MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
Trang 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 3
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1. Nguồn gốc và đặc điểm của Keo lưỡi liềm 3
2.2. Ảnh hưởng của chế độ nước đến sinh trưởng của thực vật 4
2.2.1. Vai trò của nước đối với thực vật 4
2.2.2. Cơ sở sinh lý của việc tưới nước hợp lý cho cây 5
2.2.3. Cân bằng nước trong cây 6
2.2.4. Một số đặc điểm sinh lý, sinh hóa liên quan đến khả năng chống chịu
7
2.2.5. Ý nghĩa sinh học của quá trình thoát hơi nước của thực vật 10
2.2.6. Đặc tính chịu nóng, chịu hạn của cây 11
2.2.6.1. Đặc tính chịu nóng 11
2.2.6.2. Đặc tính chịu hạn 12
2.3. Kĩ thuật gieo trồng Keo lưỡi liềm 16
2.3.1. Vườn ươm 16
2.3.2. Giống 17
2.3.3.Tạo bầu 17
2.3.4. Xử lý hạt giống 18
2.3.5. Thời vụ gieo 18
2.3.6. Gieo hạt và cấy cây 18
2.3.7. Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh 19
PHẦN 3: MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – PHẠM VI – NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1. Mục tiêu 21
3.2. Đối tượng nghiên cứu 21
3.3. Phạm vi nghiên cứu 21
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Đặc điểm thuỷ văn các sông lớn ở huyện Phong Điền 28
Bảng 4.2. Mức độ tổn thương lá do nhiệt độ của một số dòng keo lưỡi liềm 30
Bảng 4.3. Khả năng giữ nước và phục hồi sức trương của lá : 33
Bảng 4.4 . Cường độ thoát hơi nước của cây keo lưỡi liềm ở giai đoạn vườn
ươm. (I= g/dm2/h) 35
Bảng 4.5. Hế số héo của cây (%) 37
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, sản lượng gỗ lấy ra từ rừng tự nhiên còn ít trong khi nhu cầu sử
dụng các sản phẩm được chế biến từ gỗ của con người vẫn không ngừng tăng,
gỗ vẫn là nguồn nguyên liệu không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày.
Từ gỗ người ta có thể tạo ra nhiều vật dụng và các loại sản phẩm khác nhau
phục vụ cho sinh hoạt của con người nhờ công nghệ hiện đại mới. Chính vì
những lý do trên mà các nhà lâm nghiệp vẫn hàng ngày, hàng giờ tiếp tục tiến
hành các nghiên cứu nhằm chọn, tạo ra những giống mới có năng suất và chất
lượng cao đáp ứng nhu cầu trên. Cây keo là một trong những loài cây đang
được các nhà nghiên cứu quan tâm và hướng tới. Đây là loài cây đã được
xác định là thích hợp với điều kiện đất đai, khí hậu ở Việt Nam và có diện tích
gây trồng tương đối lớn trong các chương trình trồng rừng. Loài cây này có chu
kỳ kinh doanh ngắn, gỗ có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau như làm
giấy, ván dăm, ván sợi Cây keo là loài cây lá rộng, mọc nhanh, mọc được trên
nhiều loại đất, có biên độ sinh thái rộng, phù hợp cho trồng rừng trên quy mô
lớn. Ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất giấy, ván nhân
tạo, gỗ của loài cây này còn được sử dụng cho các mục đích khác như xây
dựng, đồ gỗ, trang trí nội thất, gỗ củi Đây cũng là loài cây có nốt sần chứa cả
Rhizobium và Bradyrhiobium, có khả năng tổng hợp nitơ tự do trong không khí
rất cao (Dart và các cộng sự, 1991), có khả năng thích ứng với nhiều điều kiện
khí hậu đất đai ở nước ta từ vùng cát ven biển tương đối khô hạn đến vùng núi
thấp dưới 400m ở Tây Nguyên.
Cây keo là một trong những loài cây đáp ứng được mục tiêu của trồng
học là Acacia crassicarpa hay Racosperma crassicarpum, thuộc họ Trinh nữ
(Mimosaceae). Cây thân gỗ có thể biến dạng từ thân bụi đến thân gỗ lớn tùy môi
trường sống.
Keo lá liềm (A. crasscicarpa) có nguồn gốc từ Australia, Papua New
Guinea và Indonesia, có phân bố ở vĩ độ 8 - 20
0
Nam, độ cao 5 - 200 m trên mặt
biển, lượng mưa 1000 -3500 mm/năm, gỗ có tỷ trọng 0,6 - 0,7 thích hợp cho xây
dựng, làm đồ mộc (Doran, Turnbull, et.al, 1997). Keo lá liềm là loài cây mới
được đưa vào trồng ở nước ta vào đầu những năm 1980, là loài có sinh trưởng
nhanh nhất trong các loài keo ở vùng thấp, có thể gây trồng trên đất cát nội đồng
có lên líp ở tỉnh ThừaThiên Huế, đồng thời có thể sinh trưởng trên các lập địa
đất đồi núi ở nhiều vùng trong cả nước. Vì vậy nghiên cứu chọn tạo giống keo lá
liềm trồng trên vùng đất cát là có cơ sở khoa học và thực tiển cao.
Theo Nguyễn Thị Liệu 2008. Keo lưỡi liềm là loài có triển vọng nhất trên
đất cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ. Đây là loài cây có khả năng thích nghi tốt
trên điều kiện khắc nghiệt của đất cát nội đồng. Chúng có khả năng sinh trưởng
tốt trên cát nội đồng úng ngập khi được lên líp, vừa thích hợp trong điều kiện cát
bay cục bộ vì nó có bộ rễ đặc biệt phát triển. Ngoài ra với bộ rễ phát triển, có
nhiều nốt sần và bộ tán lá dày, rụng lá nhiều nó có ưu thế trong việc cải tạo đất,
cải tạo môi trường.
Những đặc điểm chủ yếu:
Cây ưa sáng, thân thẳng, đâm nhiều cành nhánh, vỏ màu sẫm hay nâu
xám, nhiều vết nứt sâu. Rễ phát triển mạnh, có nhiều vi khuẩn cố định đạm cộng
sinh nên vừa có tác dụng bảo vệ và cải tạo đất rất tốt, đặc biệt là các vùng cát
trắng ven biển.
- Khí hậu: Độ cao thích hợp dưới 200m, cũng có thể trồng tới độ cao
700m so với mặt biển. Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1.000- 3.500mm,
mưa theo mùa hoặc mưa tập trung vào mùa hè, chịu được khô hạn, gió Lào…
Chịu nhiệt độ bình quân các tháng nóng nhất là 31-34
lượng nước còn phụ thuộc vào thời kỳ sinh trưởng của cây và điều kiện ngoại
cảnh mà cây sống. Tuy nhiên dù bất kỳ điều kiện hay đặc điểm nào thì trong cây
phải luôn luôn duy trì một hàm lượng nước tối thiểu phù hợp cho cơ quan đó.
Vai trò của nước thể hiện ở các mặt sau:
- Nước là thành phần cấu trúc tạo nên chất nguyên sinh ( > 90%).
- Nếu như hàm lượng nước giảm thì chất nguyên sinh từ trạng thái sol
chuyển thành gel và hoạt động sống của nó sẽ giảm sút .
- Các qúa trình trao đổi chất đều cần nước tham gia. Nước nhiều hay ít sẽ
ảnh hưởng đến chiều hướng và cường độ của qúa trình trao đổi chất.
- Nước là nguyên liệu tham gia vào một số qúa trình trao đổi chất.
- Sự vận chuyển các chất vô cơ và hữu cơ đều ở trong môi trường nước.
- Nước đảm bảo cho thực vật có một hình dạng và cấu trúc nhất định. Do
nước chiếm một lượng lớn trong tế bào thực vật, duy trì độ trương của tế bào
cho nên làm cho thực vật có một hình dáng nhất định.
- Nước nối liền cây với đất và khí quyển góp phần tích cực trong việc bảo
đảm mối liên hệ khăng khít sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường. Trong quá
trình trao đổi giữa cây và môi trường đất có sự tham gia tích cực của ion H
+
và
OH
–
do nước phân ly ra.
- Nước góp phần vào sự dẫn truyền xung động các dòng điện sinh học ở
trong cây khiến chúng phản ứng mau lẹ không kém một số thực vật bậc thấp
dưới ảnh hưởng của tác nhân kích thích của ngoại cảnh.
4
- Nước có một số tính chất hóa lý đặc biệt như tính dẫn nhiệt cao, có lợi
cho thực vật phát tán và duy trì nhiệt lượng trong cây. Nước có sức căng bề mặt
lớn nên có lợi cho việc hấp thụ và vận chuyển vật chất. Nước có thể cho tia tử
Chúng ta cần giải quyết 3 mặt sau đây để nâng cao sản lượng cây trồng:
- Tưới nước để tăng cường hoạt động sinh lý của cây (nước là môi trường
và là chất tham gia phản ứng).
- Tưới nước và rút nước nhằm cải tạo điều kiện sống của thực vật, nhằm
tăng khả năng giữ nước, giữ nhiệt độ và điều hòa không khí trong đất.
5
- Tưới nước và rút nước nhằm khống chế quá trình sinh trưởng của cây, điều
tiết mối quan hệ giữa các bộ phận nhằm đạt đến kết cấu hợp lý quần thể cây trồng.
Cho nên, cung cấp nước cho cây theo nhu cầu sinh lý của chúng ta là hợp
lý nhất. Vậy thì tưới nước vào lúc nào tốt nhất? Tưới trong suốt quá trình sống
của cây. Nhưng thiếu nước thì gây tác hại nặng nhất là thời kỳ khủng hoảng
nước.
Đối với cây hòa thảo thường bắt đầu từ lúc đẻ nhánh đế trỗ bông và từ kgi
ngậm nước đế cuối chín sữa. Nói chung, trong nhiều cây trồng thời kỳ khủng
hoảng nước ở vào giai đoạn ra hoa.
Về liều lượng tưới nước và số lần tưới nước thì tùy theo nhu cầu về nước
của từng cây, tùy theo thành phần cơ giới và hóa tính của đất. Ví dụ đất cát thì
cần tưới nhiều lần, đất mặn thì lượng nước tưới vào không phải chỉ để cho cây
hút mà cần phải tưới lượng nước nhiều hơn so với yêu cầu của cây vì cần số
nước để rửa mặn nữa.
Về phương pháp tưới thì có nhiều cách: tưới ngập như những cây lúa
nước chẳng hạn, tưới theo rãnh đối với các cây hoa màu, tưới mưa nhân tạo
(tưới phun) đối với những vùng đất có nền đáy rỗng không giữ được nước, ví dụ
như vùng đất đỏ badan – nơi trồng tiêu ở vùng Tân Lâm, Quảng Trị.
2.2.3. Cân bằng nước trong cây
Trước đây nhiều tác giả ( Condo, Vaxilev, Loftfield…) xem sự chuyển
động khí khổng là nhân tố điều tiết chính của quá trình thoát hơi nước. Một số
khác thì hoàn toàn phủ nhận ý kiến đó ( Naito, 1923; Cokinna;1927; Lloyd,
1908; Vante,1934…). Song nhiều sự kiện không thể phủ nhận tác động điều tiết
của bộ máy khí khổng đối với quá trình thoát hơi nước. Sự khép kín vi khẩu
Thực tiễn phong phú đã cho thấy sự tai hại nhiều mặt và sâu sắc của hiện
tượng mất cân bằng nước dẫu chỉ nhất thời đối với cây. Đúng như Macximov đã
nói: “hạn hán dầu tính chất nhất thời cũng không phải đi qua mà không để lại
dấu vết gì cho cây”.
Theo tài liệu thống kê ở Nhật Bản, 1km
2
đồng ruộng được tưới nước
đầy đủ có thể nuôi 2000 người, trong khi 1km
2
ở nơi không có nước chỉ nuôi
sống được 20 người.
Bởi vậy để đảm bảo năng suất cây trồng, chúng ta phải đặc biệt quan tâm
đến việc cung cấp nước kịp thời cho cây trồng trong suốt thời kỳ dinh dưỡng
bằng cách tưới tiêu hợp lý.
2.2.4. Một số đặc điểm sinh lý, sinh hóa liên quan đến khả năng chống chịu
Điều kiện môi trường thay đổi một cách có chu kỳ và ngẫu nhiên, trong
đó có những biến động quá mức thuận lợi đối với đời sống của cây trồng, nhiều
khi nguy hiểm và thậm chí gây chết cây.
Để tồn tại, cây đã có những thích ứng khác nhau đối với điều kiện không
thuận lợi của môi trường. Mức độ thích ứng được những tác động những tác
động không thuận lợi ở những loài cây khác nhau hay ở cùng một loài cây
nhưng ở các điều kiện sống khác nhau không giống nhau. Ở những thời kỳ sinh
trưởng và phát triển khác nhau của cá thể mức độ thể hiện khả năng chống chịu
điều kiện không thuận lợi của ngoại cảnh có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
sinh thái học và trồng rừng.
Nghiên cứu khả năng chống chịu của cây trồng với một số điều kiện
không thuận lợi của ngoại cảnh thong qua các chỉ tiêu sinh lý sau.
7
- Hàm lượng nước liên kết- nước tự do:
Nước là thành phần cơ bản của cơ thể thực vật. Nó góp phần quan trọng
Thoát hơi là khả sự mất nước từ bề mặt là qua hệ thống khí khổng là chủ
yếu và một phần từ thân, cành. Quá trình thoát hơi nước có ý nghĩa lớn đối với
thực vật.
- Là động lực trên và chủ động lực chủ yếu của quá trình hút và vận
chuyển nước, tạo dòng nước liên tục từ rễ lên lá. Đồng thời, cùng với dòng
nước, các chất khoáng và các chất cần thiết được rễ hút lên cho cây sử dụng.
8
- Là phương thức quan trọng nhất để bảo vệ lá cây tránh được sự đốt
nóng của ánh sáng mặt trời.
- Còn tạo ra một độ thiếu bão hòa nước nhất định, tạo điều kiện cho quá
trình trao đổi chất diển ra mạnh mẽ, thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Trong điều kiện khô cạn của môi trường, cường độ thoát hơi nước diễn ra
mạnh làm cho cây cũng thiếu hụt nước. Những cây nào có khả năng giữ nước và
phục hồi sức trương của lá mạnh thì sẽ chống chịu tốt với những thay đổi khắc
nghiệt của môi trường.
Nguyên lý của việc xác định khả năng giữ nước và phục hồi sức trương:
mức độ chịu héo của lá ở phần lớn các loài cây trùng với tính chịu hạn của toàn
cây. Điều đó cho phép đánh giá khả năng chịu hạn của cây theo mức độ chịu héo
của lá.
Dựa vào khả năng giữ nước của mô lá và khả năng phục hồi lại áp suất
nước sau khi héo của lá cắt rời người ta đánh giá khả năng chịu hạn của các loài
cây khác nhau.
- Hàm lượng sắc tố
Hệ sắc tố trong cây xanh giữ vai trò chính là hút ánh sáng mặt trời dùng
làm nguồn năng lượng cho quá trình quang hợp.
Sắc tố của lá đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng khí của thực vật.
Nó không chỉ gồm một loại sắc tố mà là một hỗn hợp các sắc tố khác nhau, mỗi
loại đảm nhiệm một chức năng khác nhau trong quang hợp. Do đó hàm lượng tỷ
lệ và tính chất của từng loại sắc tố có ảnh hưởng đến quá trình sống của cây và
sản phẩm đồng hóa.
Quá trình thoát hơi nước trước hết là “cái họa tất yếu” của cây thực hiện
qua các khí khổng, ở miền mạch lỗ vỏ… Nước thoát ra ngoài cơ thể thực vật
theo hai hình thức: thực hiện dưới dạng dung dịch đó là hiện tượng ứ giọt, hình
thức thứ hai dưới dạng hơi,đó là quá trình thoát hơi nước. Tính trung bình 1000g
nước cũng chỉ dành để đồng hóa 2g để tọa ra chừng 3g chất hữu cơ. Lượng nước
hút vào và thoát ra vượt quá nhiều lượng nước tối thiểu cần cho cây.Trong suốt
chu kỳ sinh trưởng mỗi ha ngô bốc hơi 8000 tấn nước (200kg x 40.000 cây ),
nghĩa là số lượng nước cần gần 1m
3
nước/1m
2
đất.
Mặc dầu thế cây không ngừng thoát hơi nước bằng cách đóng khí khổng
được. Bởi vì quá trình thoát hơi nước là một quá trình sinh lý cần thiết của cơ
thể. Hơn nữa thoát hơi nước là động cơ trên để hút nước lên cao. Ở cây gỗ lực
hút của nước có thể đạt tới 100atm.
Thoát hơi nước là quá trình chống sự đốt cháy lá. Cây xanh trong quá
trình quang hợp hút năng lượng ánh sáng mặt trời, năng lượng này một phần
dành cho quang hợp, một phần thải ra dưới dạng nhiệt,làm tăng nhiệt độ.Nhờ có
quá trình thoát hơi nước đã làm giảm nhiệt độ đốt nóng đó. Do đó các hoạt động
khác không bị rối loạn nhất là các hệ enzyme tổng hợp chất hữu cơ. Người thấy
rằng các lá héo, sự thoát hơi nước chậm,thường có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ ở
lá bình thường khoảng 4-6C.
Thoát hơi nước còn duy trì độ bão nước trong các tầng của thực vật, duy trì
được đặc tính chất nguyên sinh bỏa đảm cho cơ thể được hoạt động bình thường.
Tóm lại, thoát hơi nước là sự thiệt hại cần thiết đối với cây trong quá
trình sống.
10
2.2.6. Đặc tính chịu nóng, chịu hạn của cây
Chính sự có mặt và phồn thịnh của sinh vật ở một nơi nào đó, thường phụ
hô hấp tối và quang hô hấp đều tăng cùng
sự tăng nhiệt độ.
Nhiệt độ cao làm giảm tính bền vững của màng và protein. Khi nhiệt độ
cao tính lỏng quá cao làm thay đổi cấu trúc của màng làm cho màng mất các
chức năng sinh lý, để ngoại thấm các ion ra ngoại bào.
Nhiệt độ cao kích thích quá trình phân huỷ các chất, đặc biệt là protein.
Khi protein bị phân huỷ mạnh sản phẩm tích tụ nhiều trong tế bào là NH
3
gây
độc cho tế bào. Nhiệt độ cao cũng làm giảm lượng axit hữu cơ và nhiều hợp chất
hữu cơ quan trọng khác do bị phân huỷ.
Đặc biệt là nhiệt độ cao làm cho hô hấp mạnh nhưng sự tích luỹ năng
lượng vào ATP qua quá trình photphoryl hoá bị hạn chế nên phần lớn nhiệt thải
ra trong hô hấp ở dạng nhiệt làm tăng nhiệt nội bào làm cho tế bào bị tổn thương
và có thể bị chết.
a. Đặc tính chịu stress nhiệt độ cao của cây.
Thực vật có khả năng chịu nhiệt độ cao nhất định. Giới hạn nhiệt độ cho
hoạt động sống bình thường của thực vật là vùng nhiệt độ sinh lý. Những cây có
khả năng thích nghi với ngưỡng nhiệt độ cao hơn là những cây chịu nhiệt độ cao.
11
Có nhiều kiểu phản ứng tự vệ đặc trưng để thích ứng với điều kiện nhiệt
độ cao. Mỗi nhóm cây có hình thức thích nghi đặc trưng với nhiệt độ cao.
Đối với cây hạn sinh chịu nóng thì hình thức phổ biến là tăng cường quá
trình thoát hơi nước kèm theo tăng hút nước để điều hoà nội nhiệt của cơ thể.
Với cây mọng nước có độ nhớt nguyên sinh chất rất cao nên khả năng chịu nóng
cao. Nhiều nhóm cây chịu nóng nhờ thay đổi đặc tính về cấu trúc nguyên sinh
chất, thành phần nguyên sinh chất. Các nhóm cây có hàm lượng các phức hợp
nucleoprotein, lipoprotein cao và bền vững giúp cho cây chịu được nhiệt độ cao.
Đặc biệt ở nhóm cây này khả năng tổng hợp loại protein sốc nhiệt (HSP
s
trong môi trường do nhiệt độ thấp, do nồng độ dung dịch môi trường quá cao
Khi hạn hán cây bị stress nước dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng:
- Gây nên hiện tượng co nguyên sinh và làm cho cây bị héo. Sự co nguyên
12
sinh các tế bào diễn ra khi nồng độ nước trong môi trường quá cao hay do stress
nước làm cho nước trong tế bào thất thoát ra ngoài nên khối nguyên sinh chất
của tế bào co lại, thể tích không bào thu hẹp.
- Khi môi trường thiếu nước kéo dài, tế bào mất nước không bào co lại,
mô trở nên mềm yếu và sự héo xảy ra. Sự héo tạm thời nhưng cũng có thể vĩnh
viễn nếu sự thiếu nước nghiêm trọng và kéo dài.
- Hạn hán cản trở sự vận chuyển nước trong mạch gỗ. Khi thiếu nước do
hạn hán sự cung cấp nước cho rễ không đủ trong đêm để thủy hoá các mô đã bị
thiếu nước ban ngày, các lông hút bị tổn thương lớp ngoài vùng vỏ bị phủ
suberin đã làm giảm áp suất rễ để đẩy cột nước lên trong mạch gỗ. Đặc biệt
khi thiếu nước sẽ hình thành nhiều bọt khí trong mạch gỗ phá vỡ tính liên tục
của cột nước nên cột nước trong mạch gỗ không được đẩy lên liên tục.
- Hạn hán làm dày lớp cutin trên bề mặt lá làm giảm sự thoát hơi nước qua
biểu bì.
- Hạn hán làm giảm mạnh quang hợp. Sự thiếu nước làm giảm cường độ
quang hợp. Khi hàm lượng nước trong lá còn khoảng 40-50% quang hợp của lá
bị đình trệ.
- Hạn hán cản trở sự sinh trưởng của cây. Do thiếu nứơc ảnh hưởng đến
các hoạt động sinh lý nhất là quang hợp, nên làm giảm sinh trưởng, cây chậm
lớn, năng suất giảm sút.
b. Tính chịu hạn của cây.
Có nhiều hình thức thức nghi với điều kiện hạn hán và chịu đựng Stress
nước khác nhau:
- Giảm bề mặt lá và giảm thoát hơi nước. Thiếu nước làm sinh trưởng lá
chậm lại. Bề mặt lá thu hẹp. Sự thu hẹp đó lại thích nghi với điều kiện thiếu
nước. Stress nước còn làm đóng khí khổng qua tác dụng của axit abxixic và kích
trong môi trường khô hạn. Nhóm cây trung sinh sông trong môi trường có độ ẩm
thích hợp, nếu thiếu nước nhóm cây này sinh trưởng phát triển chậm. Nhóm cây
hạn sinh có những đặc điểm thích nghi với môi trường khô hạn.
Trong nhóm cây hạn sinh có 4 hình thức chịu hạn khác nhau:
- Cây mọng nước (xuculen): Đây là nhóm cây vừa chịu hạn vừa chịu nóng
rất cao, có thể sống trong vùng có khí hậu khô nóng kéo dài. Hình thức thích
nghi với hạn hán của nhóm cây này là tiêu giảm lá, rễ cây lan rộng, dự trữ nước
trong cây, lớp cuticum trên lá dày giảm THN, độ nhớt cao và sử dụng nước tiết
kiệm. Một số cây chỉ mở khí khổng vào đêm (cây CAM).
- Cây nửa hạn sinh (hemi xerophit): Đây là nhóm cây chịu hạn trung bình.
đặc điểm chính của nhóm cây này là bộ rễ phát triển để hút nước mạnh. Thoát
hơi nước cũng xảy ra mạnh. Độ nhớt không cao.
- Cây hạn sinh thực: là nhóm cây có khả năng chịu hạn cao. Cây hạn sinh
thực có độ nhớt Nguyên sinh chất cao, áp suất thẩm thấu cao, tính đàn hồi của
nguyên sinh chất cao, quá trình thoát hơi nước yếu. Sử dụng nước tiết kiệm là
những đặc điểm giúp nhóm cây này chịu hạn tốt.
- Cây không điều tiết chế độ nước: Đây là nhóm thực vật có lối sống đặc
biệt thích nghi với chế độ nước trong môi trường. Khi khô hạn nhóm thực vật
này sống ở trạng thái tiềm sinh hay sống ngầm. Khi gặp mưa môi trường đủ
nước chúng tiến hành mọi quá trình sinh trưởng, phát triển mạnh mẽ và nhanh
chóng kết thúc vòng đời.
d. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng chịu hạn.
Cường độ thoát hơi nước, khả năng giữ nước và phục hồi sức trương, hệ
số héo là 3 chỉ tiêu quan trọng để xem xét khả năng chịu hạn của thực vật.
- Khả năng giữ nước và phục hồi sức trương.
14
Khi héo, hô hấp tăng cường nhưng không có hiệu suất, cường độ quang
hợp giảm. Lượng nước mất đi đến một mức độ nhất định thì quá trình quang hợp
và hô hấp bị phá hủy.
Thiếu nước ít hơn 10% là hiện tượng bình thường, không gây hại gì cho
phẫu, đặc điểm sinh lý đặc trưng của cây chịu hạn: như cường độ thoát hơi
nước, sức hút nước của tế bào, độ thiếu nước của cây, khả năng chịu héo của
lá Cuối cùng một chỉ tiêu rất quan trọng để xác định khả năng chịu hạn của
cây trồng đó là năng suất của cây khi gặp hạn hán. Nên gặp điều kiện hạn hán
mà cây vẫn sinh trưởng phát triển tốt nên năng suất vẫn bình thường gần như khi
không bị hạn thì cây đó có khả năng thích nghi với hạn cao, có thể chọn là giống
cây chịu hạn.
Ngoài phương pháp xác định gián tiếp trên thì phương pháp trực tiếp hỏi
khả năng chịu hạn của cây là phương pháp cơ bản. Đó là việc xác định các chỉ
tiêu liên quan trực tiếp đến khả năng chịu hạn của cây như độ nhớt của nguyên
sinh chất, hàm lượng nước liên kết trong tế bào , tính đàn hồi của nguyên sinh
chất, khả năng giữ nước của nguyên sinh chất, khả năng duy trì các hoạt động
15
sinh lý, trao đổi chất khi gặp hạn hán. Dựa vào những chỉ tiêu liên quan trực
tiếp, quyết định khả năng chịu hạn của cây đó để xác điịnh mức độ chịu hạn của
cây, từ đó có biện pháp xử lý thích hợp.
Để nâng cao năng suất cây trồng trong điều kiện hạn hán. Sau khi xác
định khả năng chịu hạn của cây, việc nâng cao khả năng chịu hạn của cây là biện
pháp cần thiết. Có nhiều biện pháp nâng cao khả năng chịu hạn của cây:
- Rèn luyện hạt giống trước khi gieo là biện pháp có hiệu quả cao nhất.
Bằng cách ngâm hạt giống xen kẽ với phôi khô hạt nhiều lần trước khi gieo đã
rèn luyện cho phôi làm quen với điều kiện thiếu nước tức là thích nghi với stress
nước ngay giai đoạn phôi. Bằng biện pháp này nhiều biến đổi về tinh chất
nguyên sinh chất, về quá trình trao đổi chất và hoạt động sinh lý của cây đã xảy
ra theo chiều hướng thích nghi điều kiện hạn nên đã tạo ra cây có khả năng chịu
hạn cao.
- Chọn giống cây chịu hạn là biện pháp quan trọng. Dựa vào những nhóm
cây chịu hạn có sẵn để chọn lọc những nhóm thích hợp với điều kiện của các
vùng địa lý khác nhau. Bằng biện pháp này ta có thể tạo nên cơ cấu cây trồng hợp
lý cho từng vùng sinh thái khác nhau, đảm bảo chủ động đối phó với hạn hán.
Hạt mua về nên tiến hành gieo ươm ngay để đạt chất lượng gieo ươm cao.
Trường hợp cần bảo quản, có thể áp dụng phương pháp bảp quản khô:
- Sau khi hạt đã phơi khô, độ ẩm của hạt đưa vào bảo quản từ 7 - 8%.
- Hạt đựng trong chum vại hoặc lọ thuỷ tinh có nút kín, sau đó được cất trữ
nơi thoáng mát.
- Kiểu bảo quản này tỷ lệ nảy mầm có thể suy giảm từ 20 - 30%.
2.3.3.Tạo bầu
a.Vỏ bầu.
- Loại vỏ bầu PE mầu trắng đục hoặc đen, bảo đảm độ bền, dai để khi
đóng bầu hoặc qúa trình tạo cây trong vườn cũng như khi vận chuyển không bị
hư hỏng.
- Kích thước bầu: 7x11cm. Bầu không đáy và đục lỗ xung quanh. Không
dùng bầu có đáy hoặc cắt góc đáy.
b. Thành phần hỗn hợp ruột bầu.
- Phân chuồng ủ hoai: 10%.
- Supe lân Lâm thao: 2%.
- Đất tầng A dưới tán rừng : 88%.
Yêu cầu phân chuồng:
- Phân phải qua ủ hoai.
- Phân khô.
Yêu cầu phân Lân:
- NPK: Hàm lượng P2O5 dễ tiêu đạt tỷ lệ 14%
Yêu cầu đất rừng tầng A:
- Có hàm lượng mùn 3%
17
- Độ pH(KCL): 5.0 - 6.0 .
- Thành phần cơ giới: thịt nhẹ, pha cát (sét vật lí 20-30%).
Tuyệt đối không được gieo "Chay", không có phân chuồng hoặc dùng đất
tầng B sau đó bón thúc phân vô cơ (đạm lá).
c. Vào bầu :
30% đem gieo (tránh để nanh quá dài khi gieo có thể bị gẫy mầm).
- Trong suốt thời gian ủ hạt phải giữ nhiệt độ 30 - 40
0
C.
2.3.5. Thời vụ gieo
- Gieo hạt để trồng cây vụ Xuân:Tháng 10 - 12 .
- Gieo hạt để trồng cây vụ Thu: Tháng 3 - 4.
2.3.6. Gieo hạt và cấy cây
a. Gieo hạt nứt nanh trực tiếp vào bầu:
- Tạo 1 lỗ sâu 0.3 - 0.5cm giữa bầu và gieo 1 - 2 hạt đã nứt nanh, sau đó
phủ lớp đất mỏng từ 3 - 5mm
18
- Dùng rơm rạ đã qua khử trùng bằng cách ngâm trong nước vôi phủ trên
mặt luống.
- Thường xuyên tưới nước giữ độ ẩm cho đất.
- Khi cây mầm đội mũ, cần dỡ bỏ rơm rạ và tạo dàn che tránh nắng.
b. Cấy cây mầm vào bầu:
- Để tiết kiệm hạt và tạo độ đồng đều, gieo hạt trên luống, sau đó cấy cây
mầm vào bầu.
- Hạt gieo theo hàng hoặc gieo vãi. Số hạt gieo: 1kg/15 - 20m
2
.
- Gieo gieo xong phủ lớp đất mịn dày không quá 4mm, sau đó phủ rơm rạ
trên mặt luống. Rơm rạ để phủ cần được khử trùng bằng nước vôi.
- Thường xuyên giữ độ ẩm trong đất. Tưới 6 lít nước cho 1m
2
.
- Cấy cây mầm khi chưa có lá thật (còn lá kép lông chim) thường đạt tỷ lệ
sống cao nhất.
- Chỉ tiến hành cấy cây khi trời râm mát hoặc mưa nhẹ, tránh những ngày
làm cỏ, kết hợp phá váng 1 lần.
- Dùng que vót nhọn xới nhẹ phá lớp váng tạo trên mặt bầu, tránh không
làm hư tổn đến bộ rễ cây
d. Bón thúc.
- Có thể bón thúc để thúc đẩy sinh trưởng của cây con, trong trường hợp
dinh dưỡng ruột bầu không bảo đảm hoặc vào những giai đoạn thời tiết không
thuận lợi như rét đậm, sương muối Cứ 15 - 20 ngày thúc 1 lần.
- Dùng loại phân hỗn hợp N:P:K = 25:58:17 với nồng độ 2 - 3% tưới 2
lít/m
2
. Hoặc dùng phân Supe Lân Lâm thao khi cây có biểu hiện tím lá: 2kg bón
cho 1000 bầu chia làm 6 lần (Mỗi lần bón 0.170kg/1000bầu. Hoà phân với nồng
độ 0,5% (1kg phân/200 lít nước). Tưới dung dịch nước phân bằng bình hương
sen. Sau khi tưới phân phải tưới rửa bằng nước lã.
- Không tưới thúc vào những ngày nắng gắt, vào lúc buổi trưa nắng. Tốt
nhất nên bón vào những ngày râm mát hoặc mưa phùn.
e. Phòng trừ sâu bệnh.
- Bệnh thối cổ rễ.
+ Thường xuyên kiểm tra tình hình sâu bệnh, nếu phát hiện bệnh lở cổ rễ
dùng Benlát 0,5%. Liều lượng: 1 lít/24m
2
. Cứ 7 - 10 ngày phun 1 lần.
+ Khi bệnh xuất hiện có triệu chứng: Cổ rễ cây bị thối nhũn làm cây con bị
chết. Bệnh thường xuất hiện ở cây con 1 tháng tuổi.
Bệnh nấm mốc trắng.
Ngoài thuốc Benlát, có thể dùng hỗn hợp lưu huỳnh vôi nồng độ 3 - 5 ppm
phun 1 lít/24m
2
định kì 10 - 15 ngày/lần.
- Bệnh lí thiếu dinh dưỡng khoáng.
Bộ: Leguminosales (Bộ đậu)
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Một số tiêu chí sinh lý như cường độ thoát hơi nước, hệ số héo được tiến
hành tại phòng thí nghiệm Bộ môn Lâm sinh – Khoa Lâm nghiệp.
- Chỉ nghiên cứu cây keo lưỡi liềm ở giai đoạn vườn ươm 4- 5 tháng tuổi.
3.4. Nội dung nghiên cứu
3.4.1. Tìm hiểu hoạt động của vườn ươm Lâm trường Phong Điền
- Tình hình tại địa điểm nghiên cứu.
- Một số điều kiện tự nhiên của địa điểm nghiên cứu.
3.4.2. Nghiên cứu một số chỉ tiêu liên quan đến khả năng chịu nóng chịu
hạn ở cây keo lưỡi liềm giai đoạn vườn ươm
a. Khả năng chịu nóng.
- Mức độ tổn thương lá do nhiệt độ.
b. Khả năng chịu hạn.
- Khả năng giữ nước và phục hồi sức trương.
- Cường độ thoát hơi nước.
- Hệ số héo của lá.
21
3.5. Phương pháp nghiên cứu
3.5.1. Phương pháp thu thập số liệu
3.5.1.1. Xác định khả năng chịu nóng theo phương pháp của Maxcốp
Chọn những lá cùng tầng về một hướng, có hình thái gần giống nhau và
không bị tổn thương. Mỗi lần thí nghiệm 3-5 lá .
Cho vào cốc đựng nước nóng ở các nhiệt độ 40, 45, 50, 55, 60
0
C. Sau 30
phút lấy ra và quan sát sự biến đổi của lá, xuất hiện những dấu thâm. Tùy thuộc
vào khả năng chịu nóng của từng loài mà dấu thâm nhiều hay ít, rộng hay hẹp.
3.5.1.2. Xác định khả năng giữ nước và phục hồi sức trương của lá
- Lượng nước mất đi của lá là: (% so với lượng nước ban đầu):
A =
P1
P2P1−
x 100%
- Lượng nước lá hút lại là: (% so với lượng nước trong lá )
B =
P1
P2P3 −
x 100%
Kết quả ghi vào bảng
Lần lặp Lượng nước mất đi Lượng nước hút lại
Lần 1
Lần 2
Lần 3
Trung bình
22