tìm hiểu vai trò của công tác khuyến nông trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở huyện can lộc tỉnh hà tĩnh trong giai đoạn từ năm 2005 - 2007 - Pdf 13

Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nước ta là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số sống bằng
nghề nông, ngành nông nghiệp nước ta đã và đang sẽ còn giữ vị trí hết sức
quan trọng trong nền kinh tế chung của cả nước, là tiền đề cho các ngành
kinh tế khác phát triển. Sản phẩm nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu tiêu
dùng của xã hội, là sản phẩm tối cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày của con
người. Ngoài ra, nó còn là cơ sở cho sự sắp xếp, bố trí phân công lao động
cho nền kinh tế quốc dân và góp phần tăng nguồn thu nhập của đất nước.
Để tăng hiệu quả kinh tế cho một vùng sản xuất nông nghiệp, ngoài
việc tăng năng suất của từng loại cây trồng thì việc bố trí một cơ cấu cây
trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng là một việc hết sức quan
trọng. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng của gió
mùa, kéo dài trên vĩ tuyến 15 nên có nhiều vùng khí hậu khác nhau. Sự
khác nhau đó đã dẫn đến thành phần cây trồng và cơ cấu mùa vụ mỗi tiểu
vùng này cũng có sự khác nhau. Mặt khác, hiện nay đời sống và thu nhập
của xã hội ngày càng được nâng cao, vì vậy nhu cầu của con người về các
sản phẩm nông nghiệp cũng có sự thay đổi theo xu hướng chất lượng cao
hơn, an toàn hơn và sản phẩm phải đa dạng hơn. Nên để phát huy được
tiềm lực nông nghiệp của mỗi vùng thì việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý
cho mỗi vùng là hết sức cần thiết.
Cơ cấu cây trồng là một biện pháp kinh tế kỹ thuật nông nghiệp hoàn
chỉnh có mục tiêu để hoàn thành kế hoạch sản xuất của một vùng hay của
một đơn vị sản xuất nông nghiệp; cơ cấu cây trồng hợp lý sẽ khai thác được
các điều kiện tự nhiên và xã hội của vùng vì nó giải quyết vấn đề trồng cây
gì, ở đâu, vào lúc nào để cây trồng đạt năng suất cao nhất; làm cơ sở cho
việc lập kế hoạch sản xuất của mỗi vùng; cơ cấu cây trồng quyết định sự
phát triển của các ngành như chăn nuôi trồng trọt và chế biến ; quyết định
sự phát triển của các hệ sinh thái trong vùng và chi phối các biện pháp canh
tác, các phương thức sản xuất; cơ cấu cây trồng có mối quan hệ chặt chẽ

quả kinh tế cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng không tránh khỏi những khó
khăn thất bại trong công tác chuyển đổi. Vì vậy, mà tôi đã chọn đề tài “Tìm
hiểu vai trò của công tác khuyến nông trong việc chuyển dịch cơ cấu
cây trồng ở huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn từ năm 2005 -
2007”. Mà chủ yếu là hệ thống cây trồng nông nghiệp.
2
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Để tìm hiểu thực trạng các hoạt động khuyến nông trên địa bàn
huyện giai đoạn 2005-2007.
- Để tìm hiểu tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện.
- Tìm hiểu vai trò công tác khuyến nông trong việc chuyển dịch cơ
cấu cây trồng, những thuận lợi, khó khăn cùng với việc tìm hiểu những
thành công, thất bại và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất các biện pháp hợp lý để nâng cao vai trò công tác khuyến
nông trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng góp phần nâng cao năng suất
cây trồng và vật nuôi, tăng thu nhập cho người dân địa phương và đáp ứng
nhu cầu thực tiễn sản xuất.
1.3. Yêu cầu của đề tài:
- Tiến hành tìm hiểu điểm nghiên cứu, quan sát và thực hiện phỏng
vấn để thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp về các nội dung nghiên cứu của đề
tài.
- Đánh giá được thực trạng vai trò của công tác Khuyến nông trong
việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở địa phương.
- Tư liệu hóa được các thông tin để hoàn thành khóa luận.

3
Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Lược sử hình thành khuyến nông thế giới.
2.1.1. Lược sử hình thành khuyến nông thế giới:

nghiệp và phát triển nông nghiệp”. Năm 1853, Edward Hitchok của trường
đại học Amherst là một thành viên của Uỷ Ban Nông nghiệp bang
Massachusatts đã đề nghị thành lập “Học viện Nông dân”. Ông được xem
là nhà tiên phong về giáo dục Khuyến nông ở Mỹ, có nhiều đóng góp tích
cực thúc đẩy phát triển Nông nghiệp ở Mỹ.
Danh từ “Extension” có nghĩa là mở rộng, triển khai được sử dụng
đầu tiên ở Anh năm 1866 cùng với hệ thống giáo trình giảng dạy về nông
nghiệp được các trường đại học Cambridge và Oxford biên soạn theo
hướng “mở rộng” đầu tiên. Việc chính thức thành lập hoạt động Khuyến
nông ở Mỹ là kết hợp tổng hợp của các dạng “Extension + Education”.
Đến năm 1914, chính phủ Mỹ ra quyết định thông qua đạo luật về
khuyến nông (Smit – Lever) cho phép sử dụng các nguồn tài trợ liên bang -
tiểu bang và của địa phương vào các hoạt động khuyến nông. Các nhà khoa
học Nông nghiệp Mỹ đều ủng hộ hoạt động này. Số người Mỹ theo học
Khuyến nông và hoạt động Khuyến nông đến thời điểm đó lên tới trên 3
triệu người. [2]
2.1.2. Lược sử hình thành Khuyến nông Châu Á.
Khuyến nông Ấn Độ: Được hình thành năm 1960, được tổ chức đào
tạo theo 5 cấp. Nhờ làm tốt công tác Khuyến nông, Ấn Độ đã có một nền
nông nghiệp phát triển mạnh mẽ. Mở đầu là cuộc “cách mạng xanh” giải
quyết được cơ bản vấn đề lương thực. Sau đó đã làm “Cách mạng trắng” là
sản xuất sữa đã thành công và đang tiến hành “Cách mạng nâu” phát triển
chăn nuôi chủ yếu là trâu bò. [2]
Khuyến nông ở Thái Lan: Mãi đến năm 1967 Thái Lan mới thành
lập hệ thống Khuyến nông. Nhưng được chính phủ đặc biệt quan tâm đầu
tư cán bộ và kinh phí. Số cán bộ khuyến nông Thái Lan 1992 có khoảng
15.196 người. [2]
Khuyến nông Trung Quốc: Thực ra công tác Khuyến nông Trung
Quốc đã có từ lâu. Năm 1933 ở trường đại học Nông nghiệp Kinh Lăng đã
lập phân khoa Khuyến nông. Nhưng mãi đến năm 1970 Trung Quốc mới

Hoạt động công tác khuyến nông nhằm nâng cao trình độ mọi mặt
của người dân để tự họ vượt qua được mọi thử thách khó khăn trong sản
xuất nông nghiệp và trong cuộc sống. Từ đó, biến nông thôn thành một đơn
vị quản lý nhà nước, một bộ phận cơ bản của nền kinh tế quốc dân, đồng
6
thời có khả năng bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển có hiệu quả các
nguồn tài nguyên của đất nước hôm nay và mai sau.
Tóm lại, với quan điểm hiện đại thì mục đích của Khuyến nông là
truyền bá kiến thức, giảng dạy kỹ năng, trợ giúp những điều kiện vật chất
cần thiết cho nông dân để nông dân có đủ khả năng tự giải quyết được
những công việc chính mình, tự tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh có
hiệu quả nhằm cải thiện đời sống và phát triển nông thôn. [2]
 Ý nghĩa của Khuyến nông:
Thông qua các hoạt động khuyến nông trình độ hiểu biết của người
dân được nâng lên, để từ đó họ có khả năng tiếp nhận những tiến bộ mới về
khoa học kỹ thuật và áp dụng vào thực tế sản xuất của địa phương. Khuyến
nông giúp người dân nắm bắt được những thông tin và xử lý thông tin đó
một cách khách quan để họ có những quyết định đúng đắn trong sản xuất
và đời sống của gia đình họ.
Chỉ bằng con đường khuyến nông những tiến bộ về khoa học kỹ
thuật mới, những thông tin về kinh tế thị trường, văn hoá xã hội mới nhanh
chóng đến được với người dân để họ có điều kiện đẩy nhanh sản xuất có
hiệu quả.
Khuyến nông là cầu nối giữa nghiên cứu và sản xuất, đó là cầu nối
hai chiều giữa nhà nghiên cứu với nông dân.
Hoạt động công tác khuyến nông là một con đường xoá đói giảm
nghèo có hiệu quả. Từ đó biến vùng nông thôn nghèo nàn lạc hậu trở thành
nơi trù phú về kinh tế, sạch về môi trường và đẹp về cảnh quan, trở thành
nông thôn mới trong xu thế hội nhập của đất nước. [2]
2.2.3. Bản chất và mục tiêu của khuyến nông

của nông dân. [2]
 Vai trò của khuyến nông trong phát triển nông thôn:
Mặc dù mục đích cuối cùng của khuyến nông là thúc đẩy sự phát triển
nông thôn, nhưng không phải như vậy mà đồng nhất khuyến nông với phát
triển nông thôn. Thực tế phát triển nông thôn là cái đích của nhiều hoạt
động khác nhau và sự tác động của nhiều khía cạnh khác nhau của nông
thôn như: Chính sách, công nghệ, thị trường, giáo dục, y tế… [2]
Tóm lại, khuyến nông là một yếu tố, một bộ phận hợp thành toàn bộ
hoạt động phát triển nông thôn:
8
Khuyến nông

Tài chính Chính sách

Giáo dục Nông thôn Công nghệ

Y tế Điện tử Thị trường
Sơ đồ 1: Vai trò của Khuyến nông trong phát triển nông thôn.
 Vai trò của khuyến nông với nhà nước:
Khuyến nông là người trực tiếp giúp nhà nước thực hiện những chiến
lược, chính sách về nông nghiệp và nông thôn.
Khuyến nông là người trực tiếp vận động nông dân tiếp thu và thực
hiện những chủ trương, chính sách nông nghiệp của nhà nước.
Khuyến nông là người trực tiếp cung cấp thông tin về những nhu
cầu, đòi hỏi, những nguyện vọng của nông dân cho nhà nước, để từ đó nhà
nước có cơ sở hoạch định những chính sách phù hợp.
Khuyến nông còn là người trực tiếp giúp nhà nước phân phối, sử
dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn vốn, quỹ và các nguồn lực dành cho
việc phát triển nông nghiệp nông thôn. [2]
2.3. Tình hình hoạt động của Khuyến nông.

khai ở hầu hết các tỉnh trong cả nước với tổng diện tích mô hình 6.410
ha. Chương trình đã góp phần thúc đẩy mở rộng diện tích, chuyển đổi
trên 600.000 ha từ cây trồng kém hiệu quả, chế độ canh tác cũ sang cây
trồng chế độ canh tác mới hiệu quả cao làm tăng thu nhập trên mỗi ha từ
1,3 đến 5 lần, thậm chí có nơi trên 100 lần với giá tương đương từ 5 đến
200 triệu đồng, chương trình góp phần né tránh thiên tai bất thuận cho
cây trồng. [11]
Chương trình khuyến nông phát triển cây công nghiệp dài ngày:
Chương trình này được triển khai trên nhiều tỉnh nhất là vùng Tây Nguyên
và Trung Du miền núi phía Bắc, thu hút hơn 15.000 hộ nông dân tham gia
10
trên tổng diên tích mô hình 10.031 ha. Kết quả, đã góp phần mở rộng diện
tích theo quy hoạch và cơ cấu nguyên liệu cho cơ sở chế biến tham gia
công tác xuất khẩu. [11]
- Chương trình khuyến nông chăn nuôi nhằm khuyến khích, hổ trợ
phát triển nhiều vật nuôi có giá trị kinh tế cao, đặc biệt một số chương trình
khuyến nông trọng điểm về lợn, bò, gia cầm.
+ Chương trình khuyến nông chăn nuôi lợn hướng nạc: Thu hút
khoảng 13.000 hộ thuộc 40 tỉnh thành tham gia với tổng số lợn nuôi của
chương trình là 32.786 con. Chương trình này đã gắn chăn nuôi với chương
trình xây bể khí sinh học để xử lý chất thải. Chương trình khuyến nông
chăn nuôi lợn hướng nạc đã góp phần thúc đẩy phát triển chăn nuôi trang
trại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy vậy, vẫn còn một số tồn
tại như: Chất lượng giống trong xây dựng mô hình chưa được coi trọng
đúng mức, mô hình xây dựng còn tản mạn chưa tập trung, số lượng cán bộ
khuyến nông còn thiếu. [11]
+ Chương trình khuyến nông chăn nuôi cải tạo đàn bò:
Chương trình đã thu hút trên 482.000 hộ nông dân tham gia ở gần 50
tỉnh thành. Kết quả, đã tạo 700 dẫn tinh viên chính quy, trên 2.000 dẫn tinh
viên cấp huyện và 6.000 khuyến nông viên chăn nuôi thú y. Huấn luyện kỹ

Trong nhiều năm qua, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã có sự
phối hợp cộng tác thường xuyên với nhiều cơ quan thông tin, nhiều loại
hình báo chí để cung cấp và truyền tải các thông tin về hoạt động khuyến
nông tới các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý và bà con nông dân.
Từ năm 1994, các chương trình phát thanh thời sự, nông nghiệp nông
thôn của đài tiếng nói Việt Nam đã thường xuyên phản ánh các nội dung
của các hoạt động khuyến nông, trao đổi kinh nghiệm với những nông dân
sản xuất giỏi với số lượng từ 500 - 650 lượt tin, bài/năm Đặc biệt từ năm
1996, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với VTV2 - Đài Truyền
hình Việt Nam xây dựng chương trình “nông dân cần biết” sau chuyển
thành “bạn nhà nông”. [11]
Từ 1999, chương trình “cùng với nông dân tìm cách làm giàu” được
ra mắt nhằm mở rộng diễn đàn giao tiếp giữa các nhà khoa học với nông
dân. Ngoài ra, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã phối hợp tuyên truyền
hoạt động khuyến nông với các báo, tạp chí như: Nhân dân, nông nghiệp
Việt Nam, nông thôn ngày nay, kinh tế nông thôn [11]
- Sản xuất và xuất bản các tác phẩm:
12
Tờ tin Khuyến nông Việt Nam xuất bản 4 số/năm, từ tháng 1 năm
2004 tăng lên 6 số/năm. Trung tâm Khuyến nông in ấn, xuất bản nhiều ấn
phẩm, tài liệu băng đĩa với nhiều nội dung phong phú, phù hợp với nhiều
đối tượng.
- Tổ chức các hội thi, hội chợ và tôn vinh nông dân sản xuất giỏi:
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã tập hợp đông đảo các hội, đoàn
thể, tổ chức, cá nhân tham dự nhiều hình thức như: Nhà nông đua tài, nông
dân giỏi, khuyến nông viên giỏi, phiên chợ giống cây trồng Số lượng hội
chợ, hội thi do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức tuy còn ít nhưng
tiếp sau đó có hàng chục hội thi khác do tỉnh, huyện, đoàn thể học tập và áp
dụng. [11]
2.3.2. Tình hình hoạt động của Khuyến nông tỉnh trong thời gian qua:

được cải tạo theo hướng chuyên thịt, 105 con bò được vỗ béo bò thịt, trồng
14 ha cỏ giống mới theo biện pháp thâm canh. Theo tính toán của nhiều hộ
nông dân đàn bò sau khi vỗ béo 2 tháng, trọng lượng thịt hơi tăng từ 40 -
50kg, vì vậy hiệu quả kinh tế đạt từ 1,3 - 1,5 triệu đồng/con, sau khi trừ chi
phí còn cho lãi từ 500 - 600 ngàn đồng/con. [12]
Xây dựng mô hình chăn nuôi lợn nạc xuất khẩu
Xây dựng mô hình khuyến nông tại Hương Khê và Cẩm Xuyên.
 Công tác thông tin tuyên truyền:
Kế thừa kết quả phối hợp hoạt động tuyên truyền trên lĩnh vực sản
xuất nông nghiệp - nông thôn đã đạt được trong những năm qua, năm 2007
Trung tâm Khuyến nông - Khuyến lâm đã ký hợp đồng với báo Hà Tĩnh
mở chuyên mục Nông nghiệp - Nông thôn, mục nhà nông cần biết, địa chỉ
nhà nông
Mỗi chuyên mục được phát hành 3 - 4 lần/tháng, với bài viết của các
phóng viên báo Hà Tĩnh; các cộng tác viên của Trung tâm khuyến nông,
chuyên viên của Sở NN & PTNT, cán bộ kỹ thuật của các đơn vị cấp
huyện, thị. Đối với Chuyên mục Nông nghiệp - Nông thôn phát sóng trên
Đài phát thanh truyền hình Hà Tĩnh đã phát sóng vào tối thứ 4 hàng tuần và
phát lại vào sáng thứ 5 ngày kế tiếp, với thời lượng từ 10 - 15 phút/buổi
phát. [12]
2.4. Những nghiên cứu về cơ cấu cây trồng.
2.4.1.Khái niệm về cơ cấu cây trồng:
Cơ cấu cây trồng là thành phần và các loại giống cây trồng bố trí theo
không gian và thời gian trong một cơ sở hay một vùng sản xuất nông
nghiệp. Cơ cấu cây trồng của một vùng sản xuất nông nghiệp sẽ thể hiện
14
cho chúng ta biết được một số đặc điểm sau: Số vụ bố trí trong một năm,
thành phần cây trồng trong từng mùa vụ, tỷ lệ diện tích trồng trọt giữa các
loại cây trồng. [7]
2.4.2. Sự cần thiết của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với sản xuất

trở thành tập quán canh tác truyền thống của người dân, tuy nhiên các cơ
cấu này thường có năng suất và hiệu quả kinh tế thấp. Vì vậy, mà việc
trồng các loại cây trồng khác có năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn là
hết sức cần thiết.
Chuyển đổi theo yêu cầu thị trường: Nông sản là mặt hàng rất nhạy
cảm với thị trường. Bên cạnh đó, việc cung vượt cầu, sản phẩm người dân
chất đống không bán được Khi gặp vấn đề này xẩy ra, việc đầu tiên đối
với chính quyền địa phương là phải tìm cách chuyển đổi sang trồng các loại
cây trồng khác phù hợp địa phương và thị trường đang có nhu cầu.
Chuyển đổi theo kế hoạch của vùng và nhà nước: Các cơ quan nhà
nước thường đưa ra các định hướng điều chỉnh cơ cấu cây trồng theo kế
hoạch 5 hoặc 10 năm tới để điều tiết thị trường nông nghiệp. Khi có kế
hoạch của nhà nước đưa xuống, các địa phương sẽ xem xét điều kiện cụ thể
của địa phương mình và có kế hoạch điều chỉnh cơ cấu cây trồng cho phù
hợp với định hướng của nhà nước.
Chuyển đổi để tạo vùng sản xuất tập trung, chuyên môn hóa:
Nhiều vùng trước đây bà con nông dân thường bố trí cây trồng
theo hướng tự phát, dẫn đến sản xuất manh mún, sản phẩm không tập
trung, gây khó khăn cho việc triển khai kỹ thuật nông nghiệp cũng như
xây dựng thị trường tiêu thụ. Trước tình hình đó các địa phương nên
chủ động tìm ra các loại cây trồng chủ lực, có tiềm năng để đưa vào cơ
cấu cây trồng của người dân. [7]
2.4.3. Tình hình phát triển cây trồng nông nghiệp ở Việt Nam và các
chương trình khuyến nông về chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong những
năm qua.
Trong những năm qua, trong cả nước đã có nhiều chương trình, hoạt
động về chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.
Như: Theo PGS.TS Tạ Minh Sơn (Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp
Việt Nam) cho biết: Sản xuất lúa 3 vụ ở khu vực nam Miền Trung còn bộc
lộ nhiều yếu điểm đó là: Đầu vụ thì thiếu nước, cuối vụ khi lúa chín thì gặp

cầu của thị trường làm cho tỷ lệ diện tích đất trồng lúa và trồng màu có sự
thay đổi. [7]

17
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu.
- Nghiên cứu hệ thống cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện
- Nghiên cứu hệ thống khuyến nông trên địa bàn huyện và vai trò của
khuyến nông trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng (cơ cấu tổ chức, hoạt
động của khuyến nông huyện trong thời gian qua).
- Các hộ có tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp, và có sự
chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong những năm qua (đặc biệt từ năm 2005 –
2007), các cán bộ địa phương và huyện, xã
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu.
- Về không gian: Đề tài được thực hiện tại địa ban huyện Can Lộc –
Hà Tĩnh.
- Về thời gian: Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 2/1 đến ngày 5/5
năm 2008. Thực hiện đánh giá vai trò công tác khuyến nông trong việc
chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại huyện Can Lộc giai đoạn 2005- 2007
3.2. Nội dung nghiên cứu.
Đề tài thực hiện nghiên cứu những nội dung sau:
3.2.1. Tình hình cơ bản ở địa phương
- Điều kiện tự nhiên:
+ Vị trí địa lý, địa hình
+ Điều kiện khí hậu, thuỷ văn
+ Điều kiện đất đai thổ nhưỡng
- Điều kiện kinh tế xã hội
+ Dân số, lao động

2005 - 2007), chọn phỏng vấn cả 3 loại hộ khá, trung bình và hộ nghèo.
+ Dung lượng mẫu: Đề tài chọn khảo sát 45 hộ, được chia đều cho 3
xã. Mỗi xã chọn 15 hộ theo tiêu chí trên để tiến hành điều tra.
19
+ Phương pháp chọn mẫu: Lấy danh sách tên các hộ tại trưởng thôn,
sau đó chọn ngẫu nhiên trong danh sách 5 hộ khá, 5 hộ nghèo và 5 hộ trung
bình để tiến hành phỏng vấn.
3.3.2. Phương pháp thu thập số liệu:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
+ Niên giám thống kê huyện Can Lộc trong 3 năm (2005 - 2007)
+ Báo cáo về tình hình phát triển kinh tế, xã hội của huyện trong 3
năm (2005 - 2007).
+ Báo cáo tình hình hoạt động khuyến nông của trạm khuyến nông
huyện.
+ Báo cáo về tình hình sử dụng đất của huyện.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
+ Phỏng vấn hộ có sử dụng phiếu khảo sát: Dùng để lấy thông tin
phục vụ cho đề tài thông qua việc phỏng vấn 45 hộ. Bảng hỏi sau khi được
thiết kế thì tiến hành phỏng vấn thử, nếu thông tin lấy được chưa đầy đủ thì
tiến hành bổ sung và hoàn thiện.
- Sử dụng công cụ PRA:
+ Quan sát thực địa
+ Phương pháp phỏng vấn sâu người am hiểu trong địa phương
+ Lập phiếu điều tra hộ dựa trên mục đích và yêu cầu của đề tài
3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu:
Sử dụng phần mềm excel
20
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Tình hình cơ bản ở địa phương

và mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
 Nhiệt độ:
Nhiệt độ bình quân trong năm dao động từ 22,9
0
C - 25,1
0
C. Về mùa
nóng, là thời kỳ nhiệt độ trung bình ổn định trên 25
0
C. Ngày bắt đầu nóng
có thể xẩy ra từ tháng 4 đến giữa tháng 10. Vào thời gian này nhiệt độ cao
nhất là từ tháng 6 đến tháng 8 có khi lên đến 39,7
0
C.
Về mùa lạnh, do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc tràn về nên
thời tiết ở đây có một mùa đông tương đối lạnh. Nhiệt độ vào tháng 12 và
tháng 1 có khi xuống dưới 8
0
C.
 Lượng mưa:
Lượng mưa bình quân từ hàng năm khoảng 2.400 mm/năm (riêng
các tháng từ tháng 8 đến tháng 10 lượng mưa khoảng 1.200 mm/năm chiếm
khoảng 50% lượng mưa trung bình năm).
Số ngày mưa trung bình ở huyện Can Lộc khoảng 145 ngày đến 160
ngày. Đặc biệt trong tháng 9 năm 2007 vừa qua ở huyện Can Lộc xuất hiện
mưa lớn, kéo dài trong nhiều ngày đã gây ra hiện tượng ngập úng làm ảnh
hưởng lớn đến năng suất mùa màng.
 Độ ẩm:
Độ ẩm bình quân ở huyện Can Lộc là 84,5%, tháng cao nhất là 92%,
tháng thấp nhất là 70%. Ẩm độ thường cao vào những tháng cuối mùa xuân

có các biện pháp để bố trí cơ cấu cây trồng, cũng như chế độ canh tác phù
hợp với từng vùng, từng địa phương thậm chí mỗi chân ruộng, mỗi sườn
đồi để nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.
 Đất đai, địa hình:
Địa hình huyện Can Lộc tương đối phức tạp, với các độ cao khác
nhau, nên trên địa bàn huyện được chia ra làm 3 vùng chính đó là: vùng Hạ
Can, vùng Trung Can và vùng Thượng Can. Giữa các vùng có sự khác
nhau rõ rệt.
Vùng Hạ Can nằm về phía Đông Bắc của huyện, là vùng khá đặc
biệt và tương đối phức tạp về địa hình. Gồm 10 xã, trong đó có một số xã
như: Hồng Lộc, có nhiều đồi núi lượn sóng nối liền với dãy núi Hồng Lĩnh
có độ cao từ 300 – 1.000 m so với mực nước biển. Trong khi đó có một số
xã lại tiếp giáp với biển có địa hình tương đối thấp thường bị nước biển
xâm thực gây ra nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất nông nghiệp.
Vùng Trung Can gồm 14 xã là vùng có địa hình tương đối bằng
phẳng, ít đồi núi thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp.
23
Vùng Thượng Can gồm 6 xã là vùng có địa hình tương đối phức tạp
với nhiều đồi núi. So với vùng Trung Can thì vùng Thượng Can gặp nhiều
khó khăn hơn trong quá trình sản xuất nông nghiệp.
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
 Dân số - lao động:
Theo thống kê năm 2007, toàn huyện Can Lộc có 43.440 hộ gia đình,
với 182.162 nhân khẩu, mật độ dân số bình quân khoảng 486 người/km
2
.
Là một huyện mà cộng đồng dân cư 100% là dân tộc kinh. Đây là một
thuận lợi lớn trong việc quản lý cũng như phát triển kinh tế. Là một huyện
nông nghiệp nên dân cư chủ yếu là sống ở vùng nông thôn chiếm trên 90%,
còn lại dưới 10% là dân cư sống ở thành thị.

tưới cho sản xuất đóng vai trò quan trọng.
Hiện nay, toàn huyện có 14 hồ đập với dung tích trên 47 triệu m
3
nước ngọt, có 79 trạm bơm, trên 150 km kênh mương được bê tông hóa
Hàng năm đã cung cấp được một lượng lớn nước tưới phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp.
 Văn hóa, giáo dục, Y tế:
 Văn hóa – Văn nghệ - Thể thao:
Hiện nay, toàn huyện có 5 đài phát thanh, 1 thư viện, 1 nhà văn hóa.
Tất cả các xóm đã có nhà hội quán.
Tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn
trong năm và bầu cử Quốc hội. Tăng cường thanh tra xử phạt vi phạm
các hoạt động quảng cáo, dịch vụ văn hóa, kinh doanh băng đĩa hình,
karaokê, internet, photocoppy. Tập trung chỉ đạo thực hiện cuộc vận
động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, nâng cao chất
lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng xã văn hóa, đơn vị văn
hóa, toàn huyện đã có 67% gia đình văn hóa; 69 làng xã và 25 đơn vị văn
hóa. Chú ý công tác tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa. Tích cực hoàn
thiện hồ sơ đề nghị xếp hạng một số di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn,
đã có 21 di tích lịch sử, văn hóa được xếp hạng, trong đó có 13 di tích
lịch sử cấp Quốc gia, 8 di tích cấp tỉnh.
Đài phát thanh truyền hình sản xuất được 60 chương trình truyền
hình và 100 chương trình phát thanh, với 2.000 tin, 150 bài và phóng sự, 25
trang truyền hình và phát thanh địa phương phát trên đài tỉnh. Hệ thống
truyền thanh cơ sở hoạt động có hiệu quả có tác dụng tích cực trong việc
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status