nghiên cứu kỹ thuật gieo ươm và gây trồng cây tràm trên vùng đất cát ở huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 10

LỜI CẢM ƠN
Được sự giúp đỡ của thầy giáo Võ Quang Anh Tuấn, chúng tôi đã thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu kỹ thuật gieo ươm và gây trồng cây Tràm trên vùng đất cát ở huyện Phong
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” là cần thiết.
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này chúng tôi xin chân thành cảm ơn
thày cô giáo đã tận tình giảng dạy trong suốt thời gian qua, đã cho chúng tôi nhiều kiến
thức để có thể hoàn thành bài nghiên cứu khoa học này. Đặc biệt, chúng tôi xin gửi lời
cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Võ Quang Anh Tuấn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ hướng
dẫn chúng tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này.
Chúng tôi cũng xin cảm ơn các bác nông dân ở Lộc Tiến, Phú Lộc, Huế đã tận tình
giúp đỡ trong quá trình thu hái mẫu vật, cảm ơn các cán bộ ở phòng tài nguyên và môi
trường tại Phong Điền Huế đã tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình thu thập số
liệu.
Do mới buổi đầu làm quen với nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những
thiếu sót, chúng tôi rất mong sự đóng góp của các quý Thầy, Cô. Chúng tôi xin chân
thành cảm ơn.
Huế, ngày 1 tháng 12 năm 2013
Nhóm sinh viên thực hiện
1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU
CT1 : công thức 1
CT2 : công thức 2
CT3 : công thức 3
V
A
: Biến động do nhân tố A của công thức thí nghiệm
V
B
: Biến động do nhân tố B của công thức thí nghiệm
V
N

tinh dầu trong đó 1,8 – cineol là thành phần chính (chiếm 46,0 – 72%). Các hợp chất khác
có hàm lượng đáng kể gồm α – terpineol (14,03 – 15,31%), limonene(3,69 – 4,98%),
linalool (2,84 – 4,17%), α – pinen (0,9 – 1,24%) và ρ – cymen (0,9%). Hoạt chất α –
terpineol chiết suất từ tinh dầu Tràm có tính sát trùng (diệt khuẩn, nẩm và siêu vi) tốt, do
đó α – terpineol là một nguyên liệu quý để bà chế nhiều loại thuốc bôi xức trực tiếp hoặc
dầu khí dạng bay hơi.
Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy α – terpineol có rất nhiều ưu điểm:
- Không độc hại với con người ở liều có tác dụng khác khuẩn.
- Có thể dùng cho mọi lứa tuổi, kể cả trẻ em và trẻ sơ sinh.
- Có tác dụng sát trùng khá rộng trên vi khuẩn nấm và siêu vi.
- Theo nghiên cứu cấp Bộ Y tế, thực hiện tại Viện Pastear TP HCM năm 2008 thì hoạt chất
α – terpineol có tác dụng ức chế cả 2 vi rút cúm A H5N1 và A H1N1.
5
Tính vị, tác dụng: Lá Tràm có vị cay, chát, tính ấm mùi thơm có tác dụng làm ra mồ
hôi, trừ thấp, giảm đau. Vỏ có vị đắng, nhạt, tính bình; có tác dụng an thần trấn tĩnh, khử
phong, giảm đau.
Tác dụng chủ yếu của cây Tràm, có thể tóm tắt như sau:
• Lá Tràm
- Trị sổ mũi, sốt.
- Trị thấp khớp, đau nhức xương, đau dây thần kinh.
- Viêm ruột ỉa chảy, lỵ.
• Vỏ
- Trị suy nhược thần kinh, mất ngủ.
Tràm được dùng nhiều trong dân gian.Lá dùng nấu nước uống thay tràm giúp tiêu
hoá và làm thuốc chữa ho hoặc xông để trị cảm cúm. Nước sắc lá dùng đắp lên mụn nhọt,
vết thương có tác dụng sát trùng, cầm máu, dùng xức lên vết thương bỏng cho chóng lên
da non. Lá tràm còn nấu nước tắm trị mẩn ngứa.
Việc nghiên cứu kỹ thuật gieo ươm cây Tràm cũng đã được một số người nghiên
cứu và gây trồng. Cục Lâm Nghiệp cũng đã đưa ra những quy phạm, kỹ thuật gây trồng
và kinh doanh rừng Tràm ở nhiều tỉnh thành, nhưng ở tỉnh Thừa Thiên Huế thì vẫn chưa

Ở Việt Nam vùng phân bố tự nhiên của cây Tràm về phía bắc xa nhất là phía nam
của tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây Tràm mọc rải rác hoặc tập trung thành
đám bụi nhỏ trên các bãi đất trũng quanh các hồ nước nằm xen giữa những quả đồi thấp.
Một số sách có mô tả phân bố của cây Tràm ở Việt Nam:
Mãi đến tận Nghệ An ta mới thấy xuất hiện lại Tràm mọc tự nhiên, kể từ đây kéo
dài hết Trung Trung Bộ đến tận mũi Cà Mau qua An Giang và Kiên Giang đều gặp cây
mọc rải rác hoặc tụ thành những bụi nhỏ, trung bình trên các loại đất khác nhau ( Hoàng
Chương, 2004).
Năm 1970, cây tràm được tìm thấy lần đầu tiên ở Việt Nam bởi ông Jean Loureiro
(Lâm Bình Lợi và Nguyễn Văn Thôn, 1972).
1.1.3. Phân bố của cây Tràm ở Thừa Thiên Huế:
Cây Tràm Melaleuca phân bố trên những đồi rú cát, nắng gió, cằn cỗi của xã Lộc
Thuỷ, Huyện Phú Lộc. Cây Tràm mọc (hoang) dại bạt ngàn trên đất, chen kẻ với sim,
7
mua, cây chổi, được nông dân khai thác và chế biến thành Dầu Tràm. Người dân bản địa
thường gọi là Tràm Trạng, nhưng chúng ta biết đến với cái tên là Tràm Gió.
1.2. Đặc điểm hình thái của cây Tràm:
Tràm - Melaleuca leucadendra, thuộc họ Sim – Myrtaceae.
Cây gỗ nhỏ hay trung bình, thường xanh, cao 10-15m (đôi khi tới 20-25m), và
đường kính có thể đạt 50-60cm. Đôi khi là cây bụi, cao 0,5-2m, nếu mọc ở vùng đồi cằn
cỗi, thân thường không thẳng; vỏ ngoài mỏng, xốp, màu trắng xám, thường bong thành
nhiều lớp. Hệ rễ phát triển mạnh. Lá đơn, mọc so le; phiến lá hình mác hay hình trái xoan
hẹp, thường không cân đối, kích thước 4-8(-10)x1-2,0(-2,5)cm; đầu nhọn hoặc tù, gốc
tròn hoặc hơi hình nêm; dày; lúc non có lông mềm màu trắng bạc, sau nhẵn, màu xanh
lục; gân chính 5 (đôi khi 6), hình cung; cuống lá ngắn, có lông.
Cụm hoa bông mọc ở đầu cành hay nách lá. Hoa nhỏ, màu trắng, trắng xanh nhạt,
trắng vàng nhạt hoặc trắng kem; đài hợp ở gốc thành ống hình trụ hay hình trứng, 5 thuỳ
đài rất ngắn; cánh tràng 5, có móng rất ngắn (các thuỳ đài và cánh ràng đều sớm rụng);
nhị nhiều, hợp thành 5 bó, xếp đối diện với thuỳ đài; đĩa mật chia thuỳ, có lông mềm; bầu
ẩn trong ống đài, 3 ô.

ho hoặc để xông. Lá tràm có tác dụng kháng khuẩn, giải cảm và giảm đau, nên được dùng
để điều trị các vết thương, vết bỏng, cảm lạnh, cúm và kích thích tiêu hoá trong y học dân
tộc.Lá tràm phơi khô được nhân dân ở một số địa phương nấu nước uống thay chè.
- Phổ biến nhất là tinh dầu, thường dùng nguyên chất để xoa bóp chữa đau nhức, tê
thấp, ho, cảm. Mặc dù tỷ lệ xineol trong tinh dầu tràm thấp hơn trong tinh dầu bạch đàn
nhưng người ta cho rằng tính chất sát trùng của tinh dầu tràm lại mạnh hơn tinh dầu bạch
đàn. Người lớn hoặc trẻ con đều có thể dùng tinh dầu nguyên chất để xoa bóp.
- Dung dịch tinh dầu tràm 5-10% hay 20% trong dầu còn được dùng với tên
gomenol để nhỏ mũi chống cũm, ngạt mũi.
- Còn dùng tinh dầu pha vào nước, với nồng độ 2/1000 để rửa các vết thương rất tốt.
1.4. Những nghiên cứu về cây tràm
1.4.1. Những nghiên cứu về gieo ươm.
 Nghiên cứu của viện Khoa Học Lâm Nghiệp.
• Đặc điểm hình thái:
Cây gỗ nhỏ cao khoảng 12-15m, có khi cao đến 20m, đường kính ngang ngực 20-
25cm, thân hơi vặn, vỏ trắng dày, xốp bong mảng gồm nhiều lớp xếp lên nhau và chiếm
khoảng 22% so với thể tích cây. Từ Đà Nẵng trở ra tràm có ít hoa, cây nhỏ và mọc thưa
thớt, thân không tròn thẳng, thường bị vặn và không cao quá 4m.Tràm có lá thưa, cành
nhiều, nhỏ và hơi rủ xuống như Bạch đàn liễu.
9
Lá cứng, thường xanh, mọc so le, dày, đầu và đuôi nhọn dần, có 3-7 gân song song,
khi non có phủ lớp lông. Lá tràm cất cho một loại dầu thơm rất quý, có mùi dầu sả, dùng
trong kỹ nghệ nước hoa, dược phẩm, xà phòng,….Tán lá hẹp.
Hoa trắng vàng mọc thành chùm ở đầu cành, nhị hoa có nhiều mật, hoa tự dài 5-
15cm, nở rộ vào tháng 5, quả chín tháng 11. Quả hình cầu có đường kính 3mm. Hạt rất
nhỏ, nhẹ, dễ phát tán.Một kg có khoảng 23 triệu hạt.
• Đặc điểm sinh thái, lâm sinh:
Cây ưa sáng hoàn toàn, tán lá hẹp và thưa nên tràm có thể mọc thành quần thụ thuần
loại rất dày, khoảng 20,000 cây/ha.
Tràm ưa đất phèn ngập nước 6 tháng trong mùa mưa. Mức ngập sâu 0,5-1,0m, thích

Tạo cây con:Cày bừa làm sạch cỏ đất gieo, lên luống và san phẳng mặt luống có
nước lắp xắp như luống gieo mạ, hàm lượng muối trong nước không quá 8%.
Gieo khoảng 2 lít hạt trên 1000m
2
. Nên trộn hạt với tro bếp hoặc cát để gieo cho
đều; gieo xong cần phủ lớp cỏ mỏng để giữ ẩm.Sau 7-10 ngày hạt nảy mầm thì bỏ lớp cỏ
phủ ra. Tiêu chuẩn cây con đem trồng là 12 tháng tuổi có chiều cao 0,5 – 0,7m.
Trồng rừng:phát dọn sạch thực bì trước khi trồng, có thể trồng bằng cây con rễ trần.
Nếu gieo hạt thẳng phải cày bừa đất cẩn thận rồi xạ hạt.Trồng bằng rễ trần phải bứng cây
con tránh đứt rễ, dâm cây ở ven nước nơi có bóng che để rễ mọc thêm lông hút (rễ trắng)
rồi trồng đạt tỷ lệ sống cao hơn.Vận chuyển cây con cần bọc rễ bằng bùn hoặc cỏ để cây ít
héo và tránh tổn thương bộ rễ.
Dùng cọc vót nhọn để chọc lỗ sâu 20-30cm, đường kính 5-10cm cho cây con vào lỗ
sao cho kín nhưng không cong rễ và nén chặt quanh gốc.
Mật độ trồng 10.000 cây/ha, cự ly 1x1m; có thể trồng dày 15.000 đến 20.000 cây/ha
nếu thuận lợi trong việc tiêu thụ sản phẩm tỉa thưa.
Thời vụ trồng thích hợp là đầu mùa mưa vào tháng 5-6 chậm nhất là vào tháng 7.
 Đào Trọng Hưng (1995). Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh học và tinh dầu của cây
Tràm (Melaleuca cajuputi Powell (M. leucadendra auct. non (L.) L.)) ở vùng Bình Trị
Thiên. Tóm tắt luận án PTS. Sinh học. Tr. 1-24 Hà Nội;
 Lã Đình Mỡi (2001). Cây Tràm – Melaleuca cajuputi Powell, 1809. Tài nguyên Thực vật
có tinh dầu ở Việt Nam. Tập I (Lã Đình Mỡi – Chủ biên). Tr. 274-285. Nxb Nông nghiệp
– Hà Nội;
 Phạm Hoàng Hộ (1992). Cây cỏ Việt Nam. Q. II. T.I. Tr. 73. Montreal;
 Võ Văn Leo, Bùi Thị Quỳnh Tiên, Ngô Văn Thu, 1993 . Sơ bộ thăm dò thành phần hoá
học một số cây thuốc họ Myrtaceae. Tuyển tập Công trình nghiên cứu khoa học. Đại học
Y dược Tp. Hồ Chí Minh. Tr. 30-31.
1.4.2. Những nghiên cứu về gây trồng.
 Quy phạm kỹ thuật gây trồng rừng tràm(Melaleuca leucadendra).(Ban hành kèm theo
quyết định số 22 - QĐ/KT ngày 13 - 1 - 1987 của Bộ lâm nghiệp).

Nước: Không bị thối, không bị đục (nước trong) nước lưu thông.
- Các làm đất để sạ hạt.
Phát và đốt sạch thực bì.
Cày 2 lần hoặc cày 1 lần, trực 2 lần.
12
Việc làm đất phải xong trong mùa khô và phải hoàn tất trước khi sạ hạt ít nhất là
10 ngày.
- Xác định thời điểm sạ hạt tràm căn cứ vào các yếu tố sau:
Vùng ngập do nước mưa: chỉ sạ hạt khi mức nước đã ngập cao hơn mặt đất 20cm.
Vùng ngập do nước lũ: nước nguồn đổ về khi mức nước ngập cao hơn mặt đất từ
15 cm đến dưới 50cm. Nếu mức nước cao hơn 50cm thì ngưng sạ hạt.
- Xử lý hạt tràm trước khi sạ:
Cho hạt vào 2/3 bao, buột chặt đầu bao và cho xuống nước, ngâm khoảng 12 giờ
liền.Sau đó vớt hạt ra để cho ráo nước.
Trộn hạt với tro, trấu, cát, 1 phần hạt trộn với 5 phần chất độn.
Nếu dùng trấu làm chất độn, thì phải ngâm trấu 1 tuần vớt lên để ráo nước.
- Sạ hạt tràm phải tiến hành vào lúc lặng gió.
Cường độ dòng chảy không đáng kể.
Người sạ hạt phải được hướng dẫn và phải tập thành thạo trước khi sạ.
- Lượng hạt sạ trên 1 ha như sau:
Sạ để kết hợp tạo cây con nhổ đem trồng: 12 - 16kg/ha.
Sạ để tạo rừng: 6 - 8kg/ha.
- Việc sạ khô chỉ thực hiện để tạo cây con. Nơi sạ khô phải đủ các điều kiện sau:
Phải có đủ phương tiện để chống hạn.
Nếu bị ngập nước, nước phải trong, không thối, không đỏ.
Mặt đất không có than bùn.
Trồng rừng tràm bằng cây con.
- Điều kiện để trồng rừng tràm bằng cây con.
Các dạng đất Ia, Ib, và III
Tại những nơi nước thối, nước đục.

Hoàn thành trước khi nước rút cạn ít nhất 15 ngày.
Những nơi có nước thối tràn qua phải cày cấy xong trước 20 ngày, trước khi nước
thối đổ về hoặc sau khi nước thối rút hết.
 Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng tràm (Melaleuca cajuputi ) trồng ở đồng
bằng sông Cửu Long, 2011.
14
PHẦN 3
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1. Mục tiêu chung.
Nghiên cứu kĩ thuật gieo ươm và gây trồng cây Tràm (Melaleuca lecadendron) nhằm
góp phần xây dựng cơ cở gieo ươm và trồng rừng Tràm trên vùng đất cát ở huyện Phong
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.1.2. Mục tiêu cụ thể.
- Xác định được kĩ thuật gieo ươm loài tràm ở giai đoạn vườn ươm.
- Đánh giá khả năng gây trồng loài tràm trên vùng đất cát thoái hoá.
- Đề xuất giải pháp kĩ thuật gây trồng loài tràm trên vùng đất cát thoái hoá.
3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.2.1. Đối tượng.
- Cây Tràm, dân ta thường gọi là Tràm gió (tinh dầu Tràm được dung làm dầu gió), có tên
khoa học là Melaleuca lecadendron.
Lớp Ngọc Lan(Magnoliopsida)
Bộ Sim (Myrtales)
Họ Sim (Myrtaceae)
Chi Tràm (Melaleuca)
- Biện pháp kỹ thuật gieo ươm.
3.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 4 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014.
Địa điểm nghiên cứu:
Địa điểm thực hiện đề tài là huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

o
C ± 2
o
C, có hệ thống thông gió.
- Hộp nhôm hình trụ có nắp đậy, đường kính 60mm, cao 20mm, dầy 0,5mm.
- Bình hút ẩm có nắp đậy kín, bên trong có Silicagel để hút ẩm.
- Panh, dao cắt hạt và máy xay hạt.
Tiến hành:
- Cân hộp nhôm đã được sấy khô ta có trọng lượng hộp là : M1
- Cân cả hộp nhôm và hạt trước khi sấy ta có trọng lượng là : M2
( Trọng lượng hạt trong hộp từ 4,5 - 5,5gr).
- Đặt hộp nhôm không nắp đậy vào trong tủ sấy ở nhiệt độ 103
o
C trong 17 giờ.
Tắt tủ sấy, sau đó lấy nắp đậy hộp nhôm và lại chuyển vào bình hút ẩm từ 20 đến 30 phút.
Cân lại hộp nhôm và hạt sau khi sấy ta có trọng lượng là : M3
16
Tính toán:
- Hàm lượng nước được tính theo công thức:
Hàm lượng nước là số trung bình của 2 lần lập lại
3.4.2.3.Độ thuần.
Nguyên tắc: Sau khi lấy mẫu phân tích một phần phân tích hàm lượng nước, phần kế
tiếp là phân tích độ thuần, phân tích độ thuần được chia thành 3 thành phần: hạt thuần, tạp
chất và các loại hạt khác.
Dụng cụ:
- Cân điện tử có độ chính xác đến 0,01g.
- Kính lúp có độ phóng đại 6-15 lần + bộ đèn phản chiếu.
- Kính hiển vi.
- Một tấm kính dầy trong suốt.
- Bộ sàng phân loại hạt và tạp chất.

Tỉ lệ nẩy mầm được tính theo công thức sau:
3.4.2.6. Thời gian nảy mầm.
Nguyên tắc :
- Sau khi tính được số hạt/kg thì kế tiếp là xác định thời gian nảy mầm.
18
Số hạt của mẫu
Số hạt/1kg = x 1.000
Trọng lượng của mẫu (g)
Số hạt nẩy mầm
TLNM (%) = x 100
Tổng số hạt kiểm nghiệm
- Xác định thời gian hạt nảy mầm và thời gian hạt ngừng nảy mầm.
Tiến hành :
- Rải hạt vào rá có chứa bông ẩm và theo dõi.
- Thường xuyên tưới nước để bông luôn luôn có một độ ẩm thích hợp.
- Quan sát kỹ để xem thời gian và quá trình nảy mầm của hạt.
3.4.2.7. Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sự tăng trưởng chiều cao, đường kính
của cây Tràm.
* Nguồn giống:Hạt được thu hái từ các cây mẹ tự nhiên tại xã Lộc An huyện Phú
Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
* Địa điểm bố trí thí nghiệm:
- Vườn ươm khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông lâm Huế.
Vườn ươm xung quanh được che bằng lưới sắt có chiều cao 2.5m, bên trong được
bố trí các luống giâm hom, giữa các luống cách nhau 0.5m làm đường đi lại.
Luống có dạng luống nổi cao 15cm, rộng 1,2m. Nền được trải một lớp cát để thoát
nước dễ dàng. Xung quanh thành luống được có khung bằng bê tông cao 30cm.
Ở giữa các luống dọc theo chiều dài được bố trí các vòi phun sương tự động, các vòi
cao 40cm đặt cách nhau 1m.
Luống sử dụng để tiến hành thí nghiệm được che bằng lưới nilon cao 2m.
* Bố trí thí nghiệm:

Quan sát chia thành c cấp với r mẫu. Cần kiểm tra giả thiết H
o
.Các mẫu là thuần
nhất.
Kết quả quan sát được sắp xếp với r hàng ngang và c hàng dọc Sau 15 ngày gieo
ươm thì đếm tỷ lệ sống. Từ ngày 15 trở đi theo dõi từng ngày để biết thời gian ra rễ, bắt
đầu nhổ ươm lên để quan sát rễ. Trước khi nhổ lên quan sát rễ thì cần tưới đẫm 1 lần để
đất và cát mềm. Khi nhổ ươm lên cẩn thận để rễ không bị đứt.Sau khi kiểm tra xong ta
trồng lại và tưới đẫm 1 lần nữa. Sau 120 ngày cây có thể xuất vườn thì nhổ cây lên đo
đếm rễ, cân sinh khối tươi và khô.
Cách đo đếm số liệu.
Dụng cụ đo chiều cao, đường kính: thước đo có đơn vị tính là milimet (mm), thước
đo đường kính.
Cách đo: đo những rễ có kích thước lớn, rễ chính. Đo từ gốc rễ ra đến ngọn rễ
Cách đo: Nhổ toàn bộ phần rễ của cây lên rồi rửa sạch sau đó quan sát và chiều cao
và đường kính.
20
Chú ý: Trước khi nhổ cây lên phải tưới đẫm cho bầu mềm để nhổ cây không bị đứt
rễ. Khi nhổ cây phải nhẹ nhàng, nhổ từ từ tránh làm đứt rễ.
* Xử lý số liệu
- Kết quả điều tra phỏng vấn được xử lý nội nghiệp theo phương pháp sử dụng toán thống
kê toán học.
- Sử dụng các công thức toán học.
- Sử dụng các phần mềm xử lý số liệu.phần mềm tính toán Excel.
+ Các số liệu thu thập ở mỗi thí nghiệm dùng phương pháp bình quân công giản đơn
để tính toán giá trị bình quân cho từng công thức.

=
=
+++

Bảng . Mô hình phân tích phương sai
Các cấp của nhân tố A Kết quả quan sát
1 X
11
X
12
X
13
- X
1n1
2 X
21
X
22
X
23
- X
2n2
3 X
31
X
32
X
33
- X
3n3
- - - - - -
- - - - - -
A X
a1

= =
a
i
ni
j
ij
1 1
X
là số trung bình của n trị số quan sát
- Biến động do nhân tố A gây nên
V
A
=
C
x
n
i
a
i
i


=
2
1
.
(6)
x
i
là trung bình cùa mỗi cấp nhân tố A

Nguồn nhân biến động
Tổng li sai bình
phương
Bậc tự do Phương sai F
tính
F
05
Biến động do nhân tố A
V
A
a-1
S
a
2
Biến động ngẫu nhiên
V
N
n-a
S
N
2
SS
na
22
/
F
05
Biến động chung
V
T

=
(8)
- Tính sai số tương đối.
%100x
x
m
e
=
(9)
Đối với thí nghiệm sai số cho phép nằm trong khoảng 5 - 10 %
Số liệu thu thập được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học.
Tính giới hạn sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa giữa 2 công thức ở mức xác xuất 5% và
vận dụng tiêu chuẩn t của phân bố tiêu chuẩn Student, với bậc tự do bằng bậc tự do của
phương sai ngẫu nhiên để đánh giá sự sai khác giữa từng giá trị trung bình ở các công
thức đối chứng có ý nghĩa hay không.
d
05
=t
0.5
×m ( m =
S
LN
2
/
)
Trong đó:
d
05
: Giới hạn sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức xác xuất 95% (tức sai khác giả các
giá trị trung bình ≥ d

95%.
23
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Phong Điền tỉnh thừa Thiên Huế.
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Huyện Phong Điền nằm ở phía bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, với tổng diện tích tự nhiên
95.571,07 ha.
Nằm trong vùng có tọa độ địa lý:
Từ 16
0
21’03” đến 16
0
44’36” vĩ độ Bắc
Từ 107
0
03’15” đến 107
0
30’15” kinh độ Đông
Phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Trị
Phía Nam giáp với huyện Hương Trà và huyện Quảng Điền
Phía Đông giáp với Biển Đông
Phía Tây giáp với huyện A Lưới
Hình . Bản đồ hành chính huyện Phong Điền
24
b) Địa hình địa thế
Địa hình trên địa bàn huyện Phong Điền có dạng thấp dần từ Tây sang Đông, gồm 4
dạng địa hình chính là dạng địa hình núi trung bình và núi thấp, dạng địa hình gò đồi,
dạng địa hình đồng bằng duyên hải, dạng địa hình đầm phá và biển ven bờ.

bàn huyện Phong Điền cũng chịu tác động của chế độ gió mùa khá đa dạng. Ở đây luôn
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status