PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo trong những năm qua nông nghiệp
luôn được xem là mặt trận hàng đầu, nhiều đột phá đã mang lại những thành tựu to
lớn trong nông nghiệp nông thôn nước ta, đặc biệt là sản xuất và xuất khẩu lương
thực và nông sản phẩm.
Ế
Đối với nước ta, cây lúa có vị trí rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và là
U
một bộ phận quan trọng trong cơ cấu nông sản hàng hoá. Chúng ta có những lợi thế
́H
về sản xuất lúa như: truyền thống trồng lúa nước có từ lâu đời, đất đai màu mở, thời
TÊ
tiết, khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới và cận xích đạo thuận lợi cho quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây lúa.
H
Trồng lúa là một nghề truyền thống có từ lâu đời của huyện Quảng Điền, tỉnh
IN
Thừa thiên Huế; lúa là cây nông nghiệp chính ở đây. Diện tích trồng lúa chuyên
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới năng suất lúa ngoài các yếu tố đầu vào trực
tiếp như phân bón, công lao động thì những yếu tố khách quan như khí hậu, thời tiết
1
ảnh hưởng rất nhiều tới năng suất lúa. Tận dụng những lợi thế của các yếu tố sinh
học trong nông nghiệp đòi hỏi trình độ canh tác, trong đó phải kể đến các biện
pháp kỹ thuật, thời gian chăm bón, quy mô sản xuất, sử dụng giống mới... Trong
điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện nay, với mức trang bị kỹ thuật hạn chế, trình độ
học vấn của các chủ hộ còn thấp, hạn chế trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học
công nghệ... thì sản xuất nông nghiệp không thể tránh khỏi tình trạng kém hiệu quả.
Hiệu quả kỹ thuật là một trong những yếu tố cấu thành hiệu quả kinh tế. Nâng
Ế
cao hiệu quả kỹ thuật sẽ nâng cao được hiệu quả kinh tế, điều này có nghĩa là sẽ
U
nâng cao được đời sống của đại đa số người dân trồng lúa. Trong bối cảnh diện tích
́H
đất đai ngày càng bị thu hẹp thì việc nâng cao hiệu quả kỹ thuật sẽ giúp nâng cao
hiệu quả sử dụng đất.
TÊ
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cây lúa trong và ngoài nước như: Nghiên
pháp này như của Aigner và các đồng nghiệp (1977) [13] [15] cho ngành nông
nghiệp của Hoa Kỳ; Kalirajan và Flinn (1981) [26] và các tác giả khác sử dụng
phân tích cho các hộ nông dân sản xuất lúa ở Philipin. Các nghiên cứu này kết quả
đã cho ra mức hiệu quả kỹ thuật bình quân của các hộ sản xuất lúa. Một trong
những hạn chế của các nghiên cứu trên là không tách được phần sai số ra làm hai
phần, đâu là phần không hiệu quả, đâu là sai số thống kê. Và như vậy các nghiên
cứu trước đây chỉ tính được tỷ lệ hiệu quả kỹ thuật bình quân trong đó bao gồm các
sai số thống kê. Vấn đề này đã được giải quyết bởi công trình của Jondrow và các
đồng nghiệp (1982) [24].
2
Nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật của cây lúa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên
Huế hầu như chưa được thực hiện, do đó chưa có cơ sở khoa học để đưa ra các giải
pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu nâng cao năng suất. Từ những lý do trên tôi lựa
chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa của các
nông hộ ở huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên Huế” làm luận văn tốt nghiệp.
Mục đích của đề tài nhằm đánh giá đúng đắn thực trạng hiệu quả kỹ thuật
của sản xuất lúa, xác định các nhân tố tồn tại dẫn đến tính phi hiệu quả của cây lúa
U
nghiên cứu nói riêng và toàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung.
Ế
từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trên địa bàn
̣I H
lúa được nghiên cứu nói riêng để có một cái nhìn khái quát về tình hình sản xuất lúa
của các hộ trong vùng nghiên cứu so với toàn huyện;
Đ
A
3) Xác định mức hiệu quả kỹ thuật của các hộ trồng lúa và mức hiệu quả
trung bình của các hộ nghiên cứu để đánh giá được khả năng đạt được hiệu quả kỹ
thuật của các hộ đang ở mức độ nào.
4) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đạt năng suất tối đa (các yếu
tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật) của các hộ sản xuất lúa thông qua việc tính
hiệu quả kỹ thuật của các hộ nông dân trồng lúa, chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các
yếu tố đầu vào tới năng suất lúa và thiết lập mối quan hệ giữa nguồn lực con người
với hiệu quả kỹ thuật của các hộ nông dân.
3
5) Đề xuất các giải pháp nhăm nâng cao hiệu quả kỹ thuật cho bà con hay
mục tiêu cuối cùng là nâng cao năng suất ở mức cao nhất khi không cần thay đổi
các yếu tố đầu vào bằng cách chỉ thay đổi cách thức chăm sóc và quản lý.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu:
K
+ Các thông tin, số liệu thứ cấp lấy từ năm 2005 đến năm 2008.
của năm 2008.
̣C
+ Số liệu sơ cấp về tình hình sản xuất lúa được điều tra ở các hộ trồng lúa
O
4. Phương pháp nghiên cứu
̣I H
Phương pháp luận xuyên suốt đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và
Đ
A
duy vật lịch sử.
Có thể để đạt được một mục tiêu phải sử dụng nhiều phương pháp nghiên
cứu, và một phương pháp nghiên cứu cho hơn một mục tiêu.
Các phương pháp tiếp cận mục tiêu:
-
Ế
- Do quy mô mẫu là 158 hộ là quá nhỏ so với tổng thể (21.504 hộ sản xuất lúa
U
trên toàn huyện) nên tính đại diện của mẫu điều tra là chưa cao, có thể làm giảm
́H
ý nghĩa của các mô hình.
- Số liệu của các hộ gia đình thường không được ghi chép nên việc thu thập số
TÊ
liệu bằng phương pháp gợi nhớ (recall method) sẽ không tránh khỏi những thiếu
Đ
A
̣I H
O
̣C
K
IN
Theo quan điểm của Farell (1957) [21] và một số nhà kinh tế khác, khi nghiên
cứu hoạt động kinh tế của các nhà sản xuất ngang sức ngang tài và tiêu biểu nhưng lại
H
đạt kết quả khác nhau do cách kinh doanh khác nhau và như vậy thì chỉ có thể ước
IN
tính đầy đủ hiệu quả kinh tế theo nghĩa tương đối. Để giải thích cho lập luận này, ông
phân biệt hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối và hiệu quả kinh tế như sau:
K
* Hiệu quả kỹ thuật (Technical efficiency):
̣C
Đề cập đến mối quan hệ vật lý giữa đầu ra và đầu vào. Một vị trí có hiệu quả
O
kỹ thuật xem là đạt được khi đạt được đầu ra tối đa có thể khi cho trước một tập đầu
̣I H
vào x. Định nghĩa chính thức được Koopman đưa ra vào năm 1951 [27, pp 60]: Một
nhà sản xuất được xem là có hiệu quả kỹ thuật nếu một sự gia tăng trong bất kì đầu
Đ
́H
nền kinh tế hoạt động hiệu quả kinh tế, không thể và không nên thay đổi cách sản
người này thì sẽ thiệt hại cho người khác)
TÊ
xuất, vì khi thay đổi cách sản xuất trong nền kinh tế hoạt động hữu hiệu, lợi cho
* Hiệu quả phân bố (Allocative efficiency) [9]: là một bộ phận khác của hiệu
H
quả kinh tế. Hiệu quả kỹ thuật không thể so sánh trực tiếp các đầu ra được sản xuất
IN
bởi các tập đầu vào khác nhau, khi một tập đầu vào có thể sản xuất một mức đầu ra
K
giống nhau (hoặc tốt hơn) với ít hơn (hoặc nhiều hơn) một đầu vào này và nhiều
hơn đầu vào khác. Do đó, hiệu quả phân bố đề cập đến khả năng đạt được lợi nhuận
O
̣C
Ế
Y
́H
X
TÊ
B
WW’
U
A
D
SS’
H
C
IN
O
8
được gọi là hiệu quả kỹ thuật sẽ đạt sản lượng tại điểm B, cũng với đầu vào đó, một
hộ sản xuất tại điểm A. Hiệu quả kỹ thuật sản lượng được xác định bởi TEO(x,y) =
OA/OB. Điều này cũng tương tự như đo lường hiệu quả kỹ thuật đối với định hướng
đầu vào trong điều kiện quy mô không đổi. Trong đó điểm B là điểm đạt hiệu quả kỹ
thuật, nằm trên đường khả năng sản xuất, lợi ích đạt được cao hơn tại điểm C (điểm
mà tỷ lệ thay thế biên tương đương với tỷ số giả cả p1/p2). Trong trường hợp này,
nên sản xuất nhiều y1 và ít y2 nhằm đạt được lợi ích tối đa. Để đạt được mức lợi ích
Ế
ngang nhau tại điểm C trong khi vẫn duy trì kết hợp đầu vào và đầu ra như cũ thì đầu
U
ra của doanh nghiệp cần tiến tới điểm D. Từ đó, hiệu quả kinh tế được xác định
́H
(RE(y,x,p)) = 0A/0D. Hiệu quả phân bổ đầu ra (AEO(y,w,w)) được xác định bởi
Đ
A
̣I H
O
biên ngẫu nhiên và phi hiệu quả kỹ thuật chỉ giải thích một phần sự sai lệch khỏi
Ế
hàm sản xuất biên. Phần dư (residual) it bao gồm phần sai số ngẫu nhiên (random
U
error) Vi và phần phi hiệu quả (inefficient component) Uit. Trong trường hợp hàm
́H
sản xuất biên xác định, Uit = 0.
TÊ
- Phương pháp phi tham số hay phương pháp qui hoạch toán học
(mathematical programming approach) chủ yếu tập trung vào sự phát triển phương
pháp Phân tích Bao dữ liệu DEA (Data Envelopment Analysis - DEA) với kỹ thuật
H
sản xuất đa đầu vào và đầu ra (Multiple inputs and outputs). Bản chất của các mô
IN
hình DEA là xác định và gần đây các mô hình này được mở rộng để bao hàm các
K
nhiều so với những doanh nghiệp khác, DEA có thể ước lượng quá cao phần phi
hiệu quả của nó. Dù có những hạn chế đó, DEA đang ngày được sử dụng rộng rãi.
1.1.1.3 Một số vấn đề trong đo lường hiệu quả kỹ thuật
Để so sánh hiệu quả sản xuất của các hộ sản xuất lúa của 2 địa phương
khác nhau, chúng ta cấn xác định mức sản xuất tối đa của một hộ điển hình để làm
cơ sở so sánh. Tuy nhiên, một hàm sản xuất được ước lượng chẳng qua cũng chỉ mô
tả được mối quan hệ thông thường giữa đầu vào và đầu ra, và nó không phản ảnh
Ế
được mức sản lượng tối đa với một lượng đầu vào cho trước. Trong hầu hết các
U
trường hợp, hàm sản xuất được sử dụng để tính toán mức sản xuất tối đa trong điều
́H
kiện đầu vào cho trước.
- Farrell (1957) [21] đề xuất các tiếp cận phi tham số để ước lượng ba loại
TÊ
hiệu quả sản xuất, đó là hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả giá cả. Với
giả định một hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas, Aigner và cộng sự (1968) [14] đã
H
(u). Trong cách tiếp cận sản xuất biên ngẫu nhiên, Aigner và cộng sự (1977) [13] và
Stevenson (1980) [36] giả định rằng u tuân theo quy luật phân phối chuẩn cụt, trong
khi v tuân theo quy luật phân phối chuẩn đối xứng. Trong bài viết của Meeusen và
cộng sự (1977) [29], u được coi là tuân theo phân phối mũ. Afriat (1972) [12] coi
11
nhiễu được phân phối dưới dạng beta hai tham số, trong khi Richmond (1974) [33]
lại áp dụng phân phối gamma một tham số. Greene (1990) [22] gợi ý áp dụng phân
phối gamma hai tham số cho u.
Như vậy, có rất nhiều giả định về nhiễu ngẫu nhiên. Lee (1983) đề xuất cách
kiểm định sự phù hợp của nhiễu ngẫu nhiên bằng phương pháp số nhân Lagrange.
Tác giả xem xét các kiểm định về phân phối bán chuẩn của các nhiễu ngẫu nhiên
như đã được thực hiện trong nghiên cứu của Stevenson (1980) [36]. Để kiểm định
Ế
thống kê với các phân phối bán chuẩn hoặc chuẩn cụt, ông đã sử dụng cách kiểm
U
định điểm hiệu quả như Rao (1973) [32] đã làm.
́H
- Bauer (1990) [17] cho rằng, cách tiếp cận tham số có thể phân tích được
hiệu quả, nhưng nó có một số hạn chế nhất định, ví dụ như cần phải biết dạng hàm
TÊ
A
Mối quan hệ được biểu diễn như sau:
Y = AX1β1 X2β2 X3β3 X4β4 X5β5 e(Vit – Uit)
(1)
Logarit tự nhiên hai vế của mô hình ta thu được:
LnYi = β0 + β1LnX1i + β2 LnX2i + β3LnX3i + β4LnX4i + β5LnX5i + Vit - Uit (1.1)
Trong đó:
β0 là hệ số chặn của mô hình
X4 là lượng phân kali (kg/ha)
X1 là lượng giống sử dụng (kg/ha)
X5 là lượng công lao động (công/ha)
X2 là lượng phân đạm sử dụng (kg/ha)
Yi là sản lượng lúa ( kg)
X3 là lượng phân lân sử dụng (kg/ha)
Vi là sai số ngẫu nhiên của mô hình,
12
Đặt :
IN
eit = Uit + Vit: hệ số sai số tổng hợp của hàm hợp lý tối đa (của các yếu tố
phi hiệu quả kỹ thuật và yếu tố ngẫu nhiên).
Khi đó 0 ≤ γ ≤ 1.
K
γ = uit / eit.
̣C
γ biểu hiện về tỷ lệ giữa phương sai của sản lượng phi hiệu quả kỷ thuật
O
trong tổng phương sai của mô hình. Sử dụng tham số γ có ý nghĩa khá tương tự với
̣I H
tiêu chuẩn R2 trong mô hình hồi quy tuyến tính.
Hiệu quả kỹ thuật được định nghĩa là tỉ lệ giữa đầu ra thực tế (actual output)
Đ
A
Yit và đầu ra biên (frontier output)Ymax
TE = Yit/Ymax
́H
Tên biến
Ế
Định nghĩa biến và kỳ vọng về dấu hệ số ước lượng:
Tuổi của chủ hộ, đơn vị tính là tuổi, là biến liên tục
HVAN
Trình độ học vấn của chủ hộ, là số năm đi học (đến
TÊ
TUOI
TINDUNG
IN
THUAN
Số năm kinh nghiệm trồng lúa của chủ hộ
Số lần tham gia tập huấn của chủ hộ.
K
KNGHIEM
A
KCACH
Là khoảng cách từ nhà đến đồng ruộng, được tính
bằng đơn vị là (km)
+/-
Là vécto tham số cần ước lượng, hệ số ảnh hưởng của
i
mỗi nhân tố
Là hiệu quả kỹ thuật của hộ thứ i tại thời điểm t
it
Việc giải thích các biến và kỳ vọng của chúng sẽ được mô tả chi tiết ở phần
sau (xem mục 1.2.2).
14
1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
diện cho tổng thể tiến trình chọn mẫu ngẫu nhiên được áp dụng.
K
Dựa vào danh sách hộ sản xuất lúa của các xã được sắp xếp theo thứ tự A, B,
C,... các hộ điều tra được chọn ngẫu nhiên theo khoảng cách xác định.
O
̣C
1.2.1.3 Thu thập số liệu
̣I H
- Số liệu sơ cấp: Điều tra 158 hộ ở 2 xã theo mẫu đã được thiết kế sẵn phục
vụ cho nghiên cứu. Phương pháp điều tra là phỏng vấn trực tiếp hộ nông dân trồng
Đ
A
lúa đã được chọn ở các bước trên. Bảng hỏi bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Đặc điểm của hộ nông dân bao gồm: trình độ văn hóa, kinh nghiệm đồng
ruộng, nghề nghiệp của các thành viên trong hộ, tuổi, giới tính vv.
Đầu vào sản xuất bao gồm: các lượng đầu vào chính như lao động, giống, số
lượng phân bón các loại, số lượng thuốc bảo vệ thực vật...
Đầu ra bao gồm: Sản lượng lúa các vụ đông xuân và vụ hè thu của năm 2008
- Số liệu thứ cấp: Thông tin được thu thập từ Sở NN và PTNT tỉnh, Trung
tâm Khuyến nông tỉnh, Phòng NN huyện, Trạm Khuyến nông huyện, UBND
thuật thu được từ bước thứ nhất với các biến đầu vào phi truyền thống.
H
a) Bước thứ nhất: Xác định mức hiệu quả kỷ thuật của các hộ
IN
Số liệu và mục đích nghiên cứu dựa trên phương pháp này nhằm tìm ra mức hiệu
K
quả kỹ thuật cho từng hộ nông dân trồng lúa và các yếu tố đầu vào cơ bản ảnh
hưởng tới năng suất lúa bao gồm cả các yếu tố liên quan tới nguồn lực về con
O
̣C
người. Phương pháp hàm năng suất tối đa được sử dụng sẽ tìm ra mức độ đạt được
̣I H
hiệu quả kỹ thuật trong trồng lúa của các hộ nông dân, chỉ ra mức độ ảnh hưởng cuả
các yếu tố đầu vào tới năng suất lúa. Hàm sản xuất sau đây sẽ cho phép ước tính
Đ
A
hiệu quả kỹ thuật của các nông hộ.
b) Bước thứ hai: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật các hộ
TÊ
Có rất nhiều nhân tố cấu thành hiệu quả kỹ thuật, trong nghiên cứu này tập trung
nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố cơ bản (trình độ học vấn của chủ hộ, kinh
H
nghiệm đồng ruộng của chủ hộ và mức tiếp cận với công tác khuyến nông) với hiệu
IN
quả kỹ thuật. Mô hình sử dụng để phân tích mối quan hệ này như sau:
it
= α0 + α1 TUOI + α2 HVAN + α3 KNGHIEM + α4 GTINH + α5 THUAN +
̣C
K
Ước lượng mô hình 2:
O
càng cao thì khả năng sản xuất đạt sản lượng càng cao. Điều này hoàn toàn phù hợp
Ế
với thực tế. Người có học vấn cao thì khả năng tiếp nhận khoa học kỹ thuật tốt, chăm
U
sóc và bón phân khoa học, bón phân cân đối hợp lý, do đó mang lại hiệu quả cao.
́H
THUAN: là biến tập huấn, biến này được mong đợi là dấu dương. Nếu người
chủ hộ tham gia các chương trình tập huấn thì trình độ và kỹ thuật trồng lúa càng
TÊ
được nâng cao, do đó việc sản xuất được áp dụng các tiến bộ khoa học vào thực tế
đã giúp cho người chủ đạt hiệu quả cao. Nếu số lần tham gia khuyến nông càng thấp
H
thì khả năng đạt năng suất cao càng giảm, ngược lại nếu người dân tham gia nhiều
IN
vào các khóa huấn luyện thì trình độ thâm canh càng được nâng lên do đó đạt hiệu
K
18
1.3 ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG
SUẤT LÚA
1.3.1 Quá trình sinh trưởng và phát triển
Cây lúa có thời gian sinh trưởng và phát triển tính từ khi nảy mầm đến khi
chín thay đổi từ 90 đến 180 ngày, tùy theo giống và điều kiện ngoại cảnh. Ở nước
ta, các giống lúa ngắn ngày có thời gian sinh trưởng từ 90 – 120 ngày, các giống lúa
phát triển của cây lúa có thể chia thành các thời kỳ sau:
Ế
trung ngày có thời gian sinh trưởng từ 140 – 160 ngày. Quá trình sinh trưởng và
U
- Thời kỳ sinh dưỡng: thời kỳ này bắt đầu từ lúc gieo đến lúc làm đồng.
́H
Trong thời kỳ này, cây lúa chủ yếu hình thành và phát triển các cơ quan dinh dưỡng
TÊ
như lá, phát triển rể, đẻ nhánh. Quá trình phát triển cây lúa trong thời kỳ này trải
qua 3 giai đoạn: giai đoạn mạ (từ đầu đến khi mạ có 5 lá thật), giai đoạn đẻ nhánh
toàn kéo dài khoảng 30 ngày ở tất cả các giống lúa. Trong thời kỳ này, nhiệt độ ôn
hòa, độ ẩm vừa phải, đủ nước, trời nắng là điều kiện thuận lợi cho tích lủy tinh bột,
lúa chín đều hạt mẩy.
Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành
số bông. Còn thời kỳ sinh trưởng sinh thực quyết định việc hình thành số hạt trên
bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng 1000 hạt. Thời kỳ trổ bông đến chín là thời kỳ
ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lúa.
19
Quá trình sinh trưởng của cây lúa được chia làm nhiều giai đoạn, mỗi giai
đoạn phát triển của cây lúa đòi hỏi về dinh dưỡng cũng như các yếu tố khác về môi
trường nước, thời tiết khác nhau. Nắm bắt được mối quan hệ này chúng ta mới có
cơ sở để xây dựng kế hoạch trồng và chăm sóc hợp lý nhằm sử dụng triệt để các lợi
thế của điều kiện tự nhiên và phát huy được khả năng sinh học của cây lúa nhằm thu
được năng suất cao nhất.
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lúa
Ế
Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng thì
U
chu kỳ của sản xuất tương đối dài, quá trình sản xuất được thực hiện trên phạm vi
́H
cây trồng. Đây chính là lợi thế so sánh giữa các vùng, do đó cần phải có sự lựa chọn
các loại cây trồng hợp lý để khai thác triệt để thế mạnh này.
Đ
A
- Đất đai: Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt, đất đai vừa là tư
liệu sản xuất vừa là đối tượng lao động không thiếu được. Đất cung cấp chất dinh
dưỡng cần thiết cho quá trình sinh lý hóa của cây trồng, giúp cây sinh trưởng và
phát triển. Đối với cây lúa, do đặc tính thích ẩm, cần nhiều nước nên phải trồng trên
các đồng ruộng luôn cung cấp đủ lượng nước nhất định và có độ màu mỡ tốt khi đó
cây lúa mới cho năng suất cao. Mỗi vùng khác nhau thì đất có độ màu mỡ khác
nhau, vì vậy cần phải chú ý đến chế độ canh tác cây trồng cho phù hợp với từng loại
cây nhằm nâng cao năng suất cây trồng.
20
1.3.2.2 Nhóm nhân tố xã hội
Vốn và tư liệu sản xuất:
Hai yếu tố này rất quan trọng không thể thiếu được trong một quá trình sản
xuất. Trong trồng trọt các yếu tố như: giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… quyết
định đến hiệu quả cây trồng. Đáp ứng các nhu cầu này một cách đầy đủ và hợp lý
không những nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng mà còn góp phần cải thiện môi
trường đất, nước, tăng độ phì đất đai, từ đó tăng năng suất sử dụng đất đai.
Ế
và giá cả của sản phẩm trên thị trường, người nông dân quyết định nên sản xuất cây,
O
con gì với quy mô và mức độ đầu tư như thế nào để đạt được hiệu quả kinh tế cao.
̣I H
Tổ chức quản lý sản xuất:
Việc quy hoạch phân vùng nhằm khai thác hết tiềm năng thế mạnh của vùng
Đ
A
để phát triển sản xuất là hết sức quan trọng nhằm tạo ra nguồn hàng hóa lớn phục vụ
nhu cầu tiêu dùng của xh. Phân vùng và bố trí hợp lý sẽ tạo cân bằng sinh thái, phát
huy triệt để thế mạnh về đất đai, lao động và tiềm năng khác trong vùng nhằm đảm
bảo hiệu quả trước mắt và lâu dài cho vùng.
Trong vùng sản xuất lúa nên bố trí sản xuất theo hướng chuyên môn hoá để
có lợi thế cạnh tranh cao trên thị trường, tạo điều kiện cho công tác sản xuất, tiêu
thụ sản phẩm, thuận lợi cho quá trình đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
nhằm tăng năng suất cây trồng. Đảm bảo cho hiệu quả kinh tế của cây trồng ngày
21
một nâng cao. Đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng hoá góp phần thực hiện tốt công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
Các chính sách kinh tế của nhà nước:
K
hoang đối với các loại đất phù hợp với cây lúa.
- Chính sách tín dụng: Chính sách này phù hợp để có tác dụng hổ trợ vốn cho
̣C
người sản xuất nhằm tăng đầu tư phát triển, sản xuất lúa ổn định tạo nguồn hàng
O
hoá lớn tăng thu nhập cho người dân, vừa tạo việc làm cho người lao động.
̣I H
- Chính sách khuyến nông: Hiện nay, việc sản xuất lúa chưa thật sự được
quan tâm phát triển, đòi hỏi cần phải có sự ưu tiên trong các lỉnh vực:
Đ
A
Kỹ thuật cải tiến giống tốt hơn
Đầu tư cho công tác tập huấn kỹ thuật, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong
sản xuất lúa cho người dân
Hỗ trợ cho công tác thu mua và bảo quản sản phẩm.
Các hình thức hoạt động khuyến nông càng nhiều và phong phú sẽ mang lại
lợi ích thiết thực cho người nông dân. Họ được nâng cao trình độ hiểu biết không
chỉ về khoa học kỹ thuật mà cả về kiến thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế. Vì
quân xấp xỉ 4,0 tấn/ha.
H
- Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất 44.790 triệu ha, ngược lại
IN
Jamaica là nước có diện tích trồng lúa thấp nhất 24 ha.
K
- Năng suất lúa cao nhất đạt 9,45 tấn/ha tại Australia và thấp nhất là 0,9
̣C
tấn/ha tại IRAQ.
̣I H
O
Bảng 1.1. Tổng hợp sản lượng lúa Thế giới và Châu lục giai đoạn 2001- 2005
(Đơn vị tính: Triệu tấn)
2001
2002
2003
3.650
3.210
2.260
2.468
2.340
+ Châu Đại Dương
1.164
1.218
1.457
1.574
1.344
+ Nam Mỹ
19.784
19.601
19.973
A
Thế giới, Châu lục
(Số liệu thống kê của FAO, 2006)
23
Giai đoạn 2001- 2005, sản lượng lúa thế giới đều tăng, năm 2005 đạt 618.441
triệu tấn. Trong đó, sản lượng lúa châu Á đạt 559.349 triệu tấn chiếm 90,45%;
tương tự ở Nam Mỹ: 24.020 triệu tấn (3,88%); ở châu Phi: 18.851 triệu tấn (3,04%);
ở Bắc Trung Mỹ: 12.537 triệu tấn (2,03%); ở châu Âu và châu Đại Dương: 3.684
triệu tấn (0,6%)
b. Tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên thế giới hiện nay
Sản lượng lúa trên thế giới năm 2008 là 661.811 triệu tấn, châu Á chiếm
Ế
90%, dẫn đầu là Trung Quốc và Ấn Độ. Theo dự báo của Ban Nghiên cứu Kinh tế -
U
Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, trong giai đoạn 2007-2017, các nước sản xuất gạo ở châu
́H
Á sẽ tiếp tục là nguồn xuất khẩu gạo chính của thế giới, bao gồm Thái Lan, Việt
Nam, Ấn Độ. Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm
1.700
57.829 Pakistan
4.000 Nigeria
1.600
Bangladesh
46.505 Mỹ
3.100 Saudi Abrabia
1.370
Viet nam
35.898 Ấn độ
2.500 Iraq
1.000
Thái lan
29.394 Trung Quốc
1.300 Malaysia
700
Ấn độ
Đ
A
Indonesia
O
193.000 Thái Lan
̣I H
Trung Quốc
(ngàn tấn)
̣C
Quốc gia
Sản lượng
IN
Bảng 1.2. Các quốc gia đứng đầu trong sản xuất và nhập khẩu gạo năm 2008
Thế giới
́H
tiềm năng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng.
U
tăng gần gấp đôi hiện nay. Điều này gợi ý rằng sản xuất lúa của Việt Nam còn nhiều
1.4.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
TÊ
Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, khoảng 80% dân số sinh sống ở
vùng nông thôn và hơn 74% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất
H
nông nghiệp [10]. Sản phẩm nông nghiệp đóng vai trò chủ lực trong xuất khẩu và
IN
tiêu thụ trong nước cũng như giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng của nền kinh
K
tế. Việt Nam có hai vùng trồng lúa chính là đồng bằng Sông Hồng ở phía bắc và
đồng bằng Sông Cửu Long ở miền Nam. Hàng năm sản lượng của cả nước đạt 33 -
O