5
KHẢO SÁT QUI MÔ TRANG TRẠI Ở THỪA THIÊN HUẾ
Nguyễn Khắc Hoàn, Lê
Thị Kim Liên
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, thủy sản
có mục đích chính là sản xuất hàng hóa, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu
hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên qui mô
ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự
chủ và luôn gắn với thị trường.
Kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế sản xuất hàng hóa phát triển trên
cơ sở kinh tế hộ nhưng ở qui mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về cả vốn và kỹ
thuật, có thể thuê mướn nhân công để sản xuất ra một hoặc vài loại sản phẩm
hàng hóa từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường.
Thừa Thiên Huế là một tỉnh miền Trung, địa hình chủ yếu là núi non, gò đồi,
đầm phá. Trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp của Tỉnh nói chung
có sự phát triển khởi sắc, trong đó, kinh tế trang trại đã và đang từng bước khẳng
định vai trò vị trí của nó trong nền nông nghiệp của Tỉnh. Các loại hình trang trại
ở Thừa Thiên Huế chủ yếu là các trang trại nuôi tôm, trồng rừng, nông lâm kết
hợp, chăn nuôi, trồng trọt và trang trại kinh doanh tổng hợp. Tuy nhiên, kinh tế
trang trại ở Thừa Thiên Huế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của địa 6
phương. Bên cạnh một số trang trại đã và đang hoạt động sản xuất kinh doanh có
khoảng thời gian ngắn bốn năm, số lượng trang trại của tỉnh tăng lên rất nhanh.
Cuối năm 1999 đầu năm 2000 mới chỉ có 149 trang trại, đến năm 2003 đã là 341
trang trại với số trang trại tăng lên là 192 trang trại. Như vậy, năm 2003 số lượng
trang trại đã tăng gấp 2,28 lần so với năm 2000. Đây là một bước tăng nhảy vọt
về mặt số lượng. Về cơ bản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có sáu loại hình
trang trại cơ bản là trang trại trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, trồng cây
lâm nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh tổng hợp.
Về cơ cấu trang trại, trang trại thủy sản chiếm tỷ trọng lớn, kế đến là trang
trại trồng cây lâu năm và trồng cây hàng năm. Đặc biệt, năm 2000 và 2001 trang
trại thủy sản chiếm gần 50%. Điều này thể hiện lợi thế về điều kiện tự nhiên của
Thừa Thiên Huế với vùng đầm phá và cát ven biển rộng lớn, có nhiều tiềm năng
để phát triển các loại hình nuôi trồng thủy sản.
2.2. Qui mô trang trại:
Nghiên cứu thực trạng kinh tế trang trại ở tỉnh Thừa Thiên Huế chúng tôi
tiến hành khảo sát 120 trang trại trong tổng số 341 trang trại của Tỉnh. Kết quả
điều tra được tổng hợp và phân tổ theo các tiêu thức khác nhau.
2.2.1. Qui mô trang trại phân theo lao động:
Các trang trại có qui mô từ 6 - 10 lao động chiếm tỷ trọng tới 50% tổng số 8
trang trại điều tra. Các trang trại có trên 10 lao động chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Nhìn
chung các trang trại ở Thừa Thiên Huế có qui mô lao động không cao, chủ yếu là
từ 5- 10 lao động bình quân một trang trại. Các trang trại thu hút nhiều lao động
nhất là các trang trại nuôi trồng thủy sản tiếp đến là các trang trại trồng cây lâu
năm và trang trại kinh doanh tổng hợp. Các trang trại trồng cây hàng năm, trồng
cây lâu năm, chăn nuôi và kinh doanh tổng hợp có qui mô lao động nhỏ.
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
0
0
12
24
8
15
44
17 9
6. Kinh doanh tổng
hợp
Tổng cộng 46 60 13 1 0 120
Tỷ lệ (%) 38,3 50 10,8 0,9 0,0 100
Nguồn: Số liệu điều tra 2004
2.2. 2.Qui mô trang trại phân theo đất đai:
Các trang trại có qui mô diện tích nhỏ dưới 3 ha chiếm tỷ lệ khá cao (
44,16%). Ở đây chủ yếu là do các trang trại nuôi trồng thủy sản có qui mô diện
38
1
3
16
0
2
4
3
8
4
0
1
2
4
1
2
3
0
0
8
0
0
5
0
0
1
12
24
8
15
10 –
30
30 –
50
50 –
70
70 –
100
> 100 Tổng
1. Cây hàng năm
2. Cây lâu năm
3. Cây lâm nghiệp
4. Chăn nuôi
5. Nuôi trồng thuỷ
sản
6. Kinh doanh tổng
1
0
0
1
0
0
24
8
15
44
17 12
hợp
Tổng 2 6 8 17 31 56 120
Tỷ lệ (%) 1,66 5,00 6,67 14,16 25,83 46,67 100
Nguồn: Số liệu điều tra 2004
2. 4. Qui mô trang trại phân theo tổng thu:
Tổng thu của trang trại là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá qui mô các trang
trại. Tổng thu thể hiện kết quả của sự kết hợp có hiệu quả các yếu tố đất đai, lao
động và vốn kinh doanh.
Kết quả tính toán ở bảng 5 cho thấy các trang trại có qui mô tổng thu từ
100 đến 200 triệu chiếm tỷ lệ cao nhất 33,3%. Các trang trại có tổng thu trên 200
triệu chiếm tỷ trọng 24,2%. Trong khi đó, các trang trại có qui mô tổng thu dưới
50 triệu chiếm tỷ trọng nhỏ. Loại hình trang trại có qui mô tổng thu cao là trang
trại nuôi trồng thủy sản, kế đến là các trang trại kinh doanh tổng hợp, trang trại
chăn nuôi. Các trang trại trồng cây lâu năm có qui mô tổng thu ở mức trung bình
tương đương khoảng 50 đến 100 triệu. Các trang trại trồng cây hàng năm có tổng
thu nhỏ nhất (30 đến dưới 50 triệu) trong một năm. 13
Bảng 5: Qui mô trang trại phân theo tổng thu của trang trại
ĐVT: Trang trại
Thu nhập (triệu đồng)
0
0
1
7
5
0
3
1
2
2
15
3
2
3
4
1
3
4
8
16
8
0
0
1
2
24
2
12
24
8
sơ, thiếu vốn, trình độ dân trí, văn hóa, chuyên môn, quản lý của đội ngũ các chủ
trang trại còn thấp, sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Thị trường và giá cả
đầu vào, đầu ra thiếu ổn định, gặp khó khăn trong tiêu thụ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
1. Ban Vật giá Chính phủ. Tư liệu về kinh tế trang trại, NXB Thành phố
Hồ Chí Minh (2000).
2. Bộ môn Kinh tế phát triển, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội,
Kinh tế phát triển, NXB Thống kê (1999).
3. Các văn bản pháp luật về kinh tế trang trại, NXB Chính trị Quốc gia
(2001)
4. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim chung. Kinh tế Nông nghiệp, NXB Nông
nghiệp (1997)
5. Trần Đức. Kinh tế trang trại sức mạnh của nền nông nghiệp Pháp.
NXB Thống kê Hà Nội (1997)
6. Nguyễn Đình Hương. Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang
trại trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam, NXB
Chính trị Quốc gia (2000)
7. Nghị quyết 03/2000/NQCP về kinh tế trang trại, Hà Nội (2000)
8. Niên giám thống kê, Cục Thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế (2003, 2004)
9. Tổng cục Thống kê, Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và
thủy sản 2001, NXB Thống kê (2003)
10. Văn bản pháp luật về nông nghiệp và phát triển nông thôn, NXB Chính
trị Quốc Gia (2000). 16
TÓM TẮT