TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Lâm Nghiệp
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Đánh giá hiện trạng và sinh trưởng rừng trồng trên vùng đất
cát thuộc các xã ven biển ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa
Thiên Huế
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Mai
Lớp : Lâm Nghiệp 44
Thời gian thực hiện : 02/01/2014 – 06/05/2014
Địa điểm thực tập : Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển
Nông Thôn huyện Phong Điền
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Đinh Thị Hương Duyên
Bộ môn : Lâm Sinh
NĂM 2014
1
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu tại trường Đại Học Nông Lâm
Huế và quá trình thực tập tại Phòng nông nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn huyện Phong Điền, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo
hướng dẫn Th.S Đinh Thị Hương Duyên và cán bộ nơi thực tập, đến nay
tôi đã hoàn thành chương trình đào tạo đại học và hoàn thành Khóa Luận
tốt nghiệp. Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Ban giám hiệu nhà trường Đại Học Nông Lâm, Ban chủ nhiệm Khoa
Lâm Nghiệp, cùng quý thầy cô giảng dạy.
Đặc biệt gửi lời cảm ơn đến Cô Giáo Th.s Đinh Thị Hương Duyên
người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành Khóa Luận đúng
thời hạn.
Xin chân thành cảm ơn đến toàn bộ cán bộ trong Phòng nông nghiệp
và phát triển nông thôn huyện Phong Điền đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong
Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh miền Trung có diện tích đất cát
ven biển khá lớn (59.440 ha, chiếm 60% diện tích đất bằng và chiếm khoảng
11,8% diện tích đất tự nhiên), phân bố trên 30 xã thuộc các huyện Phong Điền,
Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc; bao gồm diện tích đất cồn cát,
bãi cát, đất cát ven biển, đất phù sa úng nước và hệ thống đầm phá.
Vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế là một tiểu vùng sinh thái khắc
nghiệt và rất nhạy cảm với điều kiện khí hậu và thời tiết, đặc biệt là trong giai
đoạn biến đổi khí hậu hiện nay. Các nghiên cứu cho thấy rằng, Việt Nam là một
trong những nước sẽ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu (ADB 2009). Nhiệt độ ở
Việt Nam sau 50 năm (1958 – 2007) tăng lên khoảng từ 0,5
0
C đến 0,7
0
C. Số đợt
không khí lạnh ảnh hưởng đến nước ta giảm rõ rệt trong 2 thập kỷ qua. Nhiệt độ
mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn
khí hậu phía Nam. Lượng mưa trong 50 năm qua cũng giảm khoảng 2%, các
vùng khí hậu phía Bắc có lượng mưa giảm còn lượng mưa lại tăng ở phía Nam.
Mực nước biển có tốc độ tăng 3mm/năm. Theo một số kết quả nghiên cứu dự
đoán đến 2100, miền Trung Việt Nam sẽ có sự gia tăng nhiệt độ trung bình lên
đến 2,8
0
C, lượng mưa trung bình tăng 7-8% và mực nước biển tăng 75 cm (Bộ
TN&MT, 2009).
Với sự ảnh hưởng đó, điều kiện môi trường của vùng đất cát ven biển tỉnh
Thừa Thiên Huế trong nhiều năm qua có sự biến động khá mạnh do tác động
của thiên nhiên và con người. Nguy cơ sạt lở bờ biển, nước biển xâm thực; hiện
tượng cát bay, cát trôi, cát chuồi là những mối đe dọa thường xuyên. Ngoài yếu
tố khách quan, cũng không ít lý do chủ quan như việc phát triển sản xuất, đào hồ
nuôi trồng thủy sản cũng đã làm xáo trộn không ít cảnh quan, môi trường; thêm
còn chống được tình trạng sa mạc hoá vùng đất cát ven biển; chống biển xâm
thực và nạn cát bay; tạo cảnh quan sinh thái thuận lợi cho môi trường, phù hợp
với chiến lược phát triển lâm nghiệp của tỉnh giai đoạn 2011-2015: Thừa Thiên
Huế trồng mới khoảng 1.150 ha rừng vùng cát ven biển và đầm phá.
Vấn đề tồn tại lớn nhất trong phát triển rừng trồng vùng cát ven biển
huyện Phong Điền nói riêng, tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung là chưa có các
nghiên cứu, đánh giá khoa học và một cách đầy đủ về đặc điểm vùng sinh thái,
các loài cây trồng phù hợp, mà chỉ mới chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Nhằm
góp phần xây dựng cơ sở thực tiễn cho công tác phát triển rừng trồng vùng cát
ven biển của tỉnh hiệu quả và đảm bảo tính bền vững trong giai đoạn hiện nay,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Đánh giá hiện trạng và sinh trưởng
rừng trồng trên vùng đất cát thuộc các xã ven biển ở huyện Phong Điền, tỉnh
Thừa Thiên Huế".
8
PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Sinh trưởng và tăng trưởng của cá thể cây rừng
2.1.1. Sinh trưởng của cá thể cây rừng
Sinh trưởng là sự tăng lên của một đại lượng nào đó nhờ kết quả đồng hóa
của một vật sống (theo V.Bertalanfly) hoặc là sự biến đi của nhân tố điều tra
theo thời gian (theo Vũ Tiến Hinh- Phạm Ngọc Giao, 1997).[1]
Sinh trưởng của cây rừng là một trong những cơ sở quan trọng hình thành
nên sản lượng rừng. Sinh trưởng của cây rừng có nhiều biểu hiện đa dạng cả
phần trên mặt đất và dưới mặt đất. Ở đây chỉ nghiên cứu nhân tố có liên quan
đến sản lượng gỗ. Đó là quy luật sinh trưởng chiều cao, đường kính và thể tích.
Sinh trưởng của cây rừng là một hàm số (y) của thời gian (t): y= f (t)
Hàm sinh trưởng cá thể cây rừng là hàm thuận, tăng đơn điệu, xác định
trong khoảng 0 < t T (T là tuổi thọ của cây). Đường cong biểu diễn sinh trưởng
có hình chữ S, có một điểm uốn, tại đó cây đạt lượng tăng trưởng cực đại.
Đặc tính di truyền của mỗi loài cây và điều kiện lập địa quyết định dạng
nhóm thực vật này lọai cây này có hiện tượng "tái sinh trưởng", có nghĩa là
trong một năm xuất hiện 2-3 đợt sinh trưởng chiều cao. Ở nước ta đợt sinh
trưởng chiều cao lần thứ hai thường xuất hiện vào mùa mưa. Đối với nhứng loài
cây sinh trưởng không liên tục, có thể dựa vào vòng cành để đoán tuổi. Căn cứ
vào đường cong sinh trưởng chiều cao, người ta phân biệt làm 4 dạng đường
cong sinh trưởng sau đây:
H(m) H(m)
Dạng I: Cây tiên phomg tạm thời Dạng II: Cây tiên phong định cư
H(m) H(m)
10
Dạng III: Cây chịu bóng dưới tán rừng Dạng IV: Cây chịu bóng tầng trên
Dạng 1: Cây tiên phong tạm thời
Cây ưa sáng đới sống ngắn, cây sinh trưởng nhanh và kích thước nhỏ (Hu
đay, bồ đề ).
Dạng 2: Cây tiên phong định cư
Cây ưa sáng, đời sống ngắn, cây sinh trưởng dài và kích thước lớn (mỡ,
ràng ràng, mít ).
Dạng 3: Cây chịu bóng dưới tán rừng
Cây sinh trưởng chậm kích thước nhỏ.
Dạng 4: Cây chịu bóng tầng trên
Cây sinh trưởng chậm, kích thước lớn, đời sống dài.
Phân loại dạng đường cong sinh trưởng là một trong những cơ sở là rất
quan trọng để lựa chọn sự phối hợp các loại cây trồng rừng thuần loài, dạng
đường cong sinh trưởng chiều cao quyết định kết cấu tầng thứ của mô hình
thuần loài và lựa chọn thời điểm và thời gian trồng.
2.1.1.2. Về sinh trưởng đường kính
Sinh trưởng đường kính diễn ra nhờ có hoạt động của tượng tầng. Ở
những khí hậu phân mùa rõ rệt, nhất là đối với loài cây rụng lá việc hình thành
"gỗ mùa xuân", "gỗ mùa thu" hàng năm đã tạo nên vòng năm có thể nhận biết
trên mặt cắt ngang thân cây. Đối với những loài cây này có thể dựa vào số vòng
Tăng trưởng là tốc độ sinh trưởng trong một khoảng thời gian nhất định.
Tăng trưởng cũng là một hàm số (Z) của thời gian (t) và được tính bằng hàm
bậc nhất của hàm sinh trưởng:
Z = y' = f' (t)
Đường cong tăng trưởng có dạng đường cong một đỉnh không đối xứng.
Điểm cực đại của đường cong tăng trưởng trùng với điểm uốn của đường cong
sinh trưởng. Trước điểm tăng trưởng cực đại lượng tăng trưởng tăng nhanh; sau
thời điểm cực đại lượng tăng trưởng giảm dần. Đường cong tăng trưởng phụ
thuộc vào dạng đường cong sinh trưởng và cũng chịu ảnh hưởng chi phối của
tính di truyền và điều kiện lập địa. Loài cây ưa sáng, trong những năm đầu có
lượng tăng trưởng cao, thời điểm đạt lượng tăng trưởng cực đại đến sớm sau đó
lượng tăng trưởng giảm nhanh. Ngược lại loài cây chịu bóng trong những năm
đầu có lượng tăng trưởng thấp, thời điểm đạt tăng trưởng cực đại đến muộn và
sau đó lượng tăng trưởng giảm nhưng giảm chậm hơn so với loài cây ưa sáng.
Trong thời điểm cây rừng đạt tăng trưởng cực đại có ý nghĩa thực tiễn rất quan
trọng, bởi vì năng suất sinh trưởng lúc này cao nhất, những biến đổi vể cấu trúc
12
lâm phần cũng diễn ra nhanh nhất. Nếu tác động các biện pháp lâm sinh chính
xác và kịp thời sẽ có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của lâm phần sau này.
Cùng một loài cây, sinh trưởng trong những điều kiện lập địa khác nhau sẽ có
lượng tăng trưởng khác nhau. Lượng tăng trưởng hằng năm cực đại của những
lâm phần thuần loại trên điều kiện lập địa tốt sẽ đến sớm và lớn hơn so với
những lâm phần tương tự trên điều
kiện lập địa xấu.
Đặc trưng của lâm phần ảnh
hưởng đến lượng tăng trưởng. Cùng
một loài cây cùng một điều kiện lập
địa nhưng mặt độ khác nhau thì lượng
tăng trưởng cũng khác nhau.
Đường cong tăng trưởng của loài cây ưa
phương như Quảng Nam, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận chủ yếu là Bạch
đàn, Xoan chịu hạn, Trai lá cong, các loài Keo, Phi lao Ngoài những cây trồng
nêu trên, vùng đất cát ven biển miền trung còn trồng một số loài cây bản địa, cây
ăn quả lâu năm như: Xoài, Đào lộn hột, Sở, Xà cừ, Trong đó, loài cây Sở, Đào
lộn hột đã trồng thành công hơn cả mặc dầu diện tích trồng rừng chưa nhiều. Sở
được trồng thành quần thụ hoặc trồng phân tán trong các hộ gia đình sống trên
vùng đất cát. Nhân dân dùng hạt ép dầu ăn và dùng bả Sở để vệ sinh ao hồ,
thuốc cá. Do diện tích rừng không tập trung, phương pháp chế biến sản phẩm là
thủ công thô sơ nên hiệu quả kinh doanh còn hạn chế.
Nhìn chung, các mô hình còn ít về số lượng, nhiều mô hình còn trong giai
đoạn thử nghiệm, chưa được nhân rộng và phát triển mạnh mẽ do các loài cây lâm
nghiệp hiện nay chưa thể hiện được sức mạnh nổi trội trong phát triển kinh tế ở
địa phương. Tuy nhiên, một số dự án về phát triển cây lâm nghiệp ở các địa
phương như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Bình Thuận đã chọn được
một số loài cây thích hợp và đưa vào trồng đại trà, có khả năng phát triển mạnh
đó là các loài Keo chịu hạn (Acacia), trong đó cây Keo lá liềm đang rất được quan
tâm, chú ý.
Trong giai đoạn trước đây ở nước ta, cây Phi lao được xem là cây độc
nhất ở dải cát ven biển miền trung với sức sống rất oai hùng, khả năng chắn gió
bão, chắn cát bay, đem màu xanh cho vùng đất cát khô cằn, nơi mà khó có cây
gì sống được. Cây Phi lao cứng cáp, lá xanh tươi bốn mùa. Lá khô và quả dùng
để đun nấu. Thân cây mau lớn, sau 6-7 năm được thu hoạch, bán gỗ hay bán củi
đều là nguồn lợi cho tới tận ngày nay. Gỗ đỏ màu xám rất rắn dùng trong xây
14
dựng, làm than, làm củi. Từ lâu các nhà trồng cây cảnh đã trồng uốn làm cây
cảnh nghệ thuật. Vỏ xám trên cành non, nâu sẫm trên cành già, chứa chất
casuarin dùng để nhuộm, do có Tanin nên được dùng để thuộc da, chế với sunfat
sắt cho màu đen. Tro của gỗ là nguyên liệu chế xà phòng. Và đặc biệt còn có vai
trò làm nhiều phương thuốc chữa bệnh. Khoảng vào năm 1894 cây phi lao được
nhập ngoại vào Việt Nam và trồng loài cây này sớm nhất tại Việt Nam, đó là
thể áp dụng cho vùng cát ven biển Bắc Trung Bộ, vận dụng phát triển cho toàn
vùng cát ven biển nước ta.
Cơ sở pháp lý quy định những nguyên tắc, yêu cầu và nội dung kỹ thuật
xây dựng rừng chắn gió, cố định cát, cải thiện tiểu khí hậu vùng cát biển v.v là
đề cương Xây dựng quy phạm trồng rừng phòng hộ vùng cát ven biển đã được
Vụ Khoa học - Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phê duyệt
năm 2005. Từ đây, có thể xác định hướng gió chính, mùa gió hạn, các vùng
phòng hộ theo mức độ xung yếu, nhóm dạng lập địa, loài cây trồng dự tuyển cho
đến các kỹ thuật trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ rừng phòng hộ vùng cát
ven biển cả nước.
Điều không kém quan trọng là cần nghiên cứu bổ sung hệ thống đai rừng
phòng hộ điển hình cho các vùng phòng hộ, nhóm dạng lập địa. Rừng này bao
gồm cả cây cao ở trên, cây nhỡ ở giữa và cây bụi ở dưới để tạo đai rừng có kết
cấu tán từ dưới sát mặt đất cát lên phía trên. Hiệu quả kinh tế xã hội và môi
trường của công trình đã rõ. Các vấn đề được phát hiện và kết quả nghiên cứu đã
được trao đổi, chuyển giao cho các cơ quan, cán bộ, người dân vùng cát ven
biển là những nơi thực hiện nghiên cứu.
Cụ thể, các đai rừng phi lao, keo lá tràm trồng trên các dạng lập địa bãi
cát, trên líp trong khu vực canh tác nông nghiệp, có thể chặt khai thác ở tuổi 7-
10, mỗi ha thu được 9,7-10 triệu đồng. Khai thác xong có kế hoạch trồng lại
rừng mới.
Đai rừng phi lao hay keo Acacia difficilis, Acacia torulosa 3 tuổi trồng
trên đụn cát bay với mật độ 5.000 cây/ha, bề rộng đai 100m có tác dụng làm
giảm tốc độ gió ở sau đai rừng 10m tới 0,7-0,8 lần so với tốc độ gió ở trước đai
rừng 10m, giảm lượng cát bay 2,4-4,2 lần, tăng độ ẩm không khí 2,1-3,7%, giảm
nhiệt độ không khí 0,9-20, trả loại đất tới 240g/m2 lá rụng và cải thiện tính chất
hóa học đất so với nơi trống.
Với công trình nghiên cứu này, không chỉ các nhà khoa học mà rồi đây,
người dân vùng biển sẽ biết rất rõ về giá trị to lớn của rừng phòng hộ ven biển.
Nó ngăn chặn tình trạng biển xâm thực, cát bay cát chảy vào khu dân cư, lại bảo
00
(cm) H
vn
(m) D
T
(m)
Phi lao
Trung Quốc
1a
2a
3a
4a
TB
1,70
1,63
2,19
1,85
1,84
1,220
1,023
1,505
1,180
1,232
0,858
0,848
1,262
0,857
0,956
Phi lao
địa phương
động mạnh ven biển
18
Bảng 2.2: Tổng hợp tỷ lệ cây sống, chết của 2 loài Phi lao
Loài cây
Ô tiêu
chuẩn
Cây sống Cây chết
N
% N %
Phi lao
Trung Quốc
1a
2a
3a
4a
TB
110
101
111
112
108,5
67
61
67
68
65,75
55
64
54
53
33
36
34,25
(Nguồn: Lê Đình Khả, 2001) [5]
Một điểm mới trong mô hình này cũng cần phải đề cập đến là phương
thức tổ chức thực hiện. Hộ gia đình đã được giao đất và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, được trợ giúp về kỹ thuật và nguồn giống cây trồng, gia đình
bỏ công lao động. Để có thể đưa những vùng cát di động và bán di động ven
biển nước ta vào sử dụng chúng ta cần phải có những chính sách ưu tiên, trợ
giúp kỹ thuật và đầu tư hợp lý, có như vậy thì các mô hình trồng rừng Phi lao
tập trung như hộ ông Nguyễn Văn Lễ mới được nhân rộng.
Ở nước ta khoa học nghiên cứu về sản lượng rừng hình thành tương đối
muộn so với các nước khác, nhưng việc nghiên cứu rừng phục vụ công tác điều
tra kinh doanh rừng nước ta đã được các nhà khoa học thuộc Viện khoa học
lâm nghiệp, Viện điều tra quy hoạch rừng, trường Đại học Lâm Nghiệp và các
trung tâm nghiên cứu trong cả nước tiến hành nghiên cứu, lúc đầu chỉ thăm dò
cho đến nay thì mô hình toán học cũng đã dần làm rõ.
Đầu tiên các tác giả Nguyễn Ngọc Nhị và Nguyễn Văn Khánh phân vùng
sinh trưởng cho thực vật rừng Việt Nam dựa vào các đặc trưng về khí hậu, thủy
văn, thổ nhưỡng và thực vật với hệ thống chi tiết gồm 6 cấp, trong số khu vực
sinh trưởng cấp cho toàn quốc. Phùng Ngọc Lan (1998) đã khảo nghiệm một số
phương trình sinh trưởng cho một số loài cây như: Thông đuôi ngựa, mỡ Tác
giả cho thấy các đường thực nghiệm và đường sinh trưởng về lý thuyết đa số
gặp nhau tại một điểm, từ đó chứng tỏ sai số của phương trình rất nhỏ, có 2 giai
đoạn sai số ngược dấu nhau trong một hệ thống [6] . Nguyễn Ngọc Lung (1987)
19
nghiên cứu sinh trưởng và định lượng bằng mô hình toán học. Tác giả cũng có
nhận xét tương tự khi áp dụng các hàm sinh trưởng của Gompertz và một số
hàm khác cho một số loài cây rừng Việt Nam, sử dụng hàm Schumacher xây
dựng mô hình sinh trưởng cho loài thông 3 lá tại Lâm Đồng.
hoang hóa giờ đã được phủ xanh, tạo điều kiện về cảnh quan để phát triển du
lịch ven biển và kinh tế trang trại trên cát.
Xã Ðiền Môn là một trong những xã ven biển của huyện Phong Ðiền tham
gia dự án trồng rừng phòng hộ vùng cát (gọi tắt Dự án 661). Từ năm 2001 đến
nay, toàn xã trồng được 180 ha rừng thuộc Dự án 661. Dự án này không chỉ phù
hợp với điều kiện thực tế của địa phương mà còn tạo điều kiện cho người dân
phát triển kinh tế. Sau khi tiếp nhận dự án, nhất là giai đoạn từ năm 2004 đến
2008, nhiều hộ dân có tâm huyết đăng ký tham gia. Ngoài diện tích rừng phòng
hộ do xã quản lý, tính đến nay, có khoảng 134 ha rừng keo lưỡi liềm được giao
cho gần 150 hộ gia đình trồng và quản lý. Cùng với diện tích rừng trồng thuộc Dự
án 661 và gần 280 ha rừng trồng phân tán trong dân, rừng từ các dự án khác, toàn
xã đã phủ kín được 28% trong kế hoạch 45% diện tích đất tự nhiên.
Không chỉ hưởng lợi trực tiếp từ rừng, nhiều hộ dân ở các xã Phong
Chương, Phong Hòa, Phong Bình (Phong Ðiền); Quảng Thái, Quảng Lợi,
Quảng Vinh (Quảng Ðiền) đã thành lập trang trại, gia trại sản xuất nông nghiệp
có hiệu quả. Ðiển hình có mô hình trang trại VACR (vườn-ao-chuồng-rừng) của
các ông Nguyễn Hữu Nhân ở xã Phong Chương (Phong Ðiền), Phan Văn Hứa ở
xã Quảng Lợi (Quảng Ðiền) Nhờ có rừng giữ ẩm, làm mát cho đất, nhiều hộ
dân còn tăng gia trồng thêm nhiều giống cây ăn quả và các loại hoa màu khác.
Thực hiện dự án trồng rừng 661, các địa phương trong vùng đã trồng và
chăm sóc được gần 4.600 ha rừng, trong đó vùng cát ven biển gần 1.900 ha và
vùng cát nội đồng gần 2.740 ha; trồng bảo vệ đê cát ven biển và ven phá 5.210
m; quản lý bảo vệ hơn 5.600 lượt/ha rừng và một số cơ sở hạ tầng khác về
tuyên truyền bảo vệ rừng [7] . Qua đó, nâng độ che phủ rừng của vùng dự án
tăng lên 30%. Các địa phương còn trồng hơn 5.200 m cây dọc các tuyến đê ven
phá và ven biển để nâng cao giá trị phòng hộ. Chất lượng rừng trồng ngày càng
được nâng lên, cơ cấu cây trồng ngày một đa dạng hơn, vừa có tác dụng phòng
hộ, vừa tăng thu nhập cho hộ dân. Diện tích đất trống, đồi núi trọc cơ bản được
trồng rừng phủ xanh, rừng phòng hộ ven biển, hình thành các đai rừng bảo vệ
đê, phòng hộ khu dân cư ven biển trước bão lũ và tình trạng nước biển dâng.
3.4.3. Khả năng sinh trưởng của các loài cây trồng trên đất cát thuộc xã Điền
Hương
3.4.4. Khả năng sinh trưởng của các loài cây trồng trên đất cát thuộc xã Điền
Môn
3.5. Phương pháp nghiên cứu
3.5.1. Phương pháp thu thập số liệu
3.5.1.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
23
Trên cơ sở kế thừa những tài liệu, văn bản ở Phòng Nông Nghiệp và Phát
Triển Nông Thôn, phòng thống kê và xử lý các thông tin về điều kiện tự nhiên,
tình hình dân sinh kinh tế trên địa bàn nghiên cứu huyện Phong Điền.
3.5.1.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phỏng vấn cán bộ kiểm lâm về công tác bảo vệ rừng và phát triển rừng.
- Đo đếm số liệu thực tế tại rừng trồng để xác định chất lượng của rừng
trên địa bàn theo phương pháp sau:
* Bước một: Chuẩn bị
- Thu thập tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu về bản đồ hiện trạng
rừng và xác định nơi phân bố.
- Xác định đối tượng điều tra trên bản đồ.
- Chuẩn bị các công cụ đo đếm: Thước dây, sào có khắc vạch
- Xác định ô tiêu chuẩn và kích thước cụ thể của ô, ô tiêu chuẩn 500m
2
.
* Bước hai: Lập tuyến điều tra
- Lập các ô tiêu chuẩn (OTC) theo các độ tuổi cây rừng, mỗi tuổi cây lập
3 lần lặp ở 2 xã (Điền Hương, Điền Môn).
- Mỗi OTC có diện tích 500m
2
đảm bảo:
+ Nằm gọn trong lô rừng
bằng cách đo chu vi (C) tại vị trí gốc và vị trí 1,3m sau đó tính đường kính.
+ Đo chu vi bằng thước dây có độ chính xác mm.
+ Đo chiều dài dưới cành (H
dc
, m) bằng thước dây có độ chính xác mm.
+ Đo chiều cao vút ngọn (H
vn
, m) bằng sào có độ chính xác dm.
+ Đo đường kính tán (D
t
, m) theo 2 chiều vuông góc ĐT-NB bằng sào
có độ chính xác dm.
- Loài cây trồng
+ Năm trồng
+ Mật độ trồng ban đầu
+ Diện tích trồng
+ Các đại lượng sinh trưởng:
Chiều cao vút ngọn (H
vn
, m)
Đường kính ngang ngực (D
1,3
, cm)
Đường kính gốc (D
g
, cm)
Chiều cao dưới cành (H
dc
, m)
Đường kính tán (D