đánh giá tác động của công tác khuyến nông tới hoạt động sinh kế người dân tại xã bản xèo – huyện bát xát – tỉnh lào cai - Pdf 10

BÀI LUẬN
ĐỀ TÀI:
Đánh giá tác động của công tác
khuyến nông tới hoạt động sinh kế
người dân tại xã Bản Xèo – huyện
Bát Xát – tỉnh Lào Cai
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống khuyến nông nhà nước Việt Nam chính thức được thành lập
theo Quyết định 13/CP ngày 02/03/1993 của thủ tuớng Chính phủ. Qua gần
20 năm xây dựng và phát triển khuyến nông đã và đang khẳng định vị thế
quan trọng của mình trong chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn ở
nước ta. Khuyến nông là hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về
nông nghiệp, nông thôn và phổ biến kinh nghiệm về sản xuất, quản lý
kinh tế, cơ chế chính sách, giá cả thị trường nhằm giúp cho người
nông dân có đủ khả năng tự giải quyết những vấn đề của bản thân và
cộng đồng, thúc đẩy nông nghiệp phát triển cải thiện đời sống và xây
dựng nông thôn mới. Trong giai đoạn hiện nay, khi điều kiện nguồn
lực còn hạn chế, nhà nước xóa bỏ cơ chế tổ chức bao cấp. Hoạt động
sản xuất nông nghiệp ngày càng đa dạng, phát triển theo hướng hàng
hóa nên có nhu cầu cao về các dịch vụ khuyến nông. Vì thế, đòi hỏi
đội ngũ cán bộ khuyến nông phải hiểu biết rộng và có nhiều kỹ năng
để thực hiện các phương pháp khuyến nông một cách có hiệu quả.
Khuyến nông đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp
nông thôn hiện nay. Trong đó hoạt động sinh kế của người dân chịu ảnh
hưởng nhiều từ công tác khuyến nông.
Hiện nay sinh kế bền vững đang là mối quan tâm hàng đầu của con
người. Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển nâng cao đời sống
của con nguời nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất luợng môi trường

của người dân.
3
 Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh công tác
khuyến nông ở địa phương.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài góp phần làm rõ những ảnh hưởng của công tác khuyến
nông tới hoạt động sản xuất của người dân.
- Thấy được hiệu qủa của các hoạt động sinh kế mang lại cho người
dân địa phương.
1.5. Yêu cầu của đề tài
- Tiến hành tìm hiểu điểm nghiên cứu, quan sát và thực hiện phỏng
vấn để thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp về các nội dung nghiên cứu của đề
tài.
- Đánh giá được thực trạng tác động của công tác khuyến nông đến
hoạt động sinh kế của người dân.
- Tư liệu hóa được các thông tin để hoàn thành đề tài tốt nghiệp.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Cơ sở lí luận về khuyến nông
2.1.1.1. Khái niệm về khuyến nông
Khuyến nông được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau và phục vụ
nhiều mục đích có qui mô khác nhau. Vì vậy khuyến nông là một thuật ngữ
khó định nghĩa được một cách chính xác, nó thay đổi tùy theo lợi ích nó
mang lại.
Dưới đây là một số định nghĩa khuyến nông khác nhau :
‘Khuyến nông được định nghĩa như thể là một tiến trình của việc lôi
kéo quần chúng tham gia vào việc trồng và quản lý cây một cách tự
nguyện” (D.Mahony, 1987) [2]

sinh, thuỷ sản ở nông thôn.[2]
Ở Việt Nam, khuyến nông được hiểu là một hệ thống các biện pháp
giáo dục không chính thức cho nông dân nhằm đẩy mạnh phát triển sản
xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân,
xây dựng và phát triển nông thôn mới.[2]
Còn theo định nghĩa của Trung tâm khuyến nông khuyến lâm quốc
gia (TTKNKLQG) thì: Khuyến nông là một quá trình, một dịch vụ thông
tin nhằm truyền bá những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những
kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất, những
thông tin về thị trường giá cả, rèn luyện tay nghề cho nông dân, để họ có đủ
6
khả năng tự giải quyết vấn đề của sản xuất, đời sống, của bản thân họ và
cộng đồng, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống và
phát triển nông nghiệp nông thôn.[13]
Như vậy khuyến nông là cách giáo dục không chính thức ngoài học
đường cho nông dân, là cách đào tạo người lớn tuổi. Khuyến nông là quá
trình vận động quảng bá, khuyến cáo cho nông dân theo các nguyên tắc
riêng. Đây là một quá trình tiếp thu dần dần và tự giác của nông dân. Nói
cách khác, khuyến nông là những tác động vào quá trình sản xuất kinh
doanh của người nông dân, giúp họ sản xuất đạt hiệu quả cao nhất. Nội
dung của hoạt động khuyến nông phải khoa học, kịp thời và thích ứng với
điều kiện sản xuất của người nông dân.
2.1.1.2. Vai trò của khuyến nông đối với phát triển nông thôn Việt Nam
 Khuyến nông có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông
thôn :
Trong điều kiện nước ta hiện nay, trên 80% sống ở các vùng nông
thôn với 70% lao động xã hội để sản xuất ra nông sản thiết yếu cung cấp
cho toàn bộ xã hội như lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến…, và sản xuất nông nghiệp chiếm 37- 40% giá trị sản
phẩm xã hội. Khuyến nông đã góp phần tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ

Nghiên cứu
công nghệ
Thị
trường
Tài
chính
Tín dụng
Giáo dục
• Giúp nhà nước thực hiện các chính sách, chiến lược về phát triển
nông lâm nghiệp, nông thôn và nông dân.
• Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông lâm nghiệp.
• Trực tiếp góp phần cung cấp thông tin về những nhu cầu nguyện
vọng của nông dân đến các cơ quan nhà nước trên cơ sở nhà nước hoạch
định, cải tiến đề ra được chính sách phù hợp.[4]
2.1.1.3. Mục tiêu của khuyến nông
(Theo nghị định 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010)
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng
thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nông
dân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ
nông dân sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện
sinh thái, khí hậu và thị trường.[3]
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát
triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh
thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn
mới, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ
môi trường.[3]
Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước
ngoài tham gia khuyến nông.[3]
2.1.1.4. Nội dung của khuyến nông

10
Việc đào tạo nông dân và đào tạo người hoạt động khuyến nông do các
tổ chức khuyến nông đảm trách.
Giảng viên nòng cốt là các chuyên gia, cán bộ khuyến nông có trình độ
đại học trở lên, các nông dân giỏi, các cá nhân điển hình tiên tiến, có nhiều
kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh, có đóng góp, cống hiến cho xã
hội, cộng đồng, đã qua đào tạo về kỹ năng khuyến nông.[3]
Thông tin tuyên truyền
Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước thông qua hệ thống truyền thông đại chúng và các tổ chức chính
trị xã hội.
Phổ biến tiến bộ khoa học và công nghệ, các điển hình tiên tiến trong
sản xuất, kinh doanh thông qua hệ thống truyền thông đại chúng, tạp chí
khuyến nông, tài liệu khuyến nông, hội nghị, hội thảo, hội thi, hội chợ, triển
lãm, diễn đàn và các hình thức thông tin tuyên truyền khác; xuất bản và
phát hành ấn phẩm khuyến nông.
Xây dựng và quản lý dữ liệu thông tin của hệ thống thông tin khuyến
nông. [3]
Trình diễn và nhân rộng mô hình
Xây dựng các mô hình trình diễn về tiến bộ khoa học và công nghệ phù
hợp với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất và định hướng của
ngành, các mô hình thực hành sản xuất tốt gắn với tiêu thụ sản phẩm.
Xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.
Xây dựng mô hình tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh nông nghiệp
hiệu quả và bền vững.
11
Chuyển giao kết quả khoa học và công nghệ từ các mô hình trình diễn,
điển hình sản xuất tiên tiến ra diện rộng.[3]
Tư vấn và dịch vụ khuyến nông
Tư vấn về :

Dân chủ, công khai, có sự giám sát của cộng đồng.
Nội dung, phương pháp khuyến nông phù hợp với từng vùng miền, địa
bàn và nhóm đối tượng nông dân, cộng đồng dân tộc khác nhau.[3]
2.1.1.6. Các phương pháp khuyến nông
Xét về phương pháp thì hoạt động khuyến nông gồm 3 loại sau: Phương
pháp cá nhân, phương pháp nhóm, và phương pháp thông tin đại chúng.
Phương pháp tiếp xúc cá nhân: Là phương pháp được sử dụng rộng
rãi trong khuyến nông. Người cán bộ khyến nông đến thăm nhà nông dân,
hoặc gặp gỡ họ ngoài đồng, trên nương để thảo luận những chủ đề mà hai
bên cùng quan tâm và cung cấp cho họ thông tin hoặc những lời khuyên.
Những cuộc gặp gỡ này thường rất thoải mái và ít khi phải câu nệ điều
gì.Nó biểu hiện sự quan tâm của cán bộ khuyến nông đối với từng người
dân cho nên nó là yếu tố quan trọng bậc nhất trong việc củng cố lòng tin và
tình cảm giữa người dân và cán bộ khuyến nông. Phương pháp này được
thực hiện bằng cách: Thăm và gặp gỡ, gửi thư hoặc điện thoại giữa nông
dân và cán bộ khuyến nông. [6]
13
Ưu điểm: - Củng cố lòng tin và tranh thủ tình cảm của hộ nông dân
- Tạo được bầu không khí thoải mái và ấm cúng
- Dễ thực hiện, nhanh, kịp thời, đáp ứng thông tin theo
yêu cầu.
Nhược điểm:
- Tốn nhiều thời gian
- Quá trình phổ biến thông tin chậm, diện hẹp
- Đến từng nông dân nên dễ gây nghi kỵ trong cộng đồng.
Phương pháp nhóm: Là phương pháp khuyến nông mà thông tin
được truyền đạt cho một nhóm người có chung một mối quan tâm và nhằm
mục đích giúp nhau phát triển. Phương pháp này được thực hiện bằng cách:
hội họp, trình diễn, hội thảo đầu bờ, thăm quan và tập huấn kỹ thuật.[6]
Ưu điểm: Phương pháp này có tính phổ cập thông tin cao, tốn ít nhân

Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo
Brundland (1987) tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển. Một sinh
kế được cho là bền vững khi con người có thể đối phó và khắc phục được
những áp lực và cú sốc. Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng
và tài sản ở cả hiện tại và tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các
nguồn tài nguyên thiên nhiên. [14]
15
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái
niệm phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway
(1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao
gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập
và tài sản của họ. Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô
hình như dư nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở
rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích
ròng tác động đến sinh kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có
thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho
thế hệ tương lai.[11]
2.1.2.2. Khái niệm chiến lược sinh kế
Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và
quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lý các nguồn vốn
và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để
đạt được mục tiêu nguyện vọng của họ.[11]
Sơ đồ 2.3: Phân tích khung sinh kế của nông dân nghèo
Tự nhiên
Tài chính
Xã hội
Vật chất
Con người
Bối cảnh
dễ tổn

nữ, hộ gia
đình, cộng
đồng …)
-Các cơ sở tài
nguyên thiên
nhiên
-Cơ sở thị
trường
- Đa dạng
-Sinh tồn
hoặc tính bền
vững
Các kết quả SK
-Thu nhập nhiều hơn
-Cuộc sống đầy đủ
hơn
-Giảm khả năng tổn
thương
-An ninh lương thực
được cải thiện
-Công bằng xã hội
được cải thiện
-Tăng tính bền vững
của tài nguyên thiên
nhiên
-Giá trị không sử
dụng của tự nhiên
được bảo vệ
16
(Nguồn: DFI, 2003)

hoặc chuyển giao kỹ thuật đến người nông dân (Transfert des Technologies
Agrcoles au Payan) được sử dụng phổ biến. [4]
Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) đến nay.
Trung tâm CETA (Centre d’Etuder Techniques Agricoles) nghiên cứu kỹ
thuật nông nghiệp đầu tiên được tổ chức do sáng kiến của nông dân vùng
Pari hoạt động với nguyên tắc:
- Người nông dân có trách nhiệm và chủ động trong công việc
- Sáng kiến từ cơ sở
- Hoạt động nhóm rất quan trọng
• Mỹ
Năm 1845 tại Ohio, N.S.Townshned chủ nhiệm khoa Nông học đề
xuất việc tổ chức những câu lạc bộ nông dân tại các quận, huyện và sinh
hoạt định kỳ. Đây là tiền thân của khuyến nông Mỹ.
Năm 1891 Bang New York dành 10.000 đôla cho khuyến nông
đại học.
Năm 1892 Trường đại học Chicago, trường Wicosin bắt đầu tổ chức
chương trình khuyến nông đại học.
Năm 1907, có 42 trường đại học trong 39 Bang đã thực hiện công tác
Khuyến nông
Năm 1910, có 35 trường Đại học đã có Bộ môn khuyến nông
Năm 1914 tổ chức khuyến nông được hình thành chính thức ở Mỹ, có
1861 hội nông dân với 3.050.150 hội viên
Thuật ngữ Extension Education đã được sử dụng để chứng tỏ rằng đối
tượng giáo dục của trường đại học không nên chỉ hạn chế ở những sinh
18
viên do nhà trường quản lý, mà nên mở rộng tới những người đang sống ở
khắp nơi trên đất nước.[4]
Cho tới nay Mỹ là nước có nền nông nghiệp rất phát triển với chỉ 6%
dân số sống bằng sản xuất nông nghiệp nhưng năng suất và sản lượng nông
nghiệp của Mỹ vẫn đạt mức cao. Điển hình là sản lượng đậu tương năm 1985

khẩu kết hợp cải tạo đất; dự án sản xuất giống vật nuôi, nâng cao sản lượng
sữa được tập trung góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống
cho nông dân. Cơ sở hạ tầng nông thôn được đầu tư xây dựng, góp phần
đẩy mạnh tiêu thụ nông sản thông qua chương trình khuyến nông quốc gia,
giống mới cung cấp cho nông dân gần như cho không, hàng loạt các hoạt
động tập huấn, mô hình trình diễn được tổ chức giúp người nông dân nắm
bắt được những kỹ thuật mới. Nhờ những chính sách đúng đắn của Nhà
nước và hoạt động hiệu quả của khuyến nông, nông nghiệp Trung Quốc đã
đạt được kết quả không ngờ sau vài năm thực hiện.
Từng bước Khuyến nông trên khắp các vùng miền của Trung Quốc đã
giúp nông dân hiểu được vai trò, trách nhiệm của họ dưới sự phát triển
chung của nông nghiệp. Các Khuyến nông viên giúp nông dân nâng cao
trình độ canh tác, giúp họ hiểu được phải làm gì, làm khi nào và làm như
thế nào? Cùng họ nghiên cứu ngay trên mảnh ruộng của mình để chính họ
trở thành những chủ nhân – chuyên gia kỹ thuật viên.
Cuối năm 1997, trên toàn đất nước Trung Quốc đã có hơn 48.500 tổ
chức khuyến nông với hơn 317.000 khuyến nông viên (từ Trung ương tới
tỉnh, huyện, xã, làng bản); khuyến nông viên phối hợp hoạt động cũng
khoảng 400.000 tổ chức nông dân là kỹ thuật viên. Hiện nay khuyến nông
Trung Quốc đã là một hệ thống hoàn thiện trên quy mô cả nước sau nhiều
năm không ngừng củng cố (Phạm Kim Oanh, 2006)
2.2.1.2. Lịch sử khuyến nông trong nước
20
Khuyến nông Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với sự phát
triển của nền sản xuất nông nghiệp. Các vua Hùng cách đây hơn 2000 năm đã
trực tiếp dạy dân cách làm nông nghiệp: gieo hạt, cấy lúa, mở các cuộc thi để
các Hoàng tử, Công chúa có cơ hội trổ tài, chế biến các món ăn từ các nông
sản tại chỗ. Công chúa Thiều Hoa là người đầu tiên dạy dân chăn tằm dệt lụa.
Vua Lê Đại Hành (979 - 1008) là ông vua đầu tiên đích thân đi cày ruộng tịnh
điền ở Đọi Sơn, Bàn Hải thuộc vùng Duy Tiên, Nam Hà ngày nay. [2]

nghiệp Việt Nam thống nhất thành một mối hai miền cùng tăng gia phát
triển sản xuất. Song diễn biến tình hình có nhiều phức tạp, do sự tác động
của quan hệ sản xuất tập thể và mô hình quản lý tập chung, kế hoạch hóa
tập chung. Nhiều thiếu sót đã nảy sinh trong quản lý kinh tế và quản lý
nông nghiệp, đã làm cho nông nghiệp phát triển chậm lại đời sống nông
thôn nảy sinh nhiều vướng mắc, nông dân không yên tâm sản xuất và sinh
sống.
Trước thực trạng suy thoái kinh tế những năm cuối thập kỷ 70 và đầu
năm 80 nói chung và nông nghiệp nói riêng, ngày 13/01/1981 chỉ thị
100CT/TW của ban Bí thư Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán,
mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông
nghiệp” được ban hành (gọi tắt là khoán 100). Khoán 100 mặc dù chưa
phải là mô hình mới về tổ chức và quản lý nông nghiệp, mà mới chỉ là cải
tiến hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán đội
sang khoán hộ. Đây cũng được coi là đột phá đầu tiên vào cơ chế quản lý
tập chung, quan liêu, sản xuất tập thể. Vì vậy, coi là “Chìa khóa vàng” để
mở ra thời kỳ mới của sản xuất nông nghiệp Việt Nam.[6]
Tới tháng 12/1986, đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra đường
lối đổi mới trong lãnh đạo và quản lý kinh tế. Nghị quyết 10 của Bộ chính trị
Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VI (5/4/1988) về “đổi mới quản lý
22
trong nông nghiệp” nhằm giải phóng sản xuất trong nông thôn đến từng
hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn
(gọi tắt là khoán 10). PGS.TS Chanock Jacobsen đã khẳng định: “Trong
một thế giới đang chuyển đổi mà sự khởi đầu của cá thể và tư nhân chiếm
vị trí cao trong sự phát triển nông nghiệp, khuyến nông đã trở nên quan trọng
hơn bao giờ hết”.
Ngày 02/3/1993 Chính phủ ra nghị định 13CP về công tác khuyến
nông. Bắt đầu hình thành hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến địa
phương. Năm 1993 Cục khuyến nông Khuyến lâm được thành lập: vừa

- Phân theo cấp hành chính: cấp tỉnh có 1.903 người (chiếm 5,5%),
cấp huyện có 4.025 người (chiếm 11,6%), cấp xã có 11.232 người (chiếm
32,3%), cộng tác viên khuyến nông thôn bản có 17.587 người (chiếm 50,6%).
- Phân theo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ:
+ Trình độ đội ngũ cán bộ khuyến nông chuyên trách (cấp tỉnh và
cấp huyện) cả nước như sau: trình độ trên đại học chiếm 3,6% (2 tiến sỹ,
187 thạc sỹ); đại học 66,8%; cao đẳng 5,6%; trung cấp 17,3%; khác 6,7%.
+ Trình độ đội ngũ cán bộ khuyến nông viên cơ sở (cấp xã và thôn,
bản): chủ yếu là trình độ trung cấp và sơ cấp, đã được đào tạo ngắn hạn về
phương pháp và nghiệp vụ khuyến nông.
- Bình quân cả nước: 280 hộ sản xuất nông lâm, ngư nghiệp có 01
cán bộ khuyến nông.
Tổ chức và nhiệm vụ của hệ thống khuyến nông địa phương:
Thực hiện Nghị định 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ, hệ thống
khuyến nông của các địa phương tiếp tục được củng cố và phát triển:
Cấp tỉnh: cấp tỉnh, thành phố thuộc Trung ương có Trung tâm
Khuyến nông. Đến nay tất cả 63 tỉnh, thành phố trong cả nước đã có tổ
chức khuyến nông cấp tỉnh. Tuy nhiên tên gọi và nhiệm vụ chưa hoàn toàn
đồng nhất:
- Về tên gọi: hiện có 6 loại tên gọi khác nhau đối với tổ chức khuyến
nông cấp tỉnh là:
+ Trung tâm khuyến nông;
24
+ Trung tâm khuyến nông - khuyến ngư;
+ Trung tâm khuyến nông - khuyến lâm (Bắc Kạn);
+ Trung tâm khuyến nông - khuyến lâm - khuyến ngư (Ninh Bình);
+ Trung tâm khuyến ngư nông lâm (Đà Nẵng);
+ Trung tâm khảo nghiệm và khuyến nông - khuyến ngư (Thái Bình)
- Về nhiệm vụ: hiện còn 07 tỉnh, thành phố là: Tuyên Quang,
Lạng Sơn, Thái Nguyên, Đồng Nai, Long An, Vĩnh Long, Cần Thơ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status