ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
---------------------------------------
NGUYỄN THỊ SƢƠNG
PHÂN LẬP VÀ KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ LOÀI
VI TẢO TRONG SINH CẢNH CÁT VEN HỒ Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành :
Người hướng dẫn:
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TS. Trịnh Đăng Mậu
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đề tài ―Phân lập và khảo sát đặc điểm sinh học của một số loài vi
tảo trong sinh cảnh cát ven hồ ở huyện Phong Điền, Tỉnh Thừa Thiên Huế‖ là kết quả
cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai
cơng bố trong bất kỳ cơng trình nào khác. Các số liệu liên quan được trích dẫn có ghi
chú nguồn gốc.
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Sƣơng
Danh mục tọa độ điểm nghiên cứu
10
Bảng 3.1
Danh mục thành phần loài tảo phân lập được ở sinh cảnh
cát ven hồ tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
14
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Số hiệu
Tên
Trang
Hình 2.1
Địa điểm nghiên cứu tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên
Huế
10
Hình 3.1
Hình thái các lồi phân lập được
Hàm lượng lipid trên trọng lượng khơ của vi tảo
22
Hình 3.7
Tương quan tốc độ tăng trưởng và hàm lượng lipid ở các
chủng vi tảo
23
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài .............................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài ......................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học đề tài...............................................................................2
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .....................................................................3
1.1. Lịch sử phân lập và nghiên cứu ứng dụng vi tảo ...................................3
1.1.1. Lịch sử phân lập và nghiên cứu ứng dụng vi tảo trên thế giới ............3
1.1.2 Lịch sử phân lập và nghiên cứu ứng dụng vi tảo ở Việt Nam ..............5
1.2. Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu .................................................5
1.2.1. Vị trí địa lý .........................................................................................5
1.2.2. Đặc điểm khí hậu................................................................................6
1.2.3 Đặc điểm địa hình ................................................................................6
1.2.4. Đặc điểm kinh tế - xã hội ....................................................................8
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 10
2.1. Đối tƣợng, thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................10
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................10
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu ........................................................................10
tiên trong chuỗi thức ăn vì vậy chúng quyết định đến năng suất sinh học của các thuỷ
vực này, chúng có khả năng làm sạch mơi trường, cung cấp oxi cho động vật hiếm khí.
Vi tảo cịn được ứng dụng trong chỉ thị sinh học cho độ ô nhiễm của nước, làm nguồn
thức ăn trong nuôi trồng thuỷ sản. Với hàm lượng giá trị dinh dưỡng cao vi tảo được
sử dụng làm thức ăn, chữa bệnh và chế biến mỹ phẩm. Bên cạnh đó, một số lồi vi tảo
có thể sản xuất thành nhiên liệu sinh học với khả năng tăng sinh khối nhanh, dễ nuôi
trồng ở quy mô lớn và nguồn lipid từ vi tảo được xem là nguồn nhiên liệu sinh học có
tiềm năng, thân thiện với môi trường và sẽ là nguồn nhiên liệu thay thế cho nguồn
nhiên liệu hoá thạch đang ngày càng cạn kiệt trong tương lai. Bên cạnh những lợi ích
mà vi tảo mang lại thì chúng cũng gây hại cho các thuỷ vực, đó là hiện tượng ―nước
nở hoa‖ hiện tượng này xảy ra do sinh khối vi tảo tăng cao đến hàng trăm g/m3 và một
số lồi vi tảo có khả năng gây độc sẽ gây chết các động vật thuỷ sinh do thiếu oxy hay
bị độc mà chết, các hiện tượng này thấy rõ tại các thuỷ vực bị ô nhiễm hữu cơ (Đặng
Thị Sy, 2005) (Võ Hành, 2007).
Trong các hệ sinh thái thì có một hệ sinh thái đặc biệt đó là hệ sinh cát ven hồ.
Hệ sinh cảnh này đặc biệt là do sự biến động về hoá-lý với các điều kiện vô cùng khắc
nghiệt như nhiệt độ cao, dinh dưỡng thấp, lượng nước thay đổi đột ngột khiến và hệ
sinh cảnh này có tính đa dạng thấp (Kalinowska & cs., 2011). Sinh vật trong hệ sinh
cảnh này sống giữa các khe hở của các hạt cát. Vi tảo sống trong hệ sinh cảnh cát ven
hồ sẽ có khả năng chống chịu cao với các điều kiện môi trường bất lợi của hệ sinh thái
này. Trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu hệ sinh cảnh cát về đa dạng,
cấu trúc thành phần loài như: Ejsmont-Karabin, J. , Gorelysheva, Z. , Kalinowska, K. ,
Rybak, J. năm 2012; Krzysztof Czernaś năm 2001.
Tỉnh Thừa Thiên Huế có nhiều vùng sinh thái như: vùng núi, vùng gò đồi, vùng
đồng bằng và vùng đầm phá và cồn cát ven biển. Đặc biệt tỉnh Thừa Thiên Huế có
trảng cát nội đồng Phong Điền, Quảng Điền và Phú Vang, chiếm khoảng 16% diện
tích tự nhiên của tỉnh, ngồi ra cịn có các đụn, cồn cát, các hồ có tầm quan trọng đối
với người dân nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thành, 2005). Có sự
phong phú về hệ sinh cảnh cát nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào về vi tảo trong hệ
sinh cảnh cát tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhằm góp phần phát hiện đặc điểm, khả năng
tảo. Năm 1850 German-born Ferdinand Cohn là người đầu tiên có báo cáo về nuôi
sinh khối tảo Haematococcus (Chlorophyceae). Tuy nhiên sinh khối tảo này khơng
hồn tồn sạch lồi khi ơng khơng sử dụng mơi trường ni cấy riêng cho lồi này.
Sau đó nhà sinh lý học thực vật Famintzin năm 1871 là người đã thực hiện các phương
pháp đầu tiên để nuôi cấy tảo bằng cách sử dụng giải pháp ít muối vô cơ. Vào năm
1865 ông đã trồng nhiều loại tảo xanh, đặc biệt là hai lồi mà ơng đã xác định là
Chlorococcum infusionum (Schrank) Meneghini và Protococcus viridis C. Agardh.
Đến năm 1890 bắt đầu có những báo cáo đầu tiên về nuôi cấy tảo thuần từ nhà vi trùng
học người Hà Lan Beijerinck, ông đã thực hiện việc pha nước lấy mẫu hoặc pha môi
trường với gelatin. Vào những năm 1890 đến 1893 ông đã phân lập thành cơng
Chlorella và Scenedesmus từ mơi trường tự nhiên, sau đó là bước phát triển về phân
lập với thành công phân lập nhiều loại tảo bào gồm cả tảo lam năm 1901 và tảo silic
năm 1904. Từ mốc thời gian này các nghiên cứu về nghiên cứu phân lập vi tảo ngày
càng được quan tâm và cho ra nhiều báo cáo về môi trường nuôi cấy hay phương pháp
làm sạch tảo. Miquel, một nhà vi trùng học đã thực hiện việc phân lập vi tảo với các
phương pháp như sử dụng micropipette để phân lập các tế bào tảo và sử dụng các hợp
chất hữu cơ làm nguồn hữu cơ bổ sung cho mơi trường khống chất (bổ sung các vật
liệu dinh dưỡng hữu cơ dưới dạng cám, rơm, mảnh cỏ, rêu, v.v.). Với micropipette và
kính hiển vi, ơng đã phân lập các tế bào đơn và tách chúng vào môi trường nuôi cấy
riêng. Miquel cũng sử dụng phương pháp cách ly pha lỗng; ơng đã thêm một mẫu
chứa tảo cát vào nước đã pha chế (môi trường nuôi cấy), và sau đó ơng chia hỗn hợp
này thành một số ống. Miquel đã phát triển hai giải pháp (A và B) có chứa muối
khống mà ơng đã sử dụng để làm giàu nước biển và các giải pháp A và B nổi tiếng
của ông đã được sử dụng rộng rãi cho nuôi cấy tảo (Robert, 2005).
Trong những năm cuối của thế kỷ XIX, nhiều nhà khoa học khác cũng có những
đóng góp cho kiến thức của chúng ta về ni cấy tảo. Noll năm 1892 và Oltmanns
năm 1892 (Đức) đã xuất bản các bài báo thảo luận về sự phát triển của tảo biển. Nhà
thực vật học người Thụy Sĩ Naegeli vào năm 1893 đã phát hiện ra rằng đồng có tác
động đến sự phát triển của tảo nước ngọt, và ông đã giới thiệu Spirogyra để thử
thành chủ đề nóng cho các nhà nghiên cứu với những ứng dụng rộng rãi trong thức ăn
nuôi trồng thuỷ sản, dược liệu, nhiên liệu sinh học. Bắt nguồn của việc nghiên cứu về
vi tảo như loại nhiên liệu sinh học thay thế là sau khi một cuộc khủng hoảng dầu mỏ
xảy ra vào năm 1978. Chương trình Lồi thủy sản (1978-1996) đã tiến hành các
nghiên cứu sinh hóa và sinh lý để hiểu rõ hơn về các quá trình trong vi tảo và cuối
cùng là phân tử ứng dụng và kỹ thuật di truyền cho vi tảo với mục đích tăng hàm
lượng dầu. Ni cấy vi tảo quy mô lớn thương mại bắt đầu vào đầu những năm 1960
tại Nhật Bản với nuôi trồng vi tảo Chlorella, đầu những năm 1970 với việc thành lập
một cơ sở nuôi trồng và thu hoạch tảo Spirulina ở Lake Texcoco, Mexico bởi Sosa
Texcoco SA. Vào năm 1977 Dai Nippon Ink and Chemicals Inc. đã thành lập một nhà
máy tảo Spirulina thương mại ở Thái Lan và đến năm 1980, có 46 nhà máy quy mơ
5
lớn ở châu Á sản xuất hơn 1000kg vi tảo (chủ yếu là Chlorella ) mỗi tháng và vào năm
1996 khoảng 2000 tấn Chlorella được giao dịch ở Nhật Bản. Sản xuất Dunaliella
salina thương mại, như một nguồn ß-carotene, đã trở thành ngành công nghiệp vi tảo
lớn thứ ba khi các cơ sở sản xuất được thành lập bởi Western Biotech Ltd và Betatene
Ltd tại Úc vào năm 1986. Ở Ấn Độ cũng đã bắt đầu sản xuất tảo lam ở quy mô lớn.
Gần đây, một số nhà máy sản xuất Haematococcus pluvialis là một nguồn astaxanthin
đã được thành lập ở Hoa Kỳ và Ấn Độ. Trong khoảng thời gian 30 năm, ngành công
nghiệp sản xuất vi tảo đã phát triển một cách đáng kể hướng đến một số loài vi tảo,
đặc biệt là tảo xanh, tích lũy nồng độ carotenoids cao như ß-carotene, astaxanthin và
canthaxanthin. Các carotenoit đầu tiên được thương mại hóa là ß-carotene từ vi tảo
Dunaliella salina và Úc hiện là nhà sản xuất chính ß-carotene tự nhiên từ Dunaliella.
Vào cuối những năm 1990 sản xuất thương mại tảo xanh Haematococcus pluvialis là
nguồn cung cấp carotene astaxanthin bắt đầu tại Cyanotech ở Hawaii (Robert, 2005).
Có thể nói rằng các nghiên cứu về phân lập vi tảo và ứng dụng vi tảo trong dược liệu,
nuôi trồng thuỷ sản và nhiên liệu sinh học đã có từ sớm từ những năm đầu thế kỷ XIX
và phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ XX. Với các nghiên cứu ban đầu về ni cấy vi tảo,
Phong Điền mang đặc điểm khí hậu tỉnh Thừa Thiên Huế là khí hậu nhiệt đới
ẩm gió mùa nhiệt độ trung bình cả năm 25°C, số giờ nắng cả năm là 2000 giờ. Tuy
nhiên do tác động chắn gió của địa hình Trường Sơn mà khí hậu Phong Điền -Thừa
Thiên Huế lệch hẳn với khí hậu cả phía Bắc lẫn phía Nam (Nguyễn Thành, 2005).
Các yếu tố khí hậu :
Gió : Phong Điền-Thừa Thiên Huế trong năm chịu sự khống chế của hai mùa gió
chính là gió mùa Đơng và gió mùa Hè. Gió mùa Đơng (từ tháng 9 đến tháng 4 năm
sau) hướng thịnh hành là tây bắc và đông bắc, mang lại thời tiết xấu, lạnh và gây
mưa. Gió mùa Hè (từ tháng 3,4 đến tháng 9) cịn gọi là gió Lào mang lại thời tiết khơ và
nóng.
Mưa : Phong Điền là huyện có lượng mưa trung bình năm gần 3.000 mm, tăng
dần từ đơng sang tây, từ đồng bằng lên vùng núi. Lượng mưa trong năm tập trung chủ
yếu vào mùa mưa chính từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm đến 72-75% lượng mưa năm.
Tám tháng còn lại chỉ chiếm 25-30%. Đây là nguyên nhân chủ yếu gây tình trạng ngập
lụt vào mùa mưa và thiếu nước, khô hạn vào mùa hè.
Nhiệt độ : Phong Điền -Thừa Thiên Huế có nền nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình
năm trên đại bộ phận lãnh thổ đạt 20-25oC, trung bình tháng lạnh nhất (tháng giêng) là
19-20oC, tháng nóng nhất (tháng bảy) là 29,4oC. Nhiệt độ cao nhất vào mùa hè đạt 4041oC, thấp nhất vào mùa Đông xuống 8-9oC.
Bão, dông, lốc, sương mù : Phong Điền chịu ảnh hưởng của bão nhiều nhất vào
tháng 9 (35%), tháng 10 (28%) và tháng 8 (18%). Có năm khơng có cơn bão nào,
nhưng có năm 3-4 cơn liên tiếp.
Ngồi bão cịn có dơng là hiện tượng phóng điện (sấm sét) thường xảy ra từ
tháng 4 đến tháng 9, nhiều nhất là tháng 5. Dông thường kèm theo mưa rào, đơi khi có
gió mạnh. Vào mùa Hè cũng thường có lốc nhất là khi có gió tây khơ nóng. Nhiều cơn
lốc có sức gió mạnh cấp 10 cuốn phăng cây cối, nhà cửa, gây nhiều thiệt hại khơng
kém gì bão.
Sương mù cũng là hiện tượng phổ biến ở Phong Điền. Có ba loại : sương mù
bình lưu hình thành khi khơng khí ấm và ẩm tràn qua mặt đất, mặt nước sông biển, ao
hồ lạnh; sương mù bức xạ do bức xạ mặt đất hình thành khắp nơi trong các làng mạc,
phân bố phía Đơng Quốc lộ 1A, phía Tây Quốc lộ chỉ chiếm một bộ phận nhỏ. Địa
hình đồng bằng có sự khác nhau rõ rệt về hình dạng, phân bố, vật liệu cấu tạo và
nguồn gốc hình thành, được phân chia thành hai loại: loại thứ nhất là đồng bằng thềm
biển, hiện nay thường gọi là vùng cát nội đồng; loại thứ hai là đồng bằng phù sa do
phù sa các sông bồi tụ mà thành trong thời gian lâu dài sau khi biển rút. Ngoài ra ven
bờ phá Tam Giang cịn có dải đồng bằng gắn liền với sóng và thủy triều đầm phá.
Đồng bằng thềm biển hay vùng cát nội đồng chiếm đại bộ phận diện tích lãnh thổ
phía Đơng chạy dài thẳng tắp từ Bắc vào Nam, từ ven rìa dải đồng bằng phù sa sơng Ơ
Lâu đến giáp đồng bằng sơng Bồ với khoảng cách 18-19km chiều dài và trải rộng từ
Tây sang Đông 5-6km, chiếm diện tích 10.470 ha, cao trên mực biển 8-10m, được cấu
tạo tồn cát hạt mịn, hạt trung bình phần lớn là cát thạch anh. Địa hình bằng phẳng,
đơi khi xuất hiện các bàu cát.
Trằm phân bố phía Nam vùng cát, trong địa phận xã Phong Hiền có các bàu như
bàu Rng, bàu Thú v.v.. Các trằm phía Bắc có hướng Đơng Nam - Tây Bắc, kích
thước khác nhau. Có trằm chỉ dài 1.500-2.000m, rộng 200-300m. Nhưng cũng có trằm
dài tới 6.000-7.000m và rộng 500-700m. Đồng bằng sơng Ơ Lâu bao quanh vùng cát
nội đồng Phong Điền ở ba phía: phía Tây từ thị trấn Phị Trạch đến ngã ba Phước Tích
8
dài 7km, phía Bắc từ ngã ba Phước Tích về Vân Trình dài 9km và phía Đơng từ Vân
Trình về Cửa Lác dài 10km.
Địa hình bề mặt đồng bằng có nhiều vùng trũng đọng nước trong đó thực vật thủy
sinh phát triển, thường gọi là bàu như các bàu ở Phong Hịa, Phong Bình. Có thể đó là
các đoạn sơng chết của chính sơng Ơ Lâu hoặc các sơng nhánh của sông này từ vùng
cát nội đồng chảy vào. Đồng thời độ cao địa hình cũng thấp dần về phía cửa sông.
- Vùng ven biển
Một bộ phận của đồi cát chắn bờ tiếp nối từ Quảng Trị kéo dài vào phía Nam đến
tận cửa Thuận An. Địa hình bờ biển cát của Phong Điền cao và rộng, với độ cao tối đa
28-30m và rộng từ 3.000-5.000m thu hẹp dần về phía Nam.
9,12
- Công nghiệp-Xây dựng (%)
8,9
7,7
- Nông Lâm Ngư nghiệp (%)
1,8
5,66
2.000
1.750
Tr.đó: - Dịch vụ
(%)
2
Tổng sản phẩm trong tỉnh bình quân đầu người
(GDP) (USD)
II
5,3
9
STT Chỉ tiêu chủ yếu
9
Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề (%)
10 Tạo việc làm mới (nghìn người)
KH năm Ƣớc TH năm
2014
2014
54
54
16
16
68
68
57,3
4.300
56,9
1
D1
16°37'12.3"N 107°22'54.0"E
2
D2
16°37'23.9"N 107°23'10.4"E
3
D3
16°37'28.9"N 107°22'60.0"E
4
D4
16°37'34.6"N 107°22'48.7"E
5
D5
16°38'49.0"N 107°21'25.0"E
6
D6
16°39'09.5"N 107°22'43.4"E
7
D7
16°38'40.4"N 107°22'31.5"E
8
D8
16°35'59.9"N 107°23'42.0"E
9
D9
16°35'45.6"N 107°26'04.1"E
10
D10
16°35'48.5"N 107°25'58.5"E
mẫu nuôi trong phòng lạnh ở nhiệt độ 25oC, dưới ánh sáng huỳnh quang với thời gian
ngày đêm là 16:8. Sau 4 ngày tảo lên, tiến hành phân lập tảo trên môi trường thạch
BBM.
Độ thuần chủng của tảo được xác định bằng cách lặp lại cấy tảo và theo dõi
thường xuyên dưới kính hiển vi. Việc xác định bằng kính hiển vi được thực hiện bằng
cách sử dụng phương pháp thực vật (David, 2004).
b) Phương pháp phân loại
Sử dụng phương pháp phân loại hình thái: Dùng kính hiển vi, sử dụng tài liệu
định dạng vi tảo Freshwater Algae: Identification, enumeration and use as
bioindicators: Second edition (Bellinger & Sigee, 2015), trang web Algaebase để xác
định sự hiện diện của các chủng vi tảo.
12
c) Phương pháp xác định hàm lượng chlorophyll-a, chlorophyll-b, carotenoid và lipid
có trong vi tảo
Phương pháp xác định hàm lượng chlorophyll-a, chlorophyll-b và carotenoid
(Y.K. Lee, 2004).
Các tế bào vi tảo được thu thập bằng cách ly tâm 5ml vi tảo 4000 (v/p) trong 30
phúti, sau đó hút ½ mơi trường ra bổ sung thêm 1ml nước cất ly tâm ở 4000 (v/p)
trong 15 phút. Kết thúc ly tâm hút hết môi trường ra chỉ để lại tảo. Các sắc tố được
chiết xuất với 5ml methanol và cát, phá vỡ tế bào bằng vontex sau đó để trong tối 12h
với nhiệt độ 250C. Độ hấp thụ của dung môi được đo tại bước sóng chlorophyll là
652nm, 665nm và carotenoid là 470nm. Hàm lượng chlorophyll và carotenoid được
tính bằng cơng thức của sau (Dharma & cs., 2017):
Chlorophyll a (Ch-a)=16.72(A665)–9.16(A652)
Chlorophyll b (Ch-b)=34.09(A652)–15.28(A665)
Carotenoid =[1000(A470)–1.63Ch-a–104.96Ch-b]/221
Phương pháp xác định hàm lượng lipid (Bligh & Dyer, 1959):
Tiến hành hút 15ml sinh khối tảo vào lọ thuỷ tinh, bỏ lần lượt 2ml methanol và
mẫu điều kiện thí nghiệm là như nhau.
- Thông số theo dõi: mật độ tế bào, nhiệt độ, ánh sáng.
- Tần suất: Theo dõi nhiệt độ, ánh sáng mỗi ngày. Tiến hành đếm mật độ 2 ngày
một lần, đếm trong vòng năm ngày.
- Xác định tốc độ tăng trưởng của vi tảo được tính theo cơng thức (Molina E.,2001).
Trong đó: Nt và N0 là nồng độ khối lượng tế bào khô (g.L-1) ở thời gian cuối (Tt)
và bắt đầu (T0) của pha log tương ứng.
2.3.5. Phương pháp xác định thời gian thế hệ
Thời gian thế hệ được xác định bằng công thức sau (Dũng & cs., 2001):
k=
(thế hệ/giờ)
Thời gian thế hệ bình quân: g = (giờ/thế hệ)
Trong đó:
k: Hằng số tốc độ sinh trưởng bình quân
g: Thời gian thế hệ bình quân
N1,N2: mật độ tế bào ở thời gian t1, t2
: khoảng thời gian từ t1 đến t2 (giờ)
2.3.6. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel.
14
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
3.1. Phân lập các loài vi tảo phân bố trong sinh cảnh cát
Qua nghiên cứu chúng tôi đã phân lập được 08 chủng vi tảo khác nhau thuộc 08
loài 7 họ trong 2 ngành tảo Lục (Cholorophyta) và ngành Luân tảo (Charophyta).
- Acutodesmus obliquus (Turpin) Hegewald & Hanagata 2000
- Scenedesmus acutus Meyen 1829
- Scenedesmus bijugatus Kützing 1834
- Scenedesmus acutus f. alternans Hortobagyi 1941
15
Tài liệu: Wynne, M.J. & Hallan, J.K. (2016 '2015'). tr 83; Escapa, C., Coimbra, R.N.,
Paniagua, S., García, A.I. & Otero, M. (2017). Journal of Applied Phycology 29(3):
1179-1193.
Mơ tả: Tập đồn dạng cộng đơn gồm hai tế bào dính với nhau ở giữa xếp cùng một
hàng. Tế bào hình ovan hoặc elip, tế bào phình ra ở giữa, thon nhọn dần về phía 2 đầu,
đơi khi một đầu thắt nhọn cịn một đầu uốn cong vào trong, thành tế bào mỏng. Tế bào
có một hạt tạo bột, một tế bào sẽ có hạt tạo bột nằm sát vách tế bào tại vị trí 2 tế bào
dính nhau, tế bào cịn lại sẽ có hạt tạo bột nằm ở sát vách nơi tế bào phình ra. Chiều
dài tế bào 13,66 ± 1,27µm, chiều rộng tế bào 5,15 ± 1,29µm.
Phân bố và sinh thái: Tetradesmus obliquus phân lập được có trong mẫu thu tại vị trí
D1, D2, D4. Địa điểm thu mẫu có các thông số môi trường ghi nhận được: pH(6,457,19), PO43- (0,17-0,34) mg/l, NH4+ (0,3-3,84) mg/l, DO (5,74-6,77) mg/l.
Neospongiococcum vacuolatum Deason & E.R.Cox 1971 (Hình 3.1a)
Tên đồng vật:
- Neospongiococcum butyrosum Deason & E.R.Cox 1971
- Neospongiococcum perforatum Deason & E.R.Cox 1971
Tài liệu: Deason, T.R. & Cox, E.R. (1971). Phycologia 10: 255-262, 14 figs.
Mơ tả: Các tế bào là đơn hoặc theo nhóm, các tế bào trẻ là hình elip, hình trứng, hoặc
gần như hình quả chanh; các tế bào già có hình cầu, mịn, thành tế bào dày; lục lạp liền
kề vách tế bào.
Phân bố và sinh thái: N. vacuolatum phân lập được có trong mẫu thu tại vị trí D6, D8.
Địa điểm thu mẫu có các thơng số mơi trường ghi nhận được: pH(7,12-8,4); PO430,31 mg/l; NH4+ (0,16-10,97) mg/l; DO 6,47mg/l.
Cylindrocystis gracilis I.Hirn 1953 (Hình 3.1d)
Tài liệu: Darienko, T., Gustavs, L., Mudimu, O., Menendez, CR, Schumann, R.,
Karsten, U., Friedl, T. Proschold, T. (2010). European Journal of Phycology 45(1):
79-95; Beyerinck, M.W. (1890). Botanische Zeitung 47: 725-739, 741-754, 757-768,
781-785.
Mô tả: Các tế bào sống độc lập có hình cầu, hình trứng hoặc hình ovan, tế bào không
roi. Lục lạp nằm ở 2 bên tế bào.
17
Phân bố và sinh thái: Chlorella sp1. phân lập được có trong mẫu thu tại vị trí D4 và
D8. Địa điểm thu mẫu có các thơng số mơi trường ghi nhận được: pH(7,12-7,19);
PO43- (0,31-0,34) mg/l; NH4+ (0,16-3,84) mg/l; DO (6,46-6,77)mg/l.
Tetrabaena sp. (Hình 3.1 c)
Tài liệu: Jonh D.Wehr and Rorbert G.Sheath (2003): tr 261-262; Fromentel, É. de
(1874). tr: i-vii, 1-364; Massjuk, N.P. & Lilitska, G.G. (2011). pp. 218-225.
Mơ tả: Có 2 - 4 tế bào gắn liền với nhau ở các góc của tế bào tạo thành hình vng.
Các tế bào có hình quạt, có hạt tạo bột bao quang là lục lạp. Sinh sản bào tử
Phân bố và sinh thái: Tetrabaena sp. phân lập được có trong mẫu thu tại vị trí D1 và
D4. Địa điểm thu mẫu có các thông số môi trường ghi nhận được: pH(6,45-7,19);
PO43- (0,25-0,34) mg/l; NH4+ (0,3-3,84) mg/l; DO (5,74-6,77)mg/l.
Chlamydomonas sp. (Hình 3.1 f)
Tài liệu: Ehrenberg, CG (1834).145-336, pls I-XIII; Throndsen, J. (1996). pp. 591730; Hoham, R.W., Bonome, T.A., Martin, C.W. & Leebens-Mack, J.H. (2002), tr:
1051-1064.
Mơ tả: Di chuyển xoay trịn, tế bào có hình cầu hoặc hình ovan, có 2 roi bằng nhau
nằm ở đầu nhỏ. Tế bào có hạt tạo bột.
Phân bố và sinh thái: Chlamydomonas sp. phân lập được có trong mẫu thu tại vị trí
D4. Địa điểm thu mẫu có các thông số môi trường ghi nhận được: pH=7,19; PO 430,34mg/l; NH4+ 3,84mg/l; DO 6,77mg/l.
18