PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Mở đầu
Việt Nam đang đẩy mạnh cho việc thực hiện các nhiệm vụ của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với xu hướng giảm tỷ trọng trong nông nghiệp
và tăng dần tỷ trọng trong công nghiệp, dịch vụ và xây dựng, nhưng giá trị của các
ngành đều tăng. Trong đó nông nghiệp là một mặt trận hàng đầu đảm bảo cho quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phát triển và bền vững. Trong nông
nghiệp trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành quan trọng nhất có đóng góp rất lớn cho
xã hội như: Cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp đặc biệt
là công nghiệp chế biến, công nghiệp thực phẩm…góp phần tạo công ăn việc làm,
xóa đói giảm nghèo. Mặt khác trồng trọt và chăn nuôi có mối quan hệ hết sức chặt
chẽ tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình phát triển. Sản xuất trồng trọt cung
cấp thức ăn cho chăn nuôi, ngược lại chăn nuôi cung cấp phân bón, sức kéo cho
trồng trọt. Do vậy cần phát triển cân đối cả trồng trọt và chăn nuôi.
Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn là phát triển nông nghiệp với năng suất và chất
lượng cao, đưa nông thôn nước ta phát triển nhanh mạnh, vững chắc, đủ sức cạnh
tranh với hàng hóa của các nước trong khu vực và trên thế giới. Đảng và nhà nước
đã chủ trương thành lập và đưa hoạt động khuyến nông xuống tận cơ sở. Một nhân
tố quan trọng có vai trò làm cầu nối giữa nhà nghiên cứu với nông dân và nhiều vai
trò khác trong nông nghiệp và phát triển nông thôn. Từ khi ra đời cho tới nay hệ
thống khuyến nông đã hoạt động mạnh mẽ và bước đầu đã đạt được nhữnh thành
tựu đáng kể. Bên cạnh những thành tựu đạt được hệ thống khuyến nông vẫn còn
những tồn tại và khó khăn nhất định, mà nguyên nhân chủ yếu là do mới thành lập
hơn 10 năm trong khi đó hoạt động khuyến nông rất đa dạng và phong phú trong
nông nghiệp và phát triển nông thôn. Vì vậy những khó khăn về quản lý, nguồn
nhân lực và kinh phí là không thể tránh khỏi.
Hoạt động phát triển nông thôn mang tính chất liên ngành cần có sự phối hợp
chặt chẽ, ăn ý của các bên liên quan, trong đó hệ thống khuyến nông là một mắt
xích quan trọng trong mối liên kết đó. Vì vật bất kỳ một sự chuyển biến nào trong
phát triển nông thôn thì vai trò của khuyến nông là hết sức quan trọng. Đặt biệt là
vai trò trong phát triển hệ thống cây trồng vật nuôi, đã góp phần xóa đói giảm
ký sớm với số lượng lớn (Philippines, Indonesia, Nhật Bản), giá lúa tăng cao, giá cà
phê, cao su tăng đột biến. Được sự chỉ đạo điều hành sát sao của chính phủ, các
cấp, các ngành, đặc biệt là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sự nổ lực của
các doanh nghiệp và bà con nông dân nên kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp năm
2006 vẫn đạt cao hơn so với năm 2005. Tuy nhiên những mặt yếu kém, hạn chế và
vấn đề đặt ra trong nông nghiệp năm 2006 vẫn còn nhiều.
2
1.2.1. Những kết quả đạt được
Vượt qua khó khăn, sản xuất nông nghiệp vẫn tiếp tục tăng trưởng khá so
với năm 2005. Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2006 ước tăng 3,1%, trong đó
trồng trọt tăng 1,9%, chăn nuôi tăng 7,7%, lâm nghhiệp tăng 1,2% và dịch vụ tăng
2,7% so với năm 2005. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 7,16 tỷ USD tăng 19,7% so
với 2005.
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa, sản lượng lương thực có hạt và
lương thực bình quân nhân khẩu, cả năm 2006
(Đơn vị tính: DT.1000ha, Năng suất tạ/ha, SL 1000 tấn).
Chỉ tiêu 2006 2005 2006/2005
Diện tích lúa 7.322,3 7.3292 -6,9
Năng suất bình
quân/ vụ
48,94 35.832,9
+0,05
Sản lượng lúa 35.833,6 -0,4
Sản lượng lương
thực có hạt
39.648,2 39.621,6 +26,6
Lương thực bình
quân nhân khẩu
426,5 475,8 -49,3
(Nguồn: Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn-kỳ1-tháng 1/2007)
giảm 2,1 tạ/ha,… do bệnh rầy nâu và vàng lùn-lùn xoắn lá lan rộng nhất là vụ hè
thu muộn/vụ 3. Sản lượng lúa hè thu ước đạt 9,72 triệu tấn, giảm 6,9% (717,7
nghìn tấn) so với năm 2005, trong đó miền Bắc tăng 86 nghìn tấn (+13,3%), miền
Nam giảm 803 nghìn tấn (-8,8%). Đáng quan tâm là sản lượng lúa hè thu của vùng
ĐBSCL chỉ đạt 7,8 triệu tấn giảm 990,2 nghìn tấn so với vụ hè thu năm 2005. Các
tỉnh có sản lượng lúa hè thu giảm nhiều nhất là: An Giang 279 nghìn tấn, Kiên
Giang 207 nghìn tấn, Đồng Tháp 181 nghìn tấn, Long An 89 nghìn tấn, Bạc Liêu
54 nghìn tấn. Sản lượng lúa hè thu Duyên hải Nam Trung Bộ tăng 169 nghìn tấn,
nên đã bù đắp lại một phần sản lượng lúa hè thu, nhất là vụ 3 ở Đồng Bằng Sông
Cửu Long,…
Diện tích lúa mùa cả nước đạt 2011 nghìn ha, giảm 26 nghìn ha so với năm
2005, trong đó miền Bắc gieo cấy 1205 nghìn ha, giảm 11,6 nghìn ha chủ yếu do
Đồng bằng Sông Hồng chuyển sang đất chuyên dùng và nuôi thuỷ sản (giảm 8,2
nghìn ha). Miền Nam gieo sạ 806 nghìn ha, giảm 14,8 nghìn ha chủ yếu do chuyển
sang lúa Đông xuân ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long (giảm 8,9 nghìn ha) và
Đông Nam Bộ (giảm 10,4 nghìn ha).
Năng suất lúa mùa đạt 42,7 tạ/ha, tăng 3,2 tạ/ha so với cùng kỳ năm 2005;
sản lượng ước đạt 8,6 nghìn tấn, tăng 530 nghìn tấn (+6,6%) do năng suất lúa mùa
tăng cao ở cả hai miền (miền Bắc đạt 46,4 tạ/ha, tăng 4,9 tạ/ha; miền Nam đạt 32
tạ/ha, tăng 0.6 tạ/ha).
Năng suất lúa mùa Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đều tăng nhẹ
do nguồn nước được đảm bảo (Bình Định tăng 5,6 tạ/ha, Quãng Ngãi tăng 1,2
tạ/ha, Gia Lai tăng 2,8 tạ/ha, Đắc Lắc tăng 4,8 tạ/ha), riêng các tỉnh Đông Nam Bộ
4
do ảnh hưởng của sâu bệnh nên đều giảm diện tích (-10,04 nghìn ha), năng suất (-
0,9tạ/ha) và sản lượng (-53,2 nghìn tấn).
Diện tích gieo trồng ngô đạt 1033 nghìn ha, giảm 19,7 nghìn ha so với cùng
kỳ năm 2005 do giảm ở vụ đông Miền Bắc (-10 nghìn ha) và vùng Tây Nguyên (-
24 nghìn ha); năng suất đạt 36,9 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha; sản lượng đạt 3,81 triệu tấn,
giảm 26,8 nghìn tấn và bằng 100,7% so với năm 2005. Nguyên nhân giảm diện tích
tổng đàn bò sữa cả nước). Đàn lợn đạt 26,9 triệu con, tăng 3% so cùng kỳ năm
2005; trong đó đàn nái 4,338 triệu con tăng 11,7%, chiếm 16,1% tổng đàn. Xu
hướng chung trong chăn nuôi lợn là số hộ nuôi quy mô lớn tăng và áp dụng KHKT
trong chăn nuôi, đầu tư nuôi thâm canh để tăng vòng quay. Đàn gia cầm đạt
214,564 triệu con bằng 97,6% so cùng kỳ năm 2005 do người dân vẫn còn lo ngại
dịch cúm gia cầm quay trở lại và bùng phát nên chưa đầu tư để khôi phục đàn,
trong đó đàn gà đạt 151,98 triệu con, bằng 95%.
Dịch cúm gia cầm không phát sinh thêm ổ dịch mới kể từ đầu năm đến
tháng 12/2006, được quốc tế đánh giá cao. Đến 20/11/2006 có 63/64 tỉnh, thành đã
triển khai tiêm phòng bổ sung vacxin phòng cúm gia cầm đợt 2 năm 2006 với hơn
136,4 triệu con, trong đó có 23 tỉnh hoàn thành, 27 tỉnh đang tiêm phòng bổ sung
đợt 2,… dịch lở mồm, long móng ở gia súc đã được khống chế và hiện nay cơ bản
đã được kiểm soát trên phạm vi cả nước. Đến đầu tháng 12 cả nước chỉ còn 27 xã,
15 huyện thuộc 6 tỉnh còn dịch với 1536 trâu bò và 94 lợn. Tuy nhiên, nguy cơ tái
dịch vẫn còn lớn, nếu không có các giải pháp tiêm phòng tích cực, thường xuyên
trong mùa đông. Nhược điểm của chăn nuôi trong năm 2006 là sự phá sản của
chương trình bò sữa và bò laisind ở một số tỉnh Miền Bắc và Miền Trung ngày
càng rõ nét.
Chuyển dịch cơ cấu sản xuất trồng trọt có một số nét mới. Do nhu cầu sản
phẩm thay thế thịt, trứng gia cầm, thịt gia súc của người tiêu dùng tăng trên cả thị
trường trong nước và thế giới do dịch cúm gia cầm chưa được khống chế triệt để
cùng với dịch lở mồm long móng bùng phát ở nhiều địa phương trong năm 2006,
nên xu hướng chuyển một phần đất lúa hoặc cây trồng khác kém hiệu quả sang
nuôi trồng thủy sản vẫn phát triển ở một số địa phương. Bên cạnh đó một số mô
hình kết hợp trồng lúa với nuôi thủy sản trên ruộng lúa, theo công thức cá+lúa phát
triển, nhất là trên diện tích lúa mùa vùng ĐBSCL. Các hình thức nuôi trồng thủy
sản trên ruộng lúa theo hướng đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững được các hộ
gia đình nông dân áp dụng ngày càng nhiều và đã đem lại hiệu quả thiết thực.
Phong trào nuôi cá lóc vèo, cá rô phi, diêu hòng, bống tượng, cá kèo, cá chẽm, cá
chình,… trên các sông hồ hoặc các ruộng lúa phát triển mạnh. Các tỉnh có diện tích
các giải pháp có tính khả thi cao. Triển vọng vụ đông năm 2007 vẫn chưa rõ ràng
dù thời tiết đang thuận.
- Sản xuất rau màu, cây công nghiệp cây ăn quả tuy có tiến bộ nhưng chưa
đều và chưa vững. Một số cây công nghiệp hàng năm như lạc, đỗ tương, mía vẫn
tăng giảm không đều giữa các vùng. Năm 2006 giá mía tăng cao nhưng sản lượng
mía tăng chậm (+6,9%) nên nhiều nhà máy vẫn thiếu nguyên liệu. Sản xuất cây ăn
quả vẫn trong tình trạng phân tán, quy mô nhỏ thiếu quy hoạch và đầu tư, nên chất
lượng sản phẩm thấp sức cạnh tranh không cao. Tình trạng giá trái cây vùng
ĐBSCL giảm mạnh trong những tháng cuối năm đã chứng minh thực tế đó.
- Trong chăn nuôi, tốc độ khôi phục các đàn gia súc, gia cầm còn chậm do
nguy cơ tái dịch vẫn còn lớn, nếu không có các giải pháp tiêm phòng tích cực,
7
thường xuyên trong mùa đông và đầu mùa xuân 2007. Đối với dịch cúm gia cầm
nguy cơ tái dịch vẫn còn lớn do các nước Châu Á như Hàn Quốc, Indonesia vẫn
còn tái dịch, nhưng các biện pháp phòng ngừa vẫn còn chưa tương xứng và hiệu
quả còn thấp. Tình trạng tái ấp trứng vịt con, thả vịt chạy đàn, nuôi gà thả vườn vẫn
rất phổ biến. Tư tưởng chủ quan của các hộ, trang trại chăn nuôi cũng như các đối
tượng buôn bán, vận chuyển, cơ sở giết mổ, kinh doanh gia cầm và cả cơ quan thú
y, quản lý thị trường ở các địa phương, cấp cơ sở vẫn còn nhiều.
Dịch lở mồm long móng gia súc tuy có giảm về số địa bàn bị dịch nhưng
chưa có khả năng khống chế trên phạm vi cả nước. Đến giữa tháng 12 cả nước vẫn
còn 27 xã, 15 huyện thuộc 5 tỉnh còn dịch với 1536 trâu bò và 94 lợn. Tình trạng
dấu dịch vẫn còn tồn tại ở nhiều hộ chăn nuôi, trang trại và doanh nghiệp kinh
doanh, giết mổ, vận chuyển gia súc và sản phẩm với nhiều hình thức và phạm vi
khác nhau. Trong khi, công tác tiêm phòng, dập dịch tại các địa bàn có dịch, quản
lý thị trường dịch gia súc vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.
Sự đỗ vở của phong trào nuôi bò sữa bò laisind ở các địa phương, nhất là
các tỉnh phía Bắc và Miền Trung không chỉ để lại hậu quả nặng nề về kinh tế cho
các hộ nuôi bò sữa và địa phương đó mà còn tác động tiêu cực đến chăn nuôi bò
sữa ở các vùng và địa phương khác trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên cho đến nay,
triển nông thôn:
1.3.2. Khuyến nông đối với nông dân
Khuyến nông có vai trò trực tiếp với nông dân và cộng đồng của họ. Đặc
biệt khi hộ gia đình được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ và sản xuất hàng hoá là
quy luật họ phải tuân theo, thì nông dân là đối tượng cuối cùng tiếp nhận thông tin
và chịu mọi tác động của khuyến nông. Vì vậy khuyến nông hơn bao giờ hết cần
đến cho mọi hộ nông dân. Có thể nói khuyến nông là người bạn gần gủi nhất của
nông dân.
Sự giúp đỡ của khuyến nông đối với nông dân không bó hẹp trong khuôn
khổ truyền bá thông tin, huấn luyện, giáo dục mà còn có những lĩnh vực tìm kiếm,
sử dụng các nguồn tự nhiên và kinh tế. Vai trò của khuyến nông đối với nông dân
thể hiện:
9
Nông thôn
Khuyến nông
Điện tử
Chính sách
Công nghệ
Thị trường
Tài chính
Giáo dục
Y tế
• Là người trực tiếp nắm bắt các vấn đề nảy sinh từ nông dân và cộng đồng
của họ.
• Là người trực tiếp giúp đỡ nông dân về sản xuất và đời sống.
• Là người trực tiếp huấn luyện, đào tạo nông dân và giúp đỡ nông dân sử
dụng có hiệu quả những kiến thức, kỹ năng và điều kiện vật chất đã tiếp
nhận.
• Là người tạo lập và thúc đẩy mối liên kết phối hợp giữa các tổ chức tự
nguyện của nông dân.
cặn kẻ cách nhận biết từng loại rau đó.
Đến thế kỷ XVII, công tác khuyến nông đã phát triển ở nhiều nước, nhất là
thời kỳ “cách mạng xanh” bùng nổ và công nghệ sinh học trong nông nghiệp. Năm
1661 Giáo sư người Anh là Hartlib đã viết một cuốn sách về “Sự tiến bộ của nghề
nông” sau đó các chương trình giảng dạy trong các trường Nông nghiệp đã được
đổi mới mang tính chất thực nghiệm và ứng dụng rõ rệt. Tổ chức Hiệp hội “Tăng
cường hiểu biết về nông nghiệp” đầu tiên được thành lập ở Pháp năm 1761, ở Đức
năm 1764, ở Nga năm 1765. Những hiệp hội này đã đặt nền móng cho việc hình
thành và phát triển khuyến nông sau này.
Trường Đại học Nông nghiệp được thành lập sớm nhất ở Châu Âu là Zarvas
năm 1779 và Gieorgieon năm1797 thuộc Hunggari. Và sau này những trường nông
nghiệp này là những trường nông nghiệp kiểu mẫu Châu Âu. Năm 1806, ông Philip
Emaget người Thụy Sỹ đã tự bỏ tiền ra để xây dựng hai trường Nông nghiệp thực
hành tại Howful và sau này nó đã ảng hưởng rất lớn đến nội dung và phương pháp
giáo dục, đào tạo cán bộ nông nghiệp ở các nước Châu Âu và Bắc Mỹ. Biểu hiện rõ
nét nhất của hoạt động mang tính chất khuyến nông trong thời kỳ này phải kể đến
hoạt động của UB nông nghiệp thuộc Hội đồng thành phố Newyork(Hoa kỳ) năm
1843. Ủy ban này đề nghị các giáo sư giảng dạy ở các trường đại học Nông nghiệp
và các viện nghiên cứu thường xuyên xuống tận cơ sở và hướng dẫn, phổ biến
KHKT mới, giúp đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ở các vùng nông thôn.
Đến năm 1907, 42 trường Đại học ở 39 bang của Mỹ đã tham gia vào hoạt
động theo dạng “Extension” (mở rộng, triển khai) và có nhiều trường đã thành lập
bộ môn khuyến nông. Năm 1914, là thời điểm họat động nông nghiệp cố gắng cao
nhất theo dạng này. Chính phủ Mỹ đã quyết định thông qua đạo luật về khuyến
nông cho phép sử dụng các nguồn tài trợ liên bang-tiểu bang và của địa phương
vào các hoạt động khuyến nông. Số người Mỹ theo học khuyến nông và hoạt động
khuyến nông đến thời điểm này ở Mỹ lên tới 3 triệu người.
Từ đó tới nay, hệ thống khuyến nông trên thế giới không ngừng được cải
biến và ngày càng phát triển, công tác khuyến nông ngày càng được các cấp, các
ngành quan tâm. Từ chổ chỉ một nước có khuyến nông (năm 1700) đến nay đã có
triển ở các viện nghiên cứu vẫn chưa phù hợp với điều kiện cụ thể của nông dân.
Do vậy, phương pháp chuyển giao công nghệ ứng dụng là ít hiệu quả, không góp
phần giải quyết vấn đề của nông dân sản xuất nhỏ.
- Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp (FSR)
Mẫu hình của nghiên cứu và phát triển nông nghiệp trong thập kỷ 70 tập
trung giải quyết các vấn đề của nông dân sản xuất nhỏ, nông dân nghèo. Vì thế vào
nữa cuối thập kỷ 70, phương pháp tiếp cận hệ thống nông nghiệp được phát triển
12
mang lại lợi ích cho nông dân sản xuất nhỏ. Yêu cầu của phương pháp tiếp cận hệ
thống nông nghiệp là phải hiểu được tình hình ở vùng nghiên cứu, đặc điểm của
nông dân và biết huy động sự tham gia của nông dân trong quá trình nghiên cứu.
Tuy nhiên, FSR không đạt được mục tiêu của nó do việc thực hiện này bị hạn chế
bởi các lý do: Nông dân không trở thành người tham gia có hiệu quả; trong quá
trình nghiên cứu cán bộ nghiên cứu vẫn còn cách chuyển giao như củ; do xem xét
nông trại là hệ thống nên phải lấy nhiều loại số liệu khác cho nghiên cứu; cán bộ
nghiên cứu gặp khó khăn trong làm việc theo nhóm đa ngành; phần lớn các dự án
phát triển nông nghiệp theo phương pháp tiếp cận này vẫn tiếp tục không tập trung
vào dân nghèo; cán bộ nghiên cứu gặp khó khăn trong trao đổi, giao tiếp với nông
dân và học hỏi từ nông dân. Như vậy không có sự liên hệ chặt chẽ giữa cán bộ
nghiên cứu với nông dân là một trong những nhược điểm của phương pháp này.
Chính vì lẻ đó ở các nước đang phát triển chuyển sang một phương pháp tiếp cận
mới “ Nghiên cứu có sự tham gia của nông dân “.
- Nghiên cứu có sự tham gia của nông dân (PRA)
Vào thập kỷ 80, phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) được sử dụng
rộng rãi vào các chương trình phát triển nông thôn, nhưng phương pháp này đã bộc
lộ một số hạn chế. Nhận thức được các hạn chế đó, vào cuối thập kỷ 80 Gordon
Conway, Robert Chamber và nhiều người khác đã xây dựng phương pháp PRA từ
các phương pháp RRA như: RRA thăm dò, RRA chủ đề, RRA giám sát, RRA cùng
tham gia. RRA cùng tham gia là nhịp cầu nối giữa RRA sang PRA và lần đầu tiên
ứng dụng ở Kenya và Ấn Độ năm 1988. Vào đầu những năm 1990 là cuộc bùng nổ
+ Số lượng CBKN (trong biên chế nhà nước) trên thế giới ước tính khoảng
600.000 người, trong đó riêng khu vực Châu Á chiếm 70 %. Số CBKN trên thế giới
theo T.S Tazama được chia làm 3 loại như sau:
CBKN hành chính chiếm: 7,7 %
CBKN chuyên đề chiếm: 14,1 %
CBKN cơ sở chiếm: 78,2 %
Tổng cộng: 100 %
+ Trình độ CBKN trên thế giới
CBKN có trình độ sơ cấp 38,8 %
CBKN có trình độ trung cấp 33,3 %
CBKN có trình độ đại học 22,9 %
CBKN có trình độ trên đại học 5,0 %
+ Riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương
CBKN có trình độ sơ cấp chiếm 40,4 %
CBKN có trình độ trung cấp chiếm 35,4 %
CBKN có trình độ đại học chiếm 20,4 %
CBKN có trình độ trên đại học chiếm 3,8 %
Thống kê số liệu cho thấy trình độ CBKN ở Châu Á Thái Bình Dương thấp
hơn so với bình quân trình độ CBKN trên thế giới, vì vậy đã làm ảnh hưởng rất lớn
14
đến chất lượng của công tác khuyến nông ở khu vực này. Nhìn chung nông nghiệp
trên thế giới phát triển nhanh nhờ có sự chuyển hướng trong giáo dục, đào tạo, kết
hợp ngày càng chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành từ các trường, các viện nghiên
cứu, các hiệp hội … đặt cơ sở cho việc ra đời của khuyến nông sau này.
2.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển khuyến nông ở một số nước Châu Á
Từ sau khi hội nghị đầu tiên về khuyến nông khu vực Châu Á được tổ chức
tại Manila (Philippin) năm 1995, phong trào khuyến nông đã có bước phát triển, tổ
chức khuyến nông ở các nước trong khu vực được hình thành.
- Khuyến nông Ấn Độ
Được hình thành năm 1960, được tổ chức đào tạo theo 5 cấp. Nhờ làm tốt
nâng cao chất lượng sữa… đã được tập trung góp phần nâng cao thu nhập và chất
lượng cuộc sống cho người dân. Cơ sở hạ tầng nông thôn được đầu tư xây dựng
góp phần tiêu thụ nông sản. Thông qua các chương trình khuyến nông quốc gia, các
giống mới cung cấp cho nông dân gần như cho không, hàng lọat các hoạt động tập
huấn mô hình trình diễn được tổ chức giúp nông dân nắm bắt kỹ thuật mới…
Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã giảm được cây lương thực chất
lượng và hiệu quả thấp từ 512 triệu tấn lương thực năm 1998 xuống còn 457 triệu
tấn năm 2002, đây cũng là biện pháp chuyển đổi cơ cấu để nâng cao thu nhập cho
nông dân.
Hệ thống khuyến nông viên (KNV) Trung Quốc luôn được củng cố và phát
triển. Người Trung Quốc quan niệm rằng các KNV chính là trợ thủ đắc lực của các
nhà khoa học, các chuyên gia, các Trung tâm nghiên cứu. Hai mươi năm gần đây,
nhà nước Trung Quốc đã đầu tư đồng bộ cả về hệ thống tổ chức, cơ sở, thiết bị cho
KN. Nhờ vậy điều kiện làm việc và điều kiện sống cho KNV được nâng cao. Cuối
năm 1997, trên toàn đất nước Trung Quốc đã có tới 48.512 tổ chức KN với 317.349
KNV các cấp. KNV phối hợp hoạt động với khoảng 400.000 tổ chức nông dân
(chiếm 20% số làng ở Trung Quốc) với hơn 1 triệu nông dân làm kỹ thuật viên và
với 6,6 triệu mô hình của nông dân.
- Khuyến nông Thái Lan
Tuy mãi đến 20/10/1967, chính phủ Thái Lan mới có quuyết định chính thức
thành lập tổ chức KN nhưng Thái Lan hoạt động KN rất mạnh mẽ, có mạng lưới
KN tới tận làng xã. Ở Thái Lan có khoảng 15.196 CBKN, trong đó 11.933 người là
CBKN biên chế và 3.263 người là cán bộ hợp đồng(1992). Hàng năm chính phủ
Thái Lan dành một số ngân sách khá lớn để chi cho các hoạt động KN (Thường từ
120-130 triệu USD/ năm).
Do có hoạt động tốt của hệ thống KN nên nông nghiệp của Thái Lan phát
triển khá tốt cả về trồng trọt và chăn nuôi, luôn là nước dẫn đầu về sản xuất lúa
gạo, sắn khô. Hàng năm xuất khẩu hàng trăm nghìn tấn thịt gia cầm sang Nhật Bản,
Singapore… hiện nay ở Thái Lan nuôi bò sữa phát triển rất mạnh. Có được thành
công này là nhờ chương trình “sữa học đường” mà chính phủ Thái Lan áp dụng vào
bắt, hái lượm, kinh nghiệm dự trữ thức ăn từ người này sang người khác và từ đời
này sang đời khác. Việc đòi hỏi và phổ biến tạo ra các công cụ lao động cũng được
chú trọng đây là hình thức sơ khai của khuyến nông.
2.2.2. Thời kỳ sản xuất theo kiểu truyền thống
Khuyến nông đã có những bước tiến mới, con người đã có ý thức hơn trong
việc tích lũy và phổ biến kinh nghiệm sản xuất. Một số phương pháp trong chọn tạo
giống cây trồng theo các hướng sử dụng, một số biện pháp gieo trồng và tích lũy
17
hạt giống cũng được truyền từ người này sang người khác bằng các câu ca dao, tục
ngữ như: Nhất nước nhì phân,…
Những người cầm đầu nhà nước ta cũng đã chú ý đến công tác KN:
. Từ thời nhà Đinh (981) hàng năm Lê Hoàn đã tự mình xuống cày những
đường cày đầu tiên cho mổi vụ sản xuất
. Trong khám định Việt Sử thông giám cương mục của Quốc Tử Giám triều
Nguyễn có ghi chép “ Dưới thời nhà vua Trần (1225-1400) có 23 lần nhà vua
hoạch định chính sách cho nông dân”
. Năm 1926 dưới thời nhà vua Trần lập ra các chức quan hà đê sứ, đồn điền
sứ, khuyến nông sứ là quan chuyên chăm lo khuyến khích phát triển sản xuất nông
nghiệp. Những công trình thủy lợi dẫn nhập thủy lợi của Nguyễn Công Trứ cũng là
sự thực thi của công tác khuyến nông.
. Năm 1789 vua Quang Trung đã ban bố “chiếu khuyến nông” ông viết: “
Chính trị của bậc vương giả là phải biết vun gốc, chú trọng vào việc nông. Nhờ đó
mà trong nước không có kẽ chơi không, ngoài đồng không có đất bỏ hoang. Trẫm
chịu mệnh trời giữ nghiệp lớn bốn bể trong lặng. Nay bước đầu đại định chính
sách, khuyến khích sản xuất làm cho dân giàu phải được tiến hành lần lượt cái vui
giàu thịnh trẫm sẻ cùng trăm họ vui chung”
.Tháng 11 năm 1945 Hồ Chủ Tịch ra chỉ thị “ Phải làm tốt công tác khuyến
nông”
. Sau cải cách ruộng đất các tổ đổi công, HTX ra đời đã hình thành các tổ
kỷ thuật để chọn giống, bảo vệ thực vật. Các tổ kỷ thuật này thực chất là tổ KN.
chức khuyến nông như thế nào thiết thực cho nông dân nhất là những nông dân
nghèo ở vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, những người lao động ngành nghề
sống ở vùng nông thôn để họ biết cách làm ăn, biết sản xuất kinh doanh, biết giải
quyết những vấn đề ở làng xã để nông thôn thoát khỏi nghèo đói.
2.3. Đặc điểm của khuyến nông Việt Nam
+ Là một tổ chức từ Trung ương xuống tỉnh, huyện, xã. Cấu tạo theo hình
tháp, lực lượng khuyến nông cơ sở ngày càng được tăng cường.
+ Công tác khuyến nông được xã hội hóa: Ngoài lực lượng khuyến nông nhà
nước còn có lực lượng KN tự nguyện, viện, trường, các đoàn thể, các tổ chức quốc
tế, phi chính phủ cũng tích cực tham gia.
2.4. Hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam
- Nguồn nhân lực của KN Việt Nam
Ngay từ khi có nghị định 13/CP của chính phủ, ở tất cả 64 tỉnh, thành trong
cả nước đều thành lập Trung tâm khuyến nông (TTKN) trực thuộc Bộ Nông
nghiệp. Theo số liệu năm 2004, tổng số CBKN ở cấp tỉnh là1446 người, bình quân
mổi TTKN tỉnh có 22,6 người. Số huyện có trạm khuyến nông là 520 trong tổng số
637 (chiếm 81%). Một số huyện chưa có trạm khuyến nông như: Cao Bằng, Ninh
19
Bình, Đà Nẵng hoặc có ít trạm khuyến nông như Hà Nam (có 1 trạm trong tổng số
6 huyện của tỉnh), Cà Mau (có 2 trạm trong tổng số 8 huyện của tỉnh), Bạc Liêu (có
3 trạm trong tổng số 6 huyện). Lực lượng CBKN cấp huyện bao gồm 1.716 người,
bình quân mỗi trạm huyện có 3,3 người. Cấp xã có khuyến nông viên cơ sở
(KNVCS) với 7.434 người tại 10.502 xã sản xuất nông nghiệp, chiếm 70,7 %
(10.502/14.854). Bình quân mỗi xã, phường có 0,7 người. Cấp thôn bản có 3.918
câu lạc bộ khuyến nông với 176.300 hội viên do nông dân tự nguyện lập ra theo
hướng dẫn của khuyến nông nhà nước.
Như vậy, ngành KN có 3.162 CBKN chuyên trách(làm công tác khuyến nông
hưởng lương nhà nước) và 7.434 CBKN không chuyên trách, cùng với 176.300 hội
viên KN thuộc câu lạc bộ khuyến nông. Tính đến tháng 12 năm 2004, cả nước có
trên 11,5 triệu hộ nông dân, như vậy có khoảng 3.650 hộ nông dân trên một khuyến
dụng
- PT,TH
- Các hội, Đoàn thể
- Hội, Đoàn thể
- Ngân hàng, Tín
dụng
- Các viện, TT khoa
học
- Các trường Đại học
NN
- Các D.nghiệp,Dịch
vụ
- KN tự nguyện
- Các tổ chức Quốc tế,
Phi chính phủ
- Các trường
- Các công ty, D.nghiệp
- KN tự nguyện
- Các tổ chức Quốc tế,
Phi chính phủ
Sở NN&PTNT
TT Khuyến nông
Trạm khuyến nông
Khuyến nông cơ
sở
CLB KN
Làng Khuyến nông
tự quản
Nhóm sở thích nông dân giỏiNhóm sở thích nông dân giỏi
- Các trường phổ thông
trung tâm dịch vụ nông nghiệp trực thuộc UBND huyện. Có thể thấy là chưa có
định hướng rõ ràng trong phát triển hệ thống tổ chức, chưa có sự hướng dẫn từ trên.
Sự phát triển này có thể phần nào phù hợp và thích nghi với tình hình phát triển
nông nghiệp ở giai đoạn nhất định, đặc biệt là đối với một số địa phương, khi mà
nội dung KN và kinh phí còn phân bố dàn trãi, mang đặc tính bình quân, trong lúc
công việc quản lý nhà nước về nông nghiệp còn nhiều khó khăn và bất cập, nhất là
ở cấp huyện. Để phù hợp với phát triển nông nghiệp hàng hóa trong thời gian tới,
hệ thống tổ chức cần được đổi mới phù hợp hơn để có thể đáp ứng tốt nhiệm vụ
được giao.
+ Đào tạo cán bộ khuyến nông ở Việt Nam
Tổ chức KN ở Việt Nam mới được chính thức thành lập ngày 31/3/1993, tuổi
đời còn quá non trẻ nên việc đào tạo CBKN cũng còn quá mới mẽ với KN nước ta.
Trình độ CBKN còn nhiều bất cập, chưa được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ
khuyến nông. Hầu hết là cán bộ kỹ thuật được tập huấn qua lớp nghiệp vụ khuyến
nông ngắn hạn ở trong nước. Khuyến nông viên cơ sở chủ yếu dựa vào lực lượng
cán bộ địa phương và một số nông dân chủ chốt có tâm huyết với sản xuất nông
nghiệp và đa số chưa được tập huấn về nghiệp vụ khuyến nông. Không được đào
tạo về KN sẽ dẫn đến tình trạng các CBKN có kỹ thuật nhưng lại thiếu phương
pháp, đều này sẽ gây khó khăn cho các cán bộ khi thực hiện công việc của mình.
Để giải quyết vấn đề này, gần đây một số Trường Đại học Nông nghiệp trong nước
22
đã mở ngành đào tạo CBKN nhằm cung cấp một lực lượng cần thiết đang còn thiếu
hụt trong công tác này.
+ Chính sách tài chính cho hoạt động khuyến nông
Ngay từ khi mới thành lập, khuyến nông Việt Nam đã được Đảng và Nhà
nước quan tâm đầu tư kinh phí cho xây dựng lực lượng, tăng cường năng lực cũng
như kinh phí cho hoạt động hàng năm. Nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách
Trung ương, thông qua các cơ quan chức năng của Bộ NN&PTNT và một phần
ngân sách từ các tỉnh, thành phân bổ, dùng vào việc chi trả lương, hoạt động của bộ
máy và thực hiện một số chương trình KN địa phương. Trong nhiều năm qua, việc
du Miền núi phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung.
Tham gia vào việc tự túc sản xuất hạt lúa lai F1 trong nước khoảng 25 % và
khống chế được giống nhập nội.
Chương trình KN phát triển ngô lai đã triển khai hầu hết ở các tỉnh, nhiều
nhất là vùng trung du Miền núi phía Bắc, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Với sự
tham gia của hơn 9.000 hộ nông dân trên 12.000 ha mô hình, góp phần tăng năng
suất ngô từ 21,1 tạ/ha lên 32 tạ/ha. Giá thành sản xuất hạt giống trong nước chỉ
bằng 50% so với giá nhập nội, góp phần tiết kiệm được 20 triệu USD nhập giống
hàng năm.
Chương trình KN chuyển đổi cơ cấu mùa vụ triển khai hầu hết các tỉnh trong
cả nước với tổng diện tích mô hình 6.410 ha. Chương trình đã góp phần thúc đẩy
mở rộng diện tích, chuyển đổi trên 600.000 ha. Từ cây trồng kém hiệu quả, chế độ
canh tác củ sang cây trồng chế độ canh tác mới hiệu quả cao làm tăng thu nhập trên
mỗi ha từ 1,3 đến 5 lần, thậm chí có nơi đến 100 lần với giá tương đương từ 5 đến
200 triệu đồng. Chương trình góp phần né tránh thiên tai bất lợi cho cây trồng.
Chương trình phát triển cây công nghiệp dài ngày, được triển khai trên nhiều
tỉnh nhất là vùng Tây Nguyên và Trung du Miền núi phía Bắc, thu hút hơn 15.000
hộ nông dân tham gia trên tổng diện tích mô hình 10.031 ha. Kết quả đã góp phần
mở rộng diện tích theo quy hoạch và cung cấp nguyên liệu cho cơ sở chế biến tham
gia công tác xuất khẩu. Ngoài ra, các chương trình KN lúa chất lượng cao, cây
công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả,… đã góp phần đẩy mạnh xuất khẩu lúa gạo,
rau quả ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Đồng bằng Sông Hồng và nhiều vùng
khác góp phần tăng thu nhập cho nông dân và phát triển sản xuất hàng hóa.
Chương trình KN trồng trọt đã phát huy sáng tạo, năng lực về sử dụng giống
cây lương thực chất lượng cao, những giống có ưu thế lai,… phục vụ chiến lược
phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và nông sản hàng hóa
xuất khẩu. Với cây công nghiệp, cây ăn quả đã xây dựng được những giống cây
đầu dòng, từ những vườn cây này cung cấp thực liệu nhân giống, mỗi năm sản xuất
được hàng triệu cây giống chất lượng cao phục vụ sản xuất.
Chương trình KN chăn nuôi nhằm khuyến khích, hổ trợ phát triển nhiều loại
đạt trên 140.000 tấn/năm. Hình thành vùng chăn nuôi bò sữa tập trung ở Thành phố
Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Mộc Châu, Sơn La và nhiều tỉnh khác để cung cấp
nguyên liệu cho các nhà máy chế biến sữa, từng bước hạn chế nhập nội. Phát triển
chăn nuôi bò sữa đã góp phần tạo thêm nghề mới là trồng cỏ chăn nuôi bò, trâu,…
bên cạnh ưu điểm, chương trình KNCN bò sữa còn một số hạn chế: Hỗ trợ thấp đầu
tư còn dàn trải. Do vậy cần tập trung khuyến khích phát triển bò sữa ở một số vùng
thích hợp.
25