PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp đang phát triển, định hướng đến năm
2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp. Tuy vậy,đóng góp của ngành nông
nghiệp vào nền kinh tế quốc dân vẫn chiếm tỷ trọng cao, điều đó chứng tỏ
rằng ngành nông nghiệp vẫn còn có vai trò rất quan trọng đối với người dân.
Đặc biệt là ngành chăn nuôi, đây là ngành tạo ra rất nhiều sản phẩm phục vụ
đời sống của con người và các ngành sản xuất khác, nó đóng góp khoảng 25%
sinh kế của gia đình [1]. Tuy nhiên việc phát triển chăn nuôi trong những năm
gần đây gặp phải nhiều khó khăn: dịch bệnh (dịch tai xanh, dịch cúm gia cầm,
…), nhu cầu về con giống không được đảm bảo, thị trường đầu ra của sản
phẩm chăn nuôi bị ảnh hưởng mạnh mẽ Điều này đã gây rất nhiều khó khăn
cho người chăn nuôi. Để khắc phục và hạn chế những khó khăn đó, Nhà nước
ta đã có những đầu tư để phát triển cho ngành chăn nuôi: chính sách hỗ trợ,
trong đó có thúc đẩy các chương trình khuyến nông chuyển giao tiến bộ khoa
học (TBKT), thông tin thị trường sản phẩm Việc thúc đẩy xã hội hóa công
tác khuyến nông đã dẫn đến hình thành nhiều nguồn cung cấp thông tin
TBKT cho người dân, như: thông qua cơ quan khuyến nông Nhà nước,
khuyến nông tư nhân dưới nhiều hình thức khác nhau. Bên cạnh sự năng
động, tích cực của các kênh thông tin từ khuyến nông tư nhân thì hiệu quả
khuyến nông Nhà nước ở nước ta còn tồn tại nhiều hạn chế. Để tìm cơ hội,
giải pháp phát triển khuyến nông Nhà nước, việc tìm hiểu hoạt động và của
khuyến nông nhà nước và vai trò trong thực hiện các hoạt động khuyến nông
là cần thiết.
Xuất phát từ đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của khuyến
nông nhà nước trong phát triển chăn nuôi ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa
Thiên Huế”. Trường hợp nghiên cứu ở 2 xã Quảng An và xã Quảng Thành,
huyện Quảng Điền.
1
1.2. Mục tiêu
dịch vụ hay hệ thống nhằm thông qua các phương thức đào tạo, giúp đỡ người
nông dân cải thiện các phương pháp, kỹ thuật canh tác, tăng hiệu quả sản xuất
và thu nhập, tăng mức sống và nâng cao trình độ giáo dục xã hội của cuộc
sống nông thôn [2].
Tóm lại, chuyển giao TBKT đề cập đến một tiến trình, bằng tiến trình đó
những kỹ thuật cải tiến sẽ được chuyển giao đến những ai mà họ có thể hưởng
lợi hoặc cảm thấy họ có thể hưởng lợi từ những kỹ thuật đó [3].
3
2.1.3. Mục đích của chuyển giao TBKT
Công tác chuyển giao TBKT nhằm giúp nông thôn có khả năng tự giải
quyết các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, nâng
cao đời sống và dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới thông
qua áp dụng thành công TBKT, bao gồm những kiến thức và kỹ năng quản lý,
thông tin và thị trường, các chủ trương chính sách về nông nghiệp và nông
thôn [theo nguồn FAO, 2000].
Chuyển giao TBKT còn giúp nông dân liên kết lại với nhau để phòng
chống thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, phát triển ngành nghề, tiếp xúc thương
mại, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý điều hành và tổ chức hoạt
động xã hội nông thôn ngày càng tốt hơn. Như vậy, mục đích của chuyển giao
TBKT là:
- Đẩy mạnh sản xuất hàng hoá một cách bền vững, góp phần xây dựng
nông thôn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, dân chủ hoá và hợp tác
hoá.
- Nâng cao thu nhập của nông dân, giúp nông dân giải quyết và đáp ứng
được các nhu cầu cơ bản của họ, thực hiện xoá đói giảm nghèo.
- Nâng cao dân trí trong nông thôn nhằm thực hiện các nhiệm vụ mục
tiêu trước mắt và cả lâu dài của xã hội.
2.1.4. Vai trò của chính sách nhà nước đối với công tác chuyển giao tiến bộ
kỹ thuật
Chính sách nông nghiệp, nông thôn “là tổng thể các biện pháp kinh tế
[5].
2.2.Tình hình và định hướng phát triển ngành chăn nuôi nước ta đến
năm 2015
2.2.1.Tình hình phát triển ngành chăn nuôi nước ta
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới, ngành chăn
nuôi đã đạt được những kết quả đáng kể.
2.2.1.1.Số lượng vật nuôi
Qua bảng số liệu dưới đây ta có thể thấy rằng tốc độ tăng đàn gia súc, gia
cầm trong 10 năm qua tính trung bình 3,0-6,0%, trong đó đàn lợn tăng 6,77%;
bò tăng 4,1% (bò sữa tăng mạnh 48,06%); gia cầm tăng 6-9%/ năm; riêng đàn
trâu không tăng và ở một số vùng có xu hướng giảm (-0,04%). Đàn dê tăng
giảm không đều qua các năm.
5
Bảng 1: Thống kê đàn gia súc, gia cầm cả nước trong thời gian qua
Năm
Trâu
(1000
con)
TS.Bò
(1000
con)
Bò sữa
(con)
Lợn
(1000
con)
TS.Gia
cầm
(1000con
)
4910,1 95800 26140,
0
218150 196363,5 1020200
200
9
2910,0 5320,4 11530
0
29890,9 261202 230251,8 1354420
(Nguồn: Cục chăn nuôi Việt Nam, 2009)
2.2.1.2. Sản phẩm chăn nuôi
Sản phẩm chăn nuôi nhận được từ đàn vật nuôi nói trên tăng qua các
năm. Năm 1980 là 448.400 tấn thịt hơi các loại; trứng hơn 1tỷ quả; sữa
3200tấn. Năm 1990, thịt hơi các loại là 1.007.900 tấn; trứng gần 1,9tỷ quả;
sữa 9300 tấn.Năm 2002, tương ứng là 2.146.300 tấn; trứng 4,53 tỷ quả, sữa
95.000tấn. Năm 2005, thịt hơi 3,2 triệu tấn, trứng 5,45 tỷ quả; sữa 110,23
nghìn tấn. Tốc độ tăng sản phẩm chăn nuôi hàng năm 5,6-20,3% [1].
2.2.2.Định hướng phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2015
Theo Báo cáo tổng kết hoạt động chăn nuôi giai đoạn 2005-2010 và định
hướng phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2015, Cục chăn nuôi đã vạch ra
những định hướng sau:
6
Phát triển nhanh quy mô đàn lợn ngoại theo hướng trang trại, công
nghiệp ở nơi có điều kiện về đất đai, kiểm soát dịch bệnh và môi trường; duy
trì ở quy mô nhất định hình thức chăn nuôi lợn lai, lợn đặc sản phù hợp với
điều kiện chăn nuôi của nông hộ và của một số vùng. Tổng đàn lợn tăng bình
quân 2,0% năm, đạt khoảng 33 triệu con, trong đó đàn lợn nuôi trang trại,
công nghiệp khoảng 30%.
Đổi mới và phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng trang trại, công
nghiệp và chăn nuôi chăn thả có kiểm soát. Tổng đàn gà tăng bình quân trên
5-6% năm, đạt khoảng 260 triệu con, trong đó đàn gà nuôi công nghiệp chiếm
8
2.3. Khuyến nông
2.3.1. Các khái niệm về khuyến nông
Theo CIDSE (tổ chức hợp tác quốc tế vì phát triển và đoàn kết):
Khuyến nông là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên quan
đến sự phát triển nông thôn. Đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà trường,
trong đó người già và trẻ em được học bằng thực hành.
Theo FAO (tổ chức lương thực và nông nghiệp ):
Khuyến nông là một quá trình dịch vụ thông tin truyền bá kiến thức và
đào tạo tay nghề cho nông dân, làm cho nông dân có đủ khả năng tự giải
quyết lấy các vấn đề của gia đình và làng xã họ. Nói cách khác, khuyến nông
là một biện pháp giúp đỡ nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ,
xây dựng phát triển nông thôn và cải thiện điều kiện vật chất, tinh thần cho
nông dân.
Định nghĩa về khuyến nông của Indonesia:
Khuyến nông nông nghiệp là một hệ thống giáo dục không theo một quy
định thống nhất nào mà cũng không theo một hệ thống chung nào để huấn
luyện nông dân nhằm mục đích giúp họ có những kỹ năng và trình độ kỹ thuật
tốt hơn, phát triển hơn quan điểm xác thực về sự đổi mới dành được thế chủ
động trong sản xuất, kinh doanh và cuộc sống của họ.
Định nghĩa này dựa trên quan điểm cơ bản là giúp đỡ nông dân để rồi họ
tự giúp họ. Vì vậy, họ có thể tự giải quyết các vấn đề của chính họ bằng sự
chấp nhận kỹ thuật tốt hơn trong sản xuất và những hoạt động kinh doanh.
Như vậy, khuyến nông ở Indonesia không đơn thuần liên quan đến việc
chuyển giao kỹ thuật tiến bộ mà trước hết liên quan đến giáo dục để họ trở
thành những người thực sự phát triển.
Vậy: Khuyến nông là một quá trình, một dịch vụ truyền bá kiến thức và
huấn luyện tay nghề cho nông dân, làm cho họ có khả năng tự giải quyết lấy
các vấn đề của họ nhằm phát triển sản xuất, cải thiện đời sống vật chất và tinh
thần cho nông dân [6].
lực vào việc phổ biến đầy đủ kiến thức cho nông dân những chính sách chủ
trương về phát triển nông nghiệp nông thôn, đóng góp không nhỏ vào họa
động khuyến nông, góp phần phát triển sản xuất, nâng cao dân trí.
+ Hoạt động tập huấn, bồi dưỡng và đào tạo: Nội dung hoạt động này là tập
huấn, bồi dưỡng và dạy nghề cho nông dân, nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cho người hoạt động khuyến nông, xây dựng biên soạn nội dung,
10
tài liệu giảng dạy nghiệp vụ cho khuyến nông và kỹ thuật sản xuất kinh doanh
nông nghiệp.
Hoạt động này đã góp phần nâng cao nhận thức khoa học cần thiết cho
người dân trong quá trình sản xuất và kinh doanh, tăng cường nghiệp vụ cho
người làm công tác khuyến nông.
+ Hoạt động xây dựng mô hình trình diễn, chuyển giao khoa học công nghệ
vào sản xuất: Đây là một hoạt động tổng hợp gồm nhiều hoạt động: tổ chức,
thông tin tập huấn trước khi triển khai mô hình, hội nghị đầu bờ, tuyên truyền
sau khi mô hình có kết quả.
2.3.4. Hoạt động khuyến nông trong chăn nuôi ở nước ta
Hoạt động khuyến nông trong chăn nuôi là một phần của hoạt động
khuyến nông. Chương trình khuyến nông chăn nuôi đã đóng góp vai trò quan
trọng trong việc cải tiến, nâng cao năng suất, chất lượng giống vật nuôi và sản
phẩm chăn nuôi. Sau đây là một số chương trình khuyến nông trọng điểm của
chăn nuôi:
+ Chương trình khuyến nông chăn nuôi lợn hướng nạc. Thu hút khoảng 13
nghìn hộ thuộc 40 tỉnh, thành tham gia với tổng số lợn nuôi của chương trình
là 32786 con (bao gồm lợn cái, lợn đực ngoại, lợn nái lai nhiều máu ngoại),
chương trình này đã gắn chăn nuôi với xây dựng bể khí sinh học để xử lý chất
thải. Kết quả số lứa đẻ của một lợn nái tằng từ 1,8 lứa/năm lên 2 lứa, số ngày
cai sữa của lợn con giảm từ 60 ngày xuống 34-40 ngày, tỷ lệ nạc tăng từ 35-
36% lên 45-47%. Chương trình khuyến nông chăn nuôi lợn hướng nạc đã góp
phần thúc đẩy phát triển chăn nuôi trang trại theo hướng công nghiệp hóa hiện
- Khó khăn, thuận lợi trong phát triển chăn nuôi của xã, huyện: điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã
3.2.2.Các nguồn/kênh thông tin, kiến thức chăn nuôi ở 2 xã nghiên cứu
- Các nguồn/kênh cung cấp thông tin:
+ Các nguồn thông tin nhà nước, tư nhân
+ Số lượng các nguồn/ kênh cung cấp thông tin
3.2.3. Các tiến bộ kỹ thuật và thông tin liên quan đến chăn nuôi được
chuyển giao cho người dân trong vòng 3 năm qua ở 2 xã nghiên
cứu
- Các loại thông tin liên quan, các tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi được chuyển
giao của từng kênh
- Số lượng các loại kỹ thuật được chuyển giao trong ngành chăn nuôi
- Loại thông tin về chăn nuôi được chuyển giao
13
3.2.4. Hoạt động của khuyến nông Nhà nước và hiệu quả chuyển giao
thông tin kiến thức chăn nuôi
- Phân loại thông tin/ kiến thức chăn nuôi được chuyển giao/kênh thông
tin:
+ Thông tin về đường lối, chủ trương, chính sách của Nhà nước có liên
quan đến hoạt động sản xuất chăn nuôi.
+ Thông tin/kiến thức về tiến bộ kỹ thuật trong ngành chăn nuôi.
+ Thông tin về thị trường đầu vào, đầu ra các sản phẩm của ngành chăn
nuôi.
- Phương thức chuyển giao của từng kênh : tập huấn (số lượng lớp tập
huấn, phương pháp tập huấn, thời lượng tập huấn, số hộ được tập huấn, đối
tượng được tập huấn,…), truyền thông, tham quan mô hình, hội thảo đầu bờ,
…
- Đối tượng được chuyển giao: theo phân loại hộ giàu nghèo
- Tần suất chuyển giao
- Tính phổ biến của việc ứng dụng các kỹ thuật của từng kênh: số hộ áp
+ Các hộ được lựa chọn theo các tiêu chí trên.
3.3.2. Các phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập số liệu thứ cấp:
Thu thập tài liệu có sẵn, liên quan đến tình hình cơ bản, về điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội, tình hình chăn nuôi, công tác khuyến nông, khuyến
nông trong chăn nuôi tại huyện, xã điều tra trong vòng 3 năm trở lại đây.
- Phỏng vấn bán cấu trúc: phỏng vấn dựa vào bảng hỏi đã chuẩn bị trước,
đồng thời chỉnh sửa bổ sung nội dung nghiên cứu.
- Phỏng vấn người am hiểu:
Phỏng vấn cán bộ tại trạm khuyến nông, trưởng hội phụ nữ xã, hội
trưởng hội nông dân xã nhằm thu thập các thông tin về các hoạt động chuyển
giao khoa học kỹ thuật và mối liên kết với các kênh thông tin kiến thức.
- Phỏng vấn sâu:
Phỏng vấn cán bộ khuyến nông cơ sở, nông dân sản xuất giỏi về chăn
nuôi.(ở mỗi xã phỏng vấn 1 khuyến nông cơ sở, 1 nông dân sản xuất giỏi về
15
chăn nuôi), 2 hội trưởng hội nông dân, 2 cán bộ xã, 1 cán bộ khuyến nông
huyện.
- Phân tích xử lý số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích
định tính đã được áp dụng để phân tích các thông tin, số liệu thu thập được.
16
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế,xã hội của huyện Quảng Điền
4.1.1.Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Quảng Điền là huyện nằm về phía Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành
phố Huế khoảng 15 km. Tọa độ địa lý như sau: 160 30’58’’ - 160 40’13’’ vĩ
độ Bắc và 1070 21’38’’ - 1070 34’ kinh độ Đông. Phía Đông và Nam của xã
giáp huyện Hương Trà, phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Phong Điền, phía
C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 29,4
0
C, nhiệt độ trung bình
tháng lạnh nhất là 19,7
0
C. Nhiệt độ lúc cao nhất là 39,9
0
C và lúc thấp nhất
8,8
0
C. Các tháng 7,8,9,10 thường hay có bão.
4.1.2.Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1.Tình hình phát triển kinh tế của huyện
Trong giai đoạn 2005-2010, mặc dù trong điều kiện còn nhiều khó khăn
nhưng nền kinh tế của huyện Quảng Điền đã có những bước phát triển và đã
đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Năm 2009, dù chịu ảnh hưởng nặng
nề bởi thiên tai, thời tiết khắc nghiệt cùng với tác động của cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, song nền kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng khá, đạt
13,66%, tổng giá trị sản xuất (GO) 669,793 tỉ đồng, thu nhập bình quân đầu
người xấp xỉ 8 triệu đồng, tăng gấp 4 lần so với thời kỳ 1991-1995; cơ cấu
kinh tế tiếp tục có bước chuyển dịch đúng hướng, tiểu thủ công nghiệp-xây
dựng chiếm 22,2%, dịch vụ chiếm 36,5%, nông-lâm-thủy sản chiếm 41,3%.
Bảng 2: Tình hình tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu kinh tế huyện Quảng
Điền giai đoạn 2007-2009
ĐVT: %
Năm
Ngành
2007 2008 2009
Tiểu thủ công nghiệp- xây dựng 22,7 23,5 22,2
Thương mại- dịch vụ 32,1 33,4 36,5
phẩm, khai thác vật liệu xây dựng… Đến nay, đã phát triển 58 doanh nghiệp
trên địa bàn. Năm 2009, giá trị tổng sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công
nghiệp là 57,980 tỷ đồng, tăng gấp 20 lần so với năm 1990. Hệ thống chợ
trung tâm, chợ nông sản phát triển khá hoàn chỉnh, đang tập trung xúc tiến,
đầu tư để hình thành ở cụm tiểu thủ công nghiệp An Gia, xúc tiến quy hoạch
chi tiết Khu công nghiệp Quảng Vinh, cụm tiểu thủ công nghiệp Hạ Lang mở
ra khả năng để thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp -
dịch vụ thời kỳ 2010 - 2015.
19
4.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội của 2 xã nghiên cứu
4.1.2.1.Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Xã Quảng Thành nằm ở phía Đông Nam của huyện Quảng Điền, và nằm
ở phía Bắc của thành phố Huế, cách trung tâm thành phố khoảng 7km đường
bộ. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi của xã để giao lưu kinh tế-văn
hoá-xã hội với các địa phương khác, đặc biệt là với thành phố Huế, trung tâm
kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội của toàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
Xã Quảng An là một xã đồng bằng nằm ở phía Nam huyện Quảng Điền,
cách trung tâm huyện lỵ 6km, cách trung tâm thành phố Huế 12km. Đây là
một xã nằm ở cuối hạ lưu sông Bồ, và là một trong những xã nằm ở ven phá
Tam Giang. Với vị trí địa lý như vậy nên hằng năm xã đã chịu nhiều ảnh
hưởng của mưa lũ.
- Đặc điểm địa hình và đất đai
Xã Quảng Thành là vùng đồng bằng, tương đối bằng phẳng nhưng có
phần thấp trũng hơn so với các địa phương khá ở phía Đông tỉnh Thừa Thiên
Huế, độ cao trung bình của xã là 1m so với mực nước biển, có nơi thấp hơn
mực nước biển từ 0,5-1,0 mét (vùng bầu ven phá Tam Giang). Hằng năm,
khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 11, xã thường có một diện tích lớn đất
nông nghiệp bị ngập nước thường xuyên, gây ra rất nhiều khó khăn cho người
dân ở địa phương. Thành phần đất chủ yếu tại xã Quảng Thành là đất thịt nhẹ
lượng
Tỷ lệ
%
Tổng diện tích
đất tự nhiên
Ha 1.422,5 100 Ha 1.082,00 100
Diện tích đất
nông nghiệp
Ha 639,23 44,93 Ha 640,39 59,19
Diện tích đất phi
nông nghiệp
Ha 782,16 54,98 Ha 441,36 40,79
Diện tích đất
chưa sử dụng
Ha 1,11 0,09 Ha 0,25 0,02
Tổng số hộ Hộ 2176 100 Hộ 1768 100
Phân theo ngành
nghề
Hộ nông nghiệp Hộ 1798 82,6 Hộ 339 80,8
Hộ phi nông
nghiệp
Hộ 378 17,4 Hộ 1429 19,2
Phân theo loại hộ
Hộ khá Hộ 548 25,6 Hộ 493 27,9
Hộ trung bình Hộ 1383 63,6 Hộ 1134 64,12
Hộ nghèo Hộ 245 10,8 Hộ 141 7,98
( Nguồn: Thống kê của UBND xã Quảng Thành, xã Quảng An, 2009)
* Tình hình dân số và lao động
Vấn đề dân số và lao động là những vấn đề có tác động lớn đến đến sự
phát triển về kinh tế xã hội của một địa phương. Xã Quảng Thành có tổng số
kể từ sau dịch. Dịch bệnh gia súc, gia cầm được khống chế, đồng thời cơ cấu
giống vật nuôi cũng được chuyển đổi. Trước đây, giống gia súc, gia cầm ở địa
phương chủ yếu là giống địa phương có tầm vóc nhỏ, năng suất thấp. Trong
những năm qua, Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện đã chỉ đạo thực hiện nhiều
biện pháp nhằm nâng cao năng suất của các giống vật nuôi, như: nhập nội các
giống ngoại, lai giống bằng thụ tinh nhân tạo, nhảy trực tiếp. Do vậy, chất
lượng đàn gia súc, gia cầm đã được cải thiện đáng kể. Đồng thời, số lượng các
loại vật nuôi trên địa bàn huyện cũng tăng lên đáng kể thông qua các chương
22
trình, dự án đã triển khai trên địa bàn như sau:
UBND huyện Quảng Điền đã chỉ đạo các ban ngành thực hiện Đề án
khôi phục đàn lợn giống sau dịch. Đề án đã thẩm định và đưa vào nuôi 1.815
con của 343 hộ, với 1.331 lợn nái F1, 30 lợn nái ngoại, 3 lợn đực giống và
484 lợn nái Móng Cái.
Dự án khuyến nông và hỗ trợ phát triển sản xuất cho các hộ nghèo, hộ
khó khăn ở các xã : Quảng An, Quảng Phước, Quảng Lợi, đã hỗ trợ 150 con
lợn nái Móng Cái.
Chương trình nuôi bò lai thuộc dự án hỗ trợ nông dân tăng gia lợi tức ở
xã Quảng Vinh đã cung cấp 93 con bò.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì ngành chăn nuôi huyện
Quảng Điền vẫn đang gặp một số khó khăn:
-Do ảnh hưởng điều kiện thời tiết khí hậu bất thường, dịch bệnh trên gia súc,
gia cầm ở nhiều nơi chưa được khống chế.
-Công tác chỉ đạo trong lĩnh vực chăn nuôi ở một số địa phương chưa
được quan tâm, nhất là công tác phòng chống dịch bệnh còn lơ là, chủ quan;
thống kê số lượng, chất lượng đàn gia súc, gia cầm chưa đảm bảo.
-Một số mô hình, dự án tuy đã khẳng định hiệu quả trong quá trình sản
xuất nhưng chậm được nhân rộng.
4.2.1.2. Về công tác thú y và dịch bệnh
Công tác thú y là điều kiện cơ bản để phát triển ngành chăn nuôi của mỗi
triển nhất của tỉnh Thừa Thiên Huế, nên huyện Quảng Điền cũng chính là một
trong những nguồn cung cấp các sản phẩm từ chăn nuôi cho người dân của
tỉnh nói chung và trong huyện nói riêng. Đặc biệt là các sản phẩm về lợn,
huyện có thể chủ động được nguồn cung cấp thịt xẻ cho người dân huyện và
các huỵên, thành phố lân cận. Mặt khác, huyện còn có thể chủ động được
nguồn giống lợn cung cấp cho hoạt động chăn nuôi trên địa bàn huyện.
Như vậy, trong vòng 3 năm qua trạm khuyến nông huyện phối hợp với
phòng nông nghiệp huyện và trạm thú y huyện đã đóng vai trò rất quan trọng
trong việc tăng số lượng đàn vật nuôi của huyện. Tuy nhiên, thông tin thị
trường trong chăn nuôi lại chưa được quan tâm. Khuyến nông chưa thể hiện
được vai trò của mình trong lĩnh vực này mặc dù đây là một trong những
nhiệm vụ của họ.
24
4.2.2. Tình hình chăn nuôi tại 2 xã nghiên cứu
Xã Quảng An là một trong 3 xã có hoạt động chăn nuôi phát triển nhất
của huyện Quảng Điền. Còn xã Quảng Thành là một trong những xã có tốc độ
phát triển kinh tế cao nhất của huyện Quảng Điền với 11,85%. Tuy nhiên tỷ
trọng nguồn thu từ hoạt động chăn nuôi của xã chỉ đạt 18.925 tỷ đồng, thuộc
loại trung bình của huyện. Để nắm bắt được thông tin chung về tình hình chăn
nuôi của 2 xã trong vòng 3 năm qua, cần phải xem xét trên các vấn đề:
- Về cơ cấu số lượng đàn vật nuôi:
Trong 3 năm qua, về cơ cấu số lượng vật nuôi của 2xã có sự biến động lớn:
Bảng 4: Cơ cấu số lượng vật nuôi xã Quảng An trong giai đoạn 2007-2009
ĐVT: con
Loại vật nuôi Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Trâu, bò cày kéo
sau vỗ béo
634 765 747
Lợn nái 1718 1485 1827
Lợn thịt 1050 7120 4500