TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 54, 2009
KH
ẢO SÁT, SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ
CÁC MÔ HÌNH NUÔI TR
ỒNG THỦY SẢN VÙNG ĐẦM PHÁ
HUY
ỆN QUẢNG ĐIỀN - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Nguy n Tài Phúc, Ph m Xuân Hùng
Tr
ng i h c Kinh t , i h c Hu
TÓM TẮT
Ngh nuôi tr ng thu s n (NTTS) Qu ng i n có vai trò r t quan tr ng i v i s gia
t
ng thu nh p c a hàng ngàn h dân a ph ng và có nh h ng r t l n n s b n v ng c a
h
sinh thái vùng m phá. Trên c s kh o sát 117 h NTTS vùng nghiên c u theo các hình
th
c nuôi khác nhau: nuôi chuyên canh tôm và nuôi h n h p, k t qu cho th y, so v i mô hình
nuôi chuyên canh tôm, mô hình NTTS h
n h p không ch mang l i hi u qu kinh t cao h n mà
còn có
nh h ng tích c c n h sinh thái. Bên c nh ó, k t qu nghiên c u còn ch ra r ng
thu nh
p c a các h NTTS ch u nh h ng c a nhi u nhân t u vào nh chi phí th c n công
nghi
p, c i t o ao h , ngày công và l a ch n mô hình nuôi. phát tri n NTTS theo h ng b n
v
ng, c n quy ho ch l i vùng nuôi, khuy n khích chuy n i sang mô hình NTTS xen ghép.
NTTS là ho
ạt động tạo thu nhập chủ yếu của nhiều hộ dân sống ven đầm phá
huy
ện Quảng Điền. Để khảo sát đặc điểm sản xuất, hiệu quả các mô hình NTTS, nhóm
nghiên c
ứu tiến hành điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên trên 3 xã thuộc địa bàn nghiên cứu
v
ới 2 mô hình nuôi chủ yếu: Nuôi chuyên canh tôm và nuôi xen ghép.
a.V
ề tổ chức sản xuất
Có s
ự khác biệt đáng kể giữa 2 mô hình nuôi. Nuôi chuyên canh tôm là cách
nuôi duy nh
ất một loài (tôm) trong ao, các đối tượng khác coi như có ảnh hưởng bất lợi
đối với kết quả nuôi trồng. Mô hình nuôi này nhằm tạo ra sản phẩm có khối lượng lớn
mang tính ch
ất hàng hoá và có thể áp dụng khoa học kỹ thuật mới. Mô hình này phát
tri
ển mạnh trong giai đoạn từ 1998 – 2005 và đã mang lại hiệu quả khá cao. Tuy nhiên,
vi
ệc phát triển ồ ạt của mô hình này đã dẫn đến những rủi ro về năng suất do môi trường
nuôi b
ị ô nhiễm và diện tích nuôi theo mô hình này đang có khuynh hướng giảm xuống.
Nuôi xen canh h
ỗn hợp là mô hình nuôi nhiều loài cùng một ao và trong cùng thời gian,
nh
ằm tận dụng tiềm năng của thuỷ vực. Mô hình nuôi này cho phép tận dụng được
ngu
ồn thức ăn tự nhiên và thể tích của thuỷ vực để đạt năng suất cao với chi phí đầu tư
th
n
ăng lượng. Hơn nữa, do không phải tập trung thu hoạch vào những lúc cao điểm như
nuôi chuyên canh tôm nên mô hình nuôi xen có th
ể giảm được chi phí lao động thuê
kho
ảng 33%, nhờ vậy có thể làm tăng thêm giá trị gia tăng cho các hộ gia đình.
Xét cơ cấu chi phí, cả hai mô hình đều có mức độ thâm canh cao nên tỷ trọng
chi phí th
ức ăn công nghiệp trong tổng chi phí khá cao (28% đối với mô hình nuôi
chuyên canh tôm và 35,6%
đối với mô hình nuôi xen). Để hạn chế rủi ro do ô nhiễm
môi tr
ường, dịch bệnh có thể phát sinh các hộ NTTS cũng đã đầu tư một khoản khá lớn
cho vi
ệc cải tạo ao nuôi định kỳ và phòng trừ dịch bệnh (chiếm 14% đối với nuôi
chuyên canh tôm và 12,7%
đối với mô hình nuôi xen ghép).
Xét trên khía c
ạnh môi trường, NTTS theo mô hình nuôi chuyên canh tôm có
nguy c
ơ gây ô nhiễm môi trường nước khá nghiêm trọng do chất thải từ các loại hóa
ch
ất khi xử lý ao và thức ăn dư thừa. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi
ro trong NTTS
ở Quảng Điền. Chuyển sang mô hình nuôi ghép, do nuôi nhiều loài trong
cùng m
ột ao nuôi nên có thể tận dụng nguồn thức ăn chẳng hạn, ở mô hình nuôi tôm
xen v
ới cá kình, do đặc tính tôm thường ăn đêm trong khi cá ăn vào ban ngày nên buổi
t
Ngoài s
ản phẩm tôm, mô hình nuôi xen canh còn có sản phẩm cua và cá. Hiện
nay ngu
ồn giống cua ở địa bàn khảo sát đang trong tình trạng bế tắc vì giống cua khai
thác t
ừ tự nhiên ngày càng cạn kiệt dần trong khi giống cua nhân tạo ngay tại địa
ph
ương vẫn chưa sản xuất được và người dân phải đầu tư thêm chi phí để mua giống từ
Nha Trang.
Đối với sản phẩm cá, người dân chủ yếu nuôi cá kình vì sẵn giống (khai thác từ
đầm phá), giá giống rẻ so với một số cá khác như cá dìa, cá ong. Theo đánh giá của
người nuôi thì việc nuôi xen ghép có tác dụng làm sạch môi trường ao nuôi hơn do thức
ăn thừa của tôm được tận dụng cho cá và các loại nuôi khác.
Trên giác
độ kinh tế, hiệu quả sản xuất là yếu tố quyết định đến quy mô và loại
hình
đầu tư tại các nông hộ NTTS. Bảng 1 phản ánh kết quả và hiệu quả sản xuất của
các h
ộ theo các mô hình sản xuất khác nhau.
So v
ới mô hình nuôi chuyên canh tôm, hiệu quả mô hình nuôi xen ghép cao hơn
c
ả về chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối. Nếu tính trên 1 ha diện tích ao nuôi, tổng giá trị
s
ản xuất (GO) của mô hình nuôi xen ghép đạt được khoảng 81,6 triệu đồng, cao hơn
11% so v
ới mô hình nuôi tôm chuyên canh. Hơn nữa, khi thực hiện mô hình nuôi xen
ghép, các h
ộ NTTS có thể tiết kiệm nhiều khoản chi phí bằng tiền (chi phí trung gian
mô hình này th
Bên c
ạnh nguyên nhân do sự khác biệt về chi phí thì yếu tố về thị trường tiêu thụ (do đa
d
ạng đối tượng nuôi nên thị trường tiêu thụ sản phẩm của mô hình nuôi xen ghép ổn
định, ít bị ép giá) và rủi ro thấp là những nguyên nhân quan trọng tạo ra sự khác biệt về
hi
ệu quả sản xuất giữa 2 mô hình.
Tóm l
ại, từ thực tế điều tra đã cho thấy, mô hình nuôi xen ghép đang là mô hình
có kh
ả năng mang lại hiệu quả cao so với các mô hình khác. Vì vậy, chính quyền địa
ph
ương, Sở Thuỷ sản và các Trung tâm Khuyến ngư cần có những giải pháp tích cực
h
ơn nữa để hỗ trợ các hộ nông dân ở đây cả về vốn, kỹ thuật nhằm chuyển đổi mô hình
nuôi
để mang lại hiệu quả cao hơn.
b. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đối với năng suất tôm
c
ủa các hộ điều tra, chúng tôi đã sử dụng phương pháp phân tích hồi quy. Hàm sản xuất
Cobb – Douglas
được sử dụng để ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị gia tăng
c
ủa hộ NTTS ở vùng nghiên cứu. Kết quả ước lượng được thể hiện ở bảng 2.
H
ệ số xác định ở mô hình là 0,652 cho thấy khoảng 65,2% sự biến động giá trị
gia t
ăng của các hộ nuôi tôm là do ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đã được đưa vào
mô hình. Ngo
B ng 2. K t qu c l ng hàm s n xu t c a các h NTTS
Biến Hệ số ảnh hưởng (α
αα
α
j
) Sai số chuẩn (se)
- hệ số tự do (β
0
) -2,088
ns- lnx
1
(giống) 0,218
***
0,164
- lnx
2
(ta - cn) 0,291
***
0,250
- lnx
3
(dịch bệnh) 0,294
ns
0,069
điều kiện các yếu tố khác không đổi, nếu tăng thêm 1% ngày công lao động so với mức
trung bình s
ẽ làm VA trung bình của các hộ NTTS tăng thêm 0,3%. Khác với các loại
hình s
ản xuất khác, các đối tượng trong NTTS có độ nhạy cảm cao đối với sự thay đổi
c
ủa môi trường như nhiệt độ, độ pH, độ mặn của nước Vì vậy, ngoài việc đầu tư về
v
ật chất thì yếu tố hết sức quan trọng đối với các hộ NTTS là phải đầu tư nhiều thời
gian ch
ăm sóc, theo dõi diễn biến sự thay đổi của các yếu tố có ảnh hưởng đến quá trình
sinh tr
ưởng của đối tượng nuôi để có biện pháp xử lý kịp thời sẽ hạn chế được những
t
ổn thất khi có dịch bệnh xảy ra.
S
ự khác biệt về giá trị gia tăng trung bình giữa hai mô hình nuôi có ý nghĩa
th
ống kê cao (1%). Điều này đã cho thấy, việc lựa chọn mô hình nuôi có ảnh hưởng
quan tr
ọng đến kết quả sản xuất.
2.3. Một số đề xuất nhằm phát triển NTTS theo hướng bền vững
T
ừ kết quả nghiên cứu, phân tích và đánh giá các mô hình sản xuất, để phát triển
NTTS theo h
ướng bền vững cần thực hiện một số giải pháp như: (a) Khuyến khích các
h
ộ gia đình nuôi tôm kém hiệu quả chuyển đổi sang mô hình NTTS hỗn hợp với nhiều
đối tượng nuôi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường. (b)
T
cao hi
ệu quả, tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. D án phát tri n nông thôn Qu ng i n (VIE/023), Báo cáo ánh giá tình hình kinh t
xã h
i huy n Qu ng i n.
2. Nguy
n V n H p & c ng s , Ch t l ng n c m phá TGCH, hi n tr ng, lo l ng và
gi
i pháp ki m soát, tr ng H Khoa h c Hu , 2005.
3. Nguy
n Phi Nam & c ng s , Tác ng c a nuôi ghép m t s loài th y s n trong ao
nuôi tôm sú
n ch t l ng môi tr ng n c t i khu v c m Sam – Chu n thu c th
tr
n Thu n An – huy n Phú Vang, 2007.
4. Nguy
n Th Xuân Thu, Tr ng Th Liên, Xây d ng mô hình NTTS b n v ng cho các
vùng
m phá ven bi n mi n Trung. Báo cáo h i th o qu c gia v m phá Th a Thiên
Hu
, 2005.
5. Nguy
n Tài Phúc, Nghiên c u phát tri n nuôi tr ng thu s n vùng m phá ven bi n
Th
a Thiên Hu , Lu n án ti n s , 2005.
6. Phòng Nông nghi
p huy n Qu ng i n, Báo ho t ánh giá ng nuôi tr ng thu s n
huy
n Qu ng i n n m 2000 và 2004.