân được định cư
từ các hộ thủy diện sau bão 1985, địa bàn thôn khép kín, được bao bọc bởi
các xã Phú An và Phú Mỹ. Đây là thôn duy nhất của xã có chi hội nghề cá,
thôn nằm ven phá và có đặc trưng về nuôi trồng thủy sản trong ao vây lưới
của xã, có số hộ tham gia hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản lớn nhất xã.
Sinh kế của người dân trong cộng đồng gắn chặt vào đầm phá thông qua nuôi
trong ao do mình vây chắn hoặc khai thác tự nhiên trên thủy đạo. Cộng đồng
mang những nét đặc trưng của các thôn làng ven phá Tam Giang như có số hộ
ngư nghiệp lớn, tỷ lệ gia tăng dân số nhanh, cấu trúc dân số trẻ, có nguồn lao
động dồi dào…
Bảng 4.1: Đặc điểm nhân khẩu và phân loại hộ cộng đồng thủy sản trong
vùng nghiên cứu.
Chỉ tiêu ĐVT Toàn xã Thôn Thủy Diện
Tổng số hộ Hộ 2104 180
Tổng số nhân khẩu Khẩu 8736 880
Khẩu/hộ Khẩu 4,15 4,9
Tổng số LĐ LĐ 4230 460
LĐ/hộ LĐ 2,01 2,56
Hộ chuyên nông nghiệp Hộ 1200 0
Hộ chuyên ngư nghiệp Hộ 459 173
Hộ khác Hộ 445 7
hoạt động sản xuất thủy sản (chiếm 96,1%), không có hộ nông nghiệp, 7 hộ
không làm ngư nghiệp (3,9%) chủ yếu là các hộ neo người không có lao
động, không có sức hoặc không có diện tích mặt nước nên chỉ buôn bán hàng
tạp hóa nhỏ, bán café cóc, nước giải khát, làm thợ may….
Theo tiêu chí phân loại hộ theo kinh tế xã hội như hiện nay là: hộ
nghèo dưới 200 nghìn đồng/tháng/người, hộ cận nghèo là trên 200 nghìn đồng
dưới 300 nghìn đồng/người/tháng, hộ trên nghèo là trên 300 nghìn
đồng/người/tháng. Với tiêu chí đó tỷ lệ các nhóm hộ ở xã Phú Xuân và thôn
Thủy Diện như sau. Số hộ trên nghèo khá cao với 1529 hộ trong toàn xã
chiếm tỉ lệ 72,67%, số hộ trên nghèo của thôn Thủy Diện là 137 hộ chiếm tỉ lệ
20
76,11%. Số hộ cận nghèo trong toàn xã là 195 chiếm tỉ lệ 9,27% ở thôn Thủy
Diện là 17 chiếm 9,45%, số hộ nghèo của xã là 380 hộ chiếm tỉ lệ 18,06%,
thôn Thủy Diện là 26 hộ chiếm tỉ lệ 14,44, theo phỏng vấn cán bộ thôn thì số
hộ nghèo hiện tại của thôn chủ yếu là hộ già cả, neo đơn không có khả năng
lao động, hộ không có diện tích nuôi phải khai thác di động, cũng có hộ do
nuôi thua lỗ nên nghèo nhưng số này rất ít, chỉ 1-2 hộ và chỉ mới nghèo năm
nay thôi.
Là một xã ven đầm phá, Phú Xuân có trên 11,5 km đầm phá Tam
Giang kéo dài từ Thuỷ Diện đến Phú Đa và rộng trên 1.200 ha, riêng thôn
Thủy Diện có diện tích mặt nước là 270 ha, đó là một trong những điều kiện
rất thuận lợi để phát triển sản xuất thủy sản ở đây. Trong hoạt động sản xuất
thủy sản gồm có nuôi trồng thủy sản và khai thác thủy sản tự nhiên. Với hoạt
động nuôi trồng thủy sản toàn xã có 654 hộ tham gia trong đó có hộ nuôi
chuyên tôm, có hộ nuôi xen ghép, còn ở thôn Thủy Diện có 150 hộ tham gia
hầu hết các hộ đều nuôi xen ghép.
Hoạt động đánh bắt khai thác tự nhiên có hai nghề chính là lừ và lưới,
tuy nhiên trong thôn Thủy Diện vẫn còn hộ sử dụng ngư cụ hủy diệt là xiết
điện để kéo tôm. Toàn xã có 420 hộ Khai thác còn thôn Thủy Diện có 29 hộ
có hoạt động khai thác di động trên đường thủy đạo, đây là các hộ khai thác ở
Tỉ lệ nhà tạm % 8,11 47,83 23,33
Tỉ lệ hộ có giường % 75,67 23,8 55
Tỉ lệ hộ có bàn ghế % 13,51 4,34 10
Tỉ lệ hộ có tivi, đài radio % 91,89 100 95
Tỉ lệ hộ có xe máy % 83,78 39,13 75
Tỉ lệ hộ có điện thoại % 91,3 94,6 93,33
Phương tiện phục vụ sản xuất
Tỉ lệ hộ có Nò sáo % 100 0 61,67
Tỉ lệ hộ có Lừ % 67,57 81 70
Tỉ lệ hộ có Lưới % 91,89 100 95
Tỉ lệ hộ có Thuyền, ghe % 81,08 100 88,33
Giá trị tài sản phục vụ
SX/hộ
1000 đ 69.877 11.185 69.782
Tổng thu nhập/năm/hộ 1000 đ 57.946 16.217 41.953
Thu nhập/khẩu/tháng 1000 đ 945 331 710
Tỉ lệ hộ nghèo % 2,70 30,44 13,33
Tỉ lệ hộ cận nghèo % 8,11 30,44 16,67
Tỉ lệ hộ trên nghèo % 89,19 39,13 70
(Nguồn: Phỏng vấn hộ, 2011)
22
Bảng 4.2 ở trên cho ta thấy đặc điểm của các hộ khảo sát tại thôn Thủy
Diên, xã Phú Xuân.
Cũng như các cộng đồng ven phá khác, đối với người dân thôn Thủy
Diện thì hoạt động sản xuất thuỷ sản là hoạt động sinh kế chính của hộ. Hoạt
động sản xuất thủy sản bao gồm nuôi trồng thủy sản và khai thác đánh bắt tự
nhiên.
Các hộ ở đây có hộ có ao, có hộ không có ao. Hộ không có ao thì
chuyên khai thác tự nhiên còn các hộ có ao thì có hộ chuyên nuôi trồng thuỷ
sản, cũng có hộ cả nuôi trồng và khai thác tự nhiên. Theo kết quả phỏng vấn
nông nghiệp/hộ là 0,16 và 0,09, bình quân chung là 1,13.
Khảo sát về tình trạng nhà ở của các hộ, ở thôn Thủy Diện mặc dù
không còn nhà tranh tre dột nát nhưng tỉ lệ nhà tạm còn khá nhiều. Những
ngôi nhà này được dựng bằng các cọc tre to hoặc cột bê tông trên mặt sông
trong thôn hoặc trên bãi cát, xung quanh được che bằng các tấm tồn, bên trên
lợp bằng tồn và sàn nhà là các thanh tre chẻ ra đóng lại. Nhà bán kiên cố là
những ngôi nhà có thể đã được xây nhưng mái ngói đã lâu, cũ và hư hỏng hết,
tường bị nứt nẻ, không có cửa…
Qua quá trình khảo sát thấy rằng giữa hai nhóm hộ thì nhóm hộ không
có ao có tỉ lệ nhà kiên cố thấp hơn so với nhóm hộ có ao, đối với nhóm họ có
ao trong 37 hộ khảo sát thì có 33 hộ có nhà ở thuộc loại kiên cố, chiếm tỉ lệ
89,19%, nhóm không có ao có 11/23 hộ có nhà kiên cố, chiếm tỉ lệ 47,83%,
bình quân trong 60 hộ thì có 44 ngôi nhà kiên cố chiếm 73,33%. Số hộ có nhà
thuộc loại bán kiên cố ở hai nhóm hộ có ao và không có ao bằng nhau, đều là
1 hộ nhưng số hộ ở mỗi nhóm khác nhau nên tỉ lệ khác nhau, ở nhóm có ao là
2,70%, nhóm không có ao là 3,35%, bình quân chung tỉ lệ nhà bán kiên cố
trong 60 hộ là 3,33%. Tỉ lệ nhà tạm trong thôn còn khá cao, đặc biệt ở nhóm
không có ao, trong 23 hộ thì có đến 11 hộ còn ở nhà tạm chiếm 47,83%, loại
nhà này ở nhóm có ao là 3 hộ/37 hộ chiếm 8,11%, bình quân chung trong 60
hộ khảo sát thì có 14 hộ ở nhà tạm, chiếm 23,33%. Những hộ sống trong nhà
tạm này chủ yếu là hộ nghèo hoặc cận nghèo, cũng có một vài hộ mới ra ở
riêng, không nghèo nhưng cũng chưa đủ điều kiện để xây nhà, trị giá những
ngôi nhà này chỉ khoảng 10 – 15 triệu đồng. Những ngôi nhà kiên cố có giá
trị từ 30 triệu đồng đến 100, hơn 100 triệu đồng, trong những ngôi nhà này
hầu hết là các hộ không nghèo, một số hộ nghèo là người già được con cháu,
anh em hỗ trợ xây nhà cho.
24
Đối với các loại tài sản khác, hầu hết các hộ đều đã có các phương tiện
cơ bản phục vụ sinh hoạt hằng ngày như bếp ga, nội điện, các phương tiện
thông tin đại chúng tivi, đài radio, phương tiện thông tin liên lạc như điện