PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong những năm qua, kinh tế Việt Nam có nhiều đổi mới. Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng theo hướng CNH, HĐH là con đường đã được Đảng và
Nhà nước ta xác định là hướng đi tất yếu để phát triển kinh tế, đưa nước ta
thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh,
hiện đại. Cơ cấu kinh tế hợp lý là đảm bảo cho sự phát triển, tăng trưởng đồng
bộ và cân đối, tạo điều kiện thúc đẩy những ngành trọng điểm mũi nhọn nhằm
tạo ra tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Ngoài ra, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
còn dẫn tới giải phóng sức sản xuất xã hội, khai thác có hiệu quả những tiềm
năng của đất nước, thu hút được nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài để tạo ra những
công ăn việc làm cho người lao động.
Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi
Việt Nam phải có những bước đi mang tính đột phá để tận dụng những cơ hội,
vượt qua những thách thức khi đã vào sân chơi lớn WTO, nhiệm vụ Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá nền kinh tế Quốc Dân được đặt lên hơn bao giờ hết,
trong đó nhiệm vụ trọng tâm là chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Quảng Điền, một huyện thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, trong những năm qua
thực hiện đường lối phát triển chung của cả nước, nền kinh tế có nhiều biến
đổi. Đây là huyện có nhiều vùng đầm phá thuận lợi để phát triển ngành thủy
sản. Ngoài ra, đây cũng là một thị trường cung cấp nhiều nông sản như: sắn,
ngô, khoai lang... không chỉ đáp ứng nhu cầu trong địa bàn huyện mà còn thỏa
mãn nhu cầu của toàn tỉnh, và một số vùng, tỉnh khác.
Cũng giống như toàn tỉnh, huyện Quảng Điền luôn chịu ảnh hưởng nặng nề
của thiên tai lũ lụt hàng năm. Trong thời gian đó, mọi hoạt động kinh tế bị gián
đoạn, ngưng trệ. Do đó, muốn phát triển kinh tế đòi hỏi phải xác định đúng
bước đi, chính sách đúng đắn. Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện nhất quán
đường lối phát triển chung của cả tỉnh nói riêng và cả nước nói chung, nền kinh
tế của huyện Quảng Điền có sự chuyển dịch theo hướng tích cực góp phần thúc
đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước.
1
2
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp duy vật biện chứng.
- Phương pháp luận nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập tổng hợp.
- Phương pháp thống kê.
6. Ý nghĩa của đề tài:
Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Quảng Điền trong giai đoạn CNH, HĐH,
làm cơ sở cho việc phát triển kinh tế của huyện Quảng Điền trong thời gian sắp
tới.
Đề tài còn là một tài liệu tham khảo có giá trị đích thực cho những ai quan
tâm.
7. Kết cấu của dề tài:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận kiến nghị, đề tài được kết cấu làm 3
chương.
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
1.1. Những vấn đề cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình
CNH, HĐH.
1.1.1. Cơ cấu kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu (hay kết cấu): Là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng
dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong hay một hệ thống, biểu hiện sự thống
nhất các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi chỉ
rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như là một
thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sư biến đổi của sự vật
hiện tượng. Như vậy, có thể thấy có rất nhiều trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ
- Cơ cấu ngành kinh tế.
Các loại cơ cấu nói trên có mối quan hệ gắn kết, tương tác với nhau.
Thứ nhất: Cơ cấu thành phần kinh tế có cơ sở hình thành là chế độ sở hữu,
bởi vậy, sự hợp lý của nó phản ánh một hệ thống tổ chức kinh tế với chế độ sở
hữu có khả năng thúc đẩy lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát
triển. Với ý nghĩa đó, cơ cấu thành phần kinh tế tác động đến cơ cấu ngành
kinh tế và cơ cấu lãnh thổ, đồng thời nó cũng chịu tác dụng ngược trở lại của
hai loại cơ cấu này. Ở nước ta hiện nay có năm thành phần kinh tế: Kinh tế nhà
nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài.
Thứ hai: Cơ cấu vùng - lãnh thổ: Là sự bố trí các ngành sản xuất và dịch vụ
theo không gian cụ thể nhằm khai thác mọi ưu thế, tiềm năng to lớn của các
vùng. Từ đó hình thành nên tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất nhằm phát
huy tới mức cao nhất sức mạnh kinh tế của từng vùng và toàn bộ nền kinh tế. Ở
đây, xu thế chuyển dịch cơ cấu vùng, lãnh thổ là đi vào chuyên môn hoá và tập
trung hoá sản xuất và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn,
tập trung hiệu quả cao, mở rộng với quan hệ với các vùng chuyên môn khác,
gắn cơ cấu kinh tế của từng khu vực với cơ cấu kinh tế của cả nước.
5
Thứ ba: Cơ cấu ngành kinh tế: Hình thành trên cơ sở phân chia lao động xã
hội (chung, đặc thù, cá biệt) và chuyên môn hoá sản xuất còn cơ cấu lãnh thổ
được hình thành dựa trên phân bố lực lượng sản xuất ở tầm tổng thể nhằm phát
huy cao nhất sức mạnh kinh tế của từng vùng cũng như sức mạnh của toàn bộ
nền kinh tế.
Sự phát triển nền sản xuất xã hội từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá
cũng có nghĩa là xuất hiện những ngành sản xuất độc lập nhau, dựa trên những
đối tượng sản xuất khác nhau. Ở đây, cơ cấu ngành kinh tế biểu hiện ra dưới
các hình thức ngành lớn (ngành cấp I); nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, các
phân ngành (ngành cấp II); chăn nuôi, trồng trọt…Sự vận động của các ngành
kinh tế và mối quan hệ của nó vừa tuân theo những đặc điểm chung của sự phát
nghiệp - dịch vụ. Trong những năm trước mắt, phát triển mạnh công nghiệp chế
biến và kết cấu hạ tầng, chuẩn bị điều kiện để phát triển các ngành mũi nhọn và
có lợi thế so sánh.
- Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần: Chuyển từ cơ cấu kinh tế quốc doanh,
tập thể là chủ yếu sang cơ cấu kinh tế nhiều thành phần: Kinh tế nhà nước, kinh
tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài trong đó phải củng cố kinh tế nhà nước, phát triển mạnh kinh tế tập thể
và kinh tế tư nhân.
- Cơ cấu lãnh thổ: Cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần chỉ có thể đạt được
chuyển dịch trên một lãnh thổ nhất định. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế lãnh thổ
theo hướng phát triển toàn diện và tập trung có trọng điểm, phát triển tổng hợp
kết hợp với chuyên môn hoá. Trong những năm tới, cần đầu tư phát triển các
vùng kinh tế trọng điểm, các khu kinh tế đặc biệt và các cực phát triển kinh tế
để tạo ra sự tăng trưởng nhanh, trên cơ sở lôi cuốn, thúc đẩy sự phát triển toàn
diện.
1.1.1.3. Các tiêu chí để đánh giá một cơ cấu kinh tế hợp lý.
Một là: Kinh tế - xã hội, nhất là các quy luật kinh tế như: Quy luật quan hệ
sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, những quy luật kinh tế thị trường như: Quy luật giá trị, quy luật cung cầu,
7
quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ, các quy luật của tái sản xuất
như: quy luật năng suất lao động, quy luật tích luỹ, phân phối tổng sản phẩm xã
hội và thu nhập quốc dân.
Hai là: Đảm bảo khai thác tối đa các tiềm năng, nguồn lực của cả nước,
các ngành, các địa phương, các lãnh thổ qua các phương án sản xuất kinh
doanh.
Ba là: Sử dụng được ngày càng nhiều lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh
giữa các nước, các vùng và khu vực. Vai trò này gắn với việc hình thành cơ cấu
“kinh tế mở”. Ở góc độ vĩ mô phải gắn với việc xây dựng chiến lược hướng
mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu các mặt hang trong nước sản
vùng lãnh thổ. Kinh tế Việt Nam muốn phát triển nhanh cần kết hợp chặt chẽ
giữa các loại quy mô lớn, vừa, nhỏ. Trong thời gian đầu, cần phát triển mạnh
các loại quy mô vừa và nhỏ, vì nó dễ thích nghi với sự thay đổi của kinh tế thị
trường, phù hợp với nguồn vốn còn hạn hẹp và phát huy được hiệu quả nhanh
đồng thời phải coi trọng những quy mô lớn cần thiết như các tập đoàn sản xuất
lớn thì mới có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tương ứng với các loại
quy mô đó cần kết hợp chặt chẽ giữa kỹ thuật công nghệ hiện đại với kỹ thuật
truyền thống, trong đó phải ưu tiên các loại kỹ thuật công nghệ hiện đại thích
hợp với các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế và vùng trọng điểm.
Bốn là: Cơ cấu kinh tế cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH đòi hỏi phải
thực hiện quan điểm kinh tế “mở” trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền của
đất nước, bảo đảm an ninh quốc gia và sự bền vững của môi trường.
1.1.3. Các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Tuỳ từng mục tiêu nghiên cứu và từng góc độ tiếp cận mà người ta có
thể phân chia chúng thành những tổ hợp khác nhau, chẳng hạn: Những nhân tố
bên trong và bên ngoài, những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và những nhân tố
ảnh hưởng gián tiếp…
9
1.1.3.1. Các nhân tố đầu vào của sản xuất
Nhóm các nhân tố đầu vào của sản xuất gồm tập hợp các nguồn lực mà xã
hội có thể huy động vào quá trình sản xuất, bao gồm các nhân tố chính là:
- Các nguồn lực tự nhiên (tài nguyên nước, đất, rừng, khoáng sản…).
Nhà kinh tế học cổ điển William Petty đã từng nói: “lao động là cha của
của cải, còn đất là mẹ của nó”. Cơ cấu kinh tế của một quốc gia như thế nào
đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của nguồn tài nguyên mà thiên nhiên ban tặng. Quy
mô đất đai, địa hình, khí hậu, nguồn nước…là điều kiện tự nhiên của các loại
hình sản xuất nông nghiệp khác nhau.
Có thể thấy rằng tài nguyên thiên nhiên là cơ sở xuất phát tự nhiên quan
trọng để hình thành cơ cấu kinh tế của các nền kinh tế trên thế giới. Ở nước ta,
sản phẩm, có tự trọng cao về mặt xã hội, có kỷ luật trong lao động…) chất
lượng lao động còn thể hiện ở trình độ tay nghề, kỹ năng lao động và kiến
thức(bao gồm cả kiến thức chuyên môn và nững kiến thức xã hội cần thiết
khác). Vì vậy, đầu tư cho giáo dục là loại đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế - xã
hội tổng hợp lớn nhất, mặt khác đầu tư cho giáo dục là loại đầu tư trực tiếp cho
sản xuất chứ không phải là đầu tư cho lĩnh vực sản xuất, vốn chỉ được xét đến
sau khi đã đầu tư cho các ngành sản xuất như trong hầu hết các báo cáo kinh tế
cũng như cách phân loại thống kê học.
- Nguồn vốn: Nhân tố kinh tế quan trọng luôn ảnh hưởng trực tiếp tới quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia là quy mô nguồn vốn đầu tư.
Do khởi phát quá trình CNH trong điều kiện trong điều kiện một nền kinh tế
nghèo nàn, hầu như dối với tất cả các nước đang phát triển, nguồn vốn đầu tư
luôn là chiếc “cổ họng hẹp” đối với quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế. Ngày nay, dưới tác động của quá trình toàn cầu hoá kinh tế với một
trong những đặc trưng nổi bật nhất là toàn cầu hoá tài chính, dòng chảy vốn
đấu tư tài chính mang tính chất toàn cầu đang gia tăng với tốc độ nhanh, quy
mô lớn, đã góp phần quan trọng vào việc nới bớt “nút thắt” về nguồn vốn đầu
tư đối với các nước đang phát triển vì xét một cách tổng quát vốn là căn bệnh
đối với những quốc gia đang mong muốn đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH. Vì
11
lẽ đó, việc xác định cơ cấu kinh tế không thể không tính tới khả năng của
nguồn vốn đầu tư có thể huy động được.
Dòng vốn đầu tư nước ngoài có thể trở thành một trong những động lực
mạnh, tạo ra “cú huých” lớn, thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế. Các dòng vốn nước ngoài có thể chảy theo các kênh đầu tư trực
tiếp (FDI), hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho vay thương mại, kiều hối
hoặc đầu tư gián tiếp trên thị trường chứng khoán. Vì vậy, để có thể khơi thông
dòng chảy vốn đầu tư từ bên ngoài, một mặt cần cải thiện mạnh mẽ môt trường
đầu tư, và mặt khác không thể không xây dựng và phát triển thị trường chứng
khoán.
khía cạnh cần có tác động mạnh tới sự hình thành và phát triển của những phân
ngành kinh tế nhất định. Sự khuyến khích hay không khuyến khích, thậm chí
cấm ngặt đối với một số lĩnh vực nào đó sẽ có tác dụng làm gia tăng mức tăng
trưởng hay kìm hãm, thậm chí loại bỏ một số lĩnh vực (sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ), mặc dù tiềm năng cung và mức cầu của dân cư vẫn tồn tại.
Như vậy, trong điều kiện của kinh tế thị trường, việc nghiên cứu tác động
của yếu tố thị trường (đầu ra của các sản phẩm) là một nội dung không thể bỏ
qua đối với các chính sách về cơ cấu kinh tế. Lí do đơn giản là vì mức độ ảnh
hưởng của chúng đối với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ không
kém các nhân tố cung (đầu vào của sản xuất). Tuy nhiên, đây lại đang là một
điểm yếu trong tiếp cận nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
hiện nay, một phần do cơ chế chỉ tập trung vào khía cạnh các nhân tố của sản
xuất vật chất trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây vẫn còn chi
phối mạnh trong tư duy và chính sách kinh tế.
1.1.3.3. Các nhân tố về cơ chế chính sách
Trong một thời gian dài trong cơ chế hế hoạch hoá tập trung, xu hướng hình
thành cơ cấu kinh tế tổng quát của Việt Nam và những nước xã hội chủ nghĩa
thời kỳ đó là “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng”. Từ sự chỉ đạo này, phần
lớn nhất nguồn lực quốc gia của Việt Nam trong một thời kỳ dài cũng đã được
dành cho phát triển lĩnh vực công nghiệp nặng. Một chủ trương khác được thay
thế vào đầu những năm 1980 là ba chương trình kinh tế mới: Lương thực -
13
Thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”. Cơ cấu kinh tế nhờ đó mà có
sự điều chỉnh nhất định do do các nguồn lực được phân bổ lại theo hướng ưu
tiên cho những ngành kinh tế này. Tình hình cũng diễn ra tương tự như vậy đối
với các thành phần kinh tế, khi mà đường lối đổi mới với chủ trương đa dạng
hoá các thành phần kinh tế đựợc khẳng định, các thành phần kinh tế ngoài nhà
nước đã có điều kiện phát triển lên.
Có thể thấy rằng quá trình chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế chịu tác động
của nhiều nhân tố. Trong điều kiện hiên nay, dưới tác động của quá trình toàn
năm trong giai đoạn 1996 - 2000 là 7,3 %, năm 2002 là 9,8%, cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 48,03% (1995)
xuống còn35,9% (2002), cũng trong thời kỳ này tỷ trọng công nghiệp xây dựng
tăng từ 25,3% lên 34,59%, dịch vụ du lịch từ 26,3% lên 29,51%. [21]
Hai là: Với điều kiện nước ta hiện nay, đồng thời với việc tham khảo kinh
nghiệm các quốc gia đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiến hành công nghiệp
hoá thành công thì phải tập trung chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp
nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá đi đôi với đô thị hoá, bảo đảm sự phát
triển bền vững, tăng nhanh tích luỹ từ nội bộ nông nghiệp, tăng thu nhập, cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; không ngừng tăng năng suất
lao động nông nghiệp, từng bước chuyển lao động nông nghiệp sang các ngành
kinh tế khác.
Ba là: Đẩy mạnh công tác chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật và sản
xuất đồng thời cung cấp các thông tin thị trường cần thiết và có sự hỗ trợ cụ thể
cho mỗi hộ sản xuất để có thể thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhanh và
đạt hiệu quả cao.
Chẳng hạn, ở xã Quỳnh Thắng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An khi hạch
toán đối với cây dứa cho thấy suất đầu tư khoảng 6 tấn phân NPK cho một ha,
thời gian đầu do chủ động được chồi giống nên phải nhập với giá 600 - 650
đồng/chồi, nay nhờ áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật nên đã giảm được suất
đầu tư giống xuống còn một nửa. [21]
15
Việc cung cấp thông tin thị trường cần thiết là một trong những điểm rất
mới và thiết thực đối với mỗi hộ, mỗi vùng sản xuất. Ở thành phố Hồ Chí Minh
đã hình thành những trung tâm giao dịch mua bán sỉ và lẻ cho mỗi loại cây,
con, lập các trang web để triển khai mua bán, tìm đối tác qua các chợ trên mạng
Internet, thiết lập trung tâm tư vấn hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp nhà nước.
Bốn là: Tạo môi trường thuận lợi, thu hút mọi nguồn vốn đầu tư trong nước
và ngoài nước. Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân
sách.
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hóa,
giữ vững ổn định tình hình chính trị và an ninh xã hội ở nông thôn.
Chính phủ đóng vai trò quyết định tạo ra tình hình ổn định kinh tế - xã hội,
trong đó ổn định chính trị là điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng kinh tế. Chính
phủ ban hành các chính sách, biện pháp và các công cụ khác nhau để chủ động
tác động một cách tích cực đến việc xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối
chiến lược đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến hành sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đồng thời, chính phủ còn tạo điều kiện và
môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, kịp thời
đưa ra các chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng, đầu tư phát triển nguồn nhân lựcvà tích lũy vốn.
1.2.2. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tỉnh Thừa Thiên Huế
Kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm qua tăng trưởng khá cao, cơ
cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 5 năm 2001 - 2005 đạt gần 9,5% cao
hơn 3,2% so với thời kỳ 1996-2000, cao hơn trung bình của cả nước 7,1%,
bằng mức trung bình các tỉnh Bắc Trung Bộ 9,2% là thời kỳ có mức tăng
trưởng khá cao, tương đối ổn định và có tính bền vững hơn so với các thời kỳ
trước .[2, 5]
Nông nghiệp phát triển theo chiều hướng tích cực, có tiến bộ vượt bậc trong
ứng dụng khoa học công nghệ mới về giống và chyển đổi cơ cấu cây trồng vật
nuôi làm năng suất tăng nhanh, hiệu quả sản xuất cao hơn trước, góp phần nâng
cao giá trị sản lượng bình quân trên diện tích canh tác, từng bước đa dạng hoá
17
ngành nghề trong nông thôn, nông nghiệp, tạo bước ngoặt quan trọng về nâng
cao đời sống các tầng lớp dân cư, góp phần cơ bản giữ vững ổn định kinh tế -
xã hội, giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 8,4%.
Ngành công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh toàn diện, hình thành
các ngành kinh doanh mũi nhọn, đóng vai trò chủ đạo, động lực cho toàn bộ
nền kinh tế. Giá trị sản xuất tăng bình quân 15,9%/năm, giải quyết việc làm cho
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG THỜI
KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ -HIỆN ĐẠI HOÁ Ở HUYỆN QUẢNG ĐIỀN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Quảng Điền ảnh
hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lí
Quảng Điền là một huyện phía Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố
Huế khoảng 10 - 15km. Phía Đông và Nam giáp huyện Hương Trà, phía Tây và
Tây - Bắc giáp huyện Phong Điền, phía Bắc và Đông - Bắc giáp biển Đông.
Với giới hạn đó, Quảng Điền năm gọn trong khoảng 16
o
30’58” - 16
o
40’13” vĩ
độ bắc và 107
o
21’38” - 107
o
34’ kinh độ đông.
Toàn huyện được tổ chức theo 11 đơn vị hành chính, trong đó có một thị
trấn và 10 xã, đó là: Thị trấn Sịa và 10 xã gồm: Quảng Thái, Quảng Lợi, Quảng
Ngạn, Quảng Công, Quảng Phước, Quảng An, Quảng Thành, Quảng Vinh,
Quảng Phú, Quảng Thọ. Phía nam huyện Quảng Điền có sông Bồ chảy ngang
qua. Sông Bồ là một phụ lưu quan trọng của sông Hương, bắt nguồn từ phía
đông A Lưới chảy qua địa phận 2 huyện Phong Điền và Hương Trà làm ranh
giới phân chia 2 huyện trên, sau đó tiếp tục chảy qua địa phận huyện Quảng
Điền rồi đổ vào sông Hương ở ngã ba Sình. Đây là con sông cung cấp nguồn
nước ngọt và bồi đắp phù sa cho địa phận của huyện.
Độ ẩm trung bình năm dao động 81% - 86%.
- Tuy vậy với những điều kiện tự nhiên thời tiết như trên đã tạo nhiều điều
kiện thuân lợi cho Quảng Điền phát triển kinh tế, đặc biệt là trồng trọt và nuôi
trồng thuỷ sản.
2.1.1.3. Địa hình đất đai, thổ nhưõng
Tổng diện tích của huyện là 163,07 km
2.
. Hình thành 3 vùng: Vùng trọng
điểm lúa thuộc lưu vực sông Bồ, vùng đất cát nội đồng và vùng đầm phá ven
biển. Tổng chiều dài bờ biển 12km và vùng đầm phá có diện tích 4.414 ha.Đất
nông nghiệp 5.996,6 ha,diện tích đất lâm nghiệp 2.368 ha.
Quảng Điền là một vùng đất thấp trũng, vựa lúa của tỉnh, chiếm diện tích
hơn 8684 ha. Đây là địa bàn quần tụ dân cư rất sớm, đời sống cư dân chủ yếu là
kinh tế nông nghiệp như các xã Quảng Thọ, Quảng Phước, Quảng Phú, Quảng
An, Quảng Thành....
Vùng cát nội địa, diện tích 4718ha, đại bộ phận đất chua phèn, úng ngập về
mùa mưa, khô hạn về mùa nắng. Đời sống dân cư chủ yế là nông nghiệp, kết
hợp một số cây công nghiệp như Quảng Lợi, Quảng Thái...Vùng cát biển, đầm
phá, diện tích 2292ha, đất trơ trụ, đại bộ phận là đất cát trắng, nghèo dinh
dưỡng. Đời sống dân cư chủ yếu là ngư nghiệp. Vùng này còn đang trỗi dậy
việc triển khai kinh tế nuôi trồng hải sản (nuôi tôm, cua xuất khẩu...).
21
2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội
2.1.2.1. Tình hình phát triển kinh tế
Quảng Điền vốn là một huyện từ xưa có nhiều ngành thủ công truyền thống,
tuy có một số nghề ngày nay đã mai một (như trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa....)
nhưng có một số nghề vẫn tồn tại và phát triển như đan lát ở Bao La, làng tơi
nón ở Ô Sa, nuôi vịt đàn, ấp trứng ở Thủ Lễ, làm bún ở Thanh Cần, mộc nề
vùng Sịa, Tây Ba, trồng rau màu ở Thành Trung....Từ nền kinh tế đó, đã tạo
trường đạt chuẩn quốc gia trong năm học 2007 - 2008 đang chuẩn bị hồ sơ đề
nghị tỉnh về kiểm tra công nhận.
Quan tâm đầu tư mua sắm thêm các trang thiết bị dạy học phục vụ cho hoạt
động chuyên môn của các đơn vị trường học.
Công tác giáo dục hướng nghiệp cho khối học sinh THCS cũng đã được
Phòng Giáo dục phối hợp với trung tâm khoa học kỹ thuật hướng nghiệp huyện
để huy động học sinh trên địa bàn huyện tham gia học nghề và tổ chức thi nghề
cho các em.
Hoàn thành kiểm tra phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2007 của các xã,
thị trấn, kết quả có 10/11 xã, thị trấn đạt chuẩn và huyện tiếp tục đạt chuẩn phổ
cập THCS (xã Quảng Vinh không đạt), đồng thời thông qua bước 1 đề án nâng
Trung tâm dạy nghề huyện thành Trường trung cấp nghề.
Huyện thường xuyên tập trung rà soát đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất
trường lớp, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho giáo dục, tổ chức tập huấn
nghiệp vụ cho giáo viên và cán bộ quản lý khối Tiểu học và chỉ đạo hội thảo
trao đổi chuyên môn khối THCS.
Nhìn chung, công tác giáo dục luôn được các cấp, các ngành quan tâm. Đến
thời điểm hiện nay, tình hình đội ngũ, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy học
đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục của huyện.
+ Y tế: Huyện luôn luôn thực hiện tốt các chương trình y tế cộng đồng, nâng
cao chất lượng, tăng cường công tác tuyên truyền, giám sát dịch bệnh và chăm
sóc sức khoẻ cho nhân dân. Huyện thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra
liên ngành về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm ở các cơ sở sản xuất kinh
doanh và hướng dẫn toàn dân đảm bảo vệ sinh thực phẩm, ăn chín uống sôi,
23
chủ động phương án phòng chống dịch bệnh, đồng thời đã chỉ đạo các cơ sở y
tế nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đặc biệt là bố trí đội ngũ y bác sỹ,
chuẩn bị các điều kiện phục vụ tốt nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, chất
lượng khám chữa bệnh ở các trạm y tế đã có nhiều chuyển biến tích cực, lực
lượng y tế thôn ngày càng có hiệu quả.
24
nước và nhân dân cùng làm, với phương châm nhà nước góp vốn, nhân dân
góp vốn và ngày công, trong thời gian qua toàn huyện đã bê tông hoá giao
thông nông thôn nhiều tuyến đường, thuận lợi chio giao thông và đáp ứng nhu
cầu phát triển kinh tế xã hội, trong thời gian qua huyện cũng đã quan tâm đầu
tư đúng mức bê tông hoá kênh mương phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp.
Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động ý thức chấp hành luật giao
thông của mọi người dân trong địa phương, đồng thời tăng cường tuần tra,
kiểm soát nhằm ngăn chặn, phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Phối hợp với ngành giáo dục tổ chức thi tìm hiểu luật giao thông đường bộ cho
tất cả các học sinh 11/11 trường THCS.
Trong huyện 11/11 xã được phủ sóng truyền thanh và truyền hình, 11/11 xã
có bưu điện văn hoá xã, 100% số xã được hoà mạng lưới điện quốc gia, đặc
biệt 11/11 xã có mạng Internet công cộng.
Tổng vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng trong giai đoạn đạt 299,9 tỷ
đồng, tăng bình quân hàng năm 13,1% và 18,2% so với thời kỳ 1996 - 2000.
Kết quả đầu tư đã làm tăng thêm năng lực sản xuất mới, từng bước phục vụ cho
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Một số công trình quan trọng đã đưa vào sử
dụng như đường Vinh - Phú, Sịa - Quảng Thọ, Tây Ba - Quán Cửa, La Vân -
Thanh Hà, Sịa - Mai Dương, cầu Vĩnh Hoà... Nâng cấp 2,3 km tỉnh lộ 11A, và
2 km tỉnh lộ 4 đoạn An Gia đi Quảng Lợi. Một số công trình thiết yếu đang tiếp
tục triển khai xây dựng như cầu Sịa, cầu Tứ Hạ - Quảng Phú, đường Nguyễn
Chí Thanh, tỉnh lộ 11... Chương trình bê tông hoá giao thông nông thôn đã
hoàn thành được 60% với 52,8/88,2km, chương trình kiên cố hoá kênh mương
đã hoàn thành 82,6% với 53,8/65km. Đã xây dựng và đưa vào sử dụng 3 trạm
bơm; các đê, đập dọc sông Bồ, phá Tam Giang được củng cố, đảm bảo chủ
động tưới tiêu cho 60,1% diện tích và chống sạt lở. Chương trình kiên cố hoá
trường học đã hoàn thành 60% với 267/446 phòng. Mạng lưới điện mở rộng
đến 98,9% số thôn và trên 95% số hộ được dùng điện. Hệ thống cấp nước sinh
hoạt đã phát triển đến 25,5% thôn, nâng tỷ lệ hộ được dùng nước sạch, hợp vệ