MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................................... 1
DANH MỤC CÁC BẢNG.....................................................................................................3
MỞ ĐẦU............................................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài..............................................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài......................................................................................................2
3. Nhiệm vụ của đề tài....................................................................................................2
4. Giới hạn nghiên cứu...................................................................................................2
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.....................................................................................2
6. Cấu trúc đề tài.............................................................................................................2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.............................................3
1.1. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.....................................................3
1.2. Các phương pháp đánh giá và bài toán đánh giá....................................................4
1.2.1. Phương pháp đánh giá......................................................................................4
1.2.2. Bài toán đánh giá...............................................................................................5
1.3. Khái niệm của khí hậu và vai trò của khí hậu đối với sự phân bố cây trồng.............7
1.3.1. Khái niệm.......................................................................................................... 7
1.3.2. Vai trò của khí hậu đối với sự phân bố cây trồng...............................................8
1.4. Vai trò của kinh tế - xã hội đối với sự phân bố và phát triển cây trồng.....................9
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CÁC ĐIỀU KIỆN SINH THÁI, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN
PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ..........................................................................10
2.1. Đặc điểm các điều kiện tự nhiên............................................................................10
2.1.1. Vị trí địa........................................................................................................... 10
2.1.2. Địa hình........................................................................................................... 10
2.1.3. Khí hậu............................................................................................................ 11
2.1.3.1. Đặc điểm chung........................................................................................11
2.1.3.2. Các yếu tố khí hậu....................................................................................11
2.1.3.3 Các trận hạn hán, bão lụt lớn trong lịch sử................................................12
2.1.4. Thủy văn.......................................................................................................... 13
Bảng 3.2: Quan hợp của cây cao su.................................................................................41
Bảng 3.3: Hệ thống mức độ thích nghi của cây Cao Su đối với các yếu tố sinh khí hậu. .42
Bảng 3.4:Hệ thống các mức độ thích nghicủa cây cao su so với yếu tố kinh tế - xã hội ở
huyện Phong Điền............................................................................................................ 44
Bảng 3.5: Đánh giá mức độ thích nghi cảu cây Cao Su với các yếu tố sinh khí hậu và điều
kiện kinh tế - xã hội của huyện Phong Điền......................................................................45
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam từ xưa đến nay luôn là một nước có thế mạnh về nền nông nghiệp
nhiệt đới, nông nghiệp luôn chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế
nước ta.Tuy nhiên trong thời đại ngày nay, để nền nông nghiệp nước nhà phát triển
một cách bền vững và có hiệu quả cao thì chúng ta phải đối mặt với nhiều vấn đề,
trong đó vấn đề về hệ sinh thái nông nghiệp là một trong những yếu tố vô cùng
quan trọng. Sự tác động của con người vào hệ sinh thái nông nghiệp là vô cùng
mạnh mẽ, chính vì vậy nếu như sự tác động đó không hợp lý sẽ dẫn đến hậu quả
làm suy thoái môi trường. Để cải thiện tình trạng trên chúng ta phải nhận thức một
cách đầy đủ về hệ sinh thái và các quá trình phát sinh, phát triển của hệ sinh thái.
Huyện Phong Điền là huyện cửa ngõ của tỉnh Thừa Thiên – Huế, nơi đây có các
hoạt động kinh tế diễn ra khá sôi động, đặc biệt là các hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Với lợi thế là nguồn tài nguyên thiên nhiên thích hợp nên những năm vừa qua trong cơ
cấu cây trồng của huyện Phong Điền đang có sự chuyển dịch theo hướng tăng cơ cấu
cây công nghiệp, trong đó cây Cao Su là một trong những cây chiếm ưu thế. Hơn thế
nữa,tình hình kinh tế - xã hội của huyện nhà đang ngày một phát triển với tốc độ khá
nhanh, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện, giao thông ngày một thông suốt hơn.Đó
cũng chính là một trong số những yếu tố những yếu tố thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây
trồng trong toàn huyện. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó thì huyện Phong Điền
còn phải đối mặt với nhiều khó khăn như trình độ khoa học kỹ thuật còn chưa cao, đa
phần người dân thiếu hiểu biết kỹ càng về đặc điểm sinh thái của cây trông, lực lượng
tế - xã hội của lãnh thổ là cơ sơ khoa học cho việc phân bố các nhóm cây trồng sao
cho phù hợp với các điều kiện đó, góp phần định hướng phát triển kinh tế của lãnh
thổ có hiệu quả hơn.
Ý nghĩa thực tiễn: Những số liệu và kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn
tài liệu tổng hợp đáng tin cậy và cần thiết phục vụ cho sự phát triển nông nghiệp
bền vững trong lãnh thổ.
6. Cấu trúc đề tài
Bố cục của đề tài ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính
bao gồm các chương:
Chương 1: Tổng quan những vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Đặc điểm các điều kiện sinh thái, kinh tế - xã hội huyện Phong
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 3: Đánh giá điều kiện sinh khí hậu và kinh tế - xã hội huyện Phong
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Ngày nay, việc sử dụng hợp lý các nguồng tài nguyên, bảo vệ môi trường với
các mục tiêu kinh tế - xã hội đã nhất thể hóa trong quan điểm hệ thống. Do vây,
thiết kế hệ thống là tổ chức không gian lãnh thổ các yếu tố tài nguyên với các yếu tố
kỹ thuật theo phương thức sản xuất của xã hội loài người mà chúng ta thường gọi là
“quy hoạch lãnh thổ”. Điều này biểu thị sự cân bằng động trong việc phát triển kinh
tế - xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường, nó phụ thuộc vào mức độ bảo vệ hợp lý
tài nguyên và chi phí cho việc bảo vệ môi trường.
Trong phương pháp luận, việc luận chứng cho những biện pháp và thiết lập
nguyên tắc trong quá trình quản lý và điều hành… đòi hỏi phải xác định cơ sở khoa
thu thập được, phân tích mối quan hệ giữa chúng nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần đề
cập. Phương pháp này chọn lọc, tổng hợp lại số liệu trên máy tính đưa ra những số
liệu cần thiết và chính xác cho đề tài, loại bổ những số liệu dư thừa, bổ sung những
số liệu thiếu.
1.2. Các phương pháp đánh giá và bài toán đánh giá
1.2.1. Phương pháp đánh giá
Đánh giá là sự ước lượng vai trò, ý nghĩa hay giá trị của các đối tượng nghiên
cứu.Hiện nay đang tồn tại nhiều phương pháp đáng giá, tùy thuộc vào mục đích đánh
giá mà nội dung đánh giá cũng như phương pháp đánh giá có những thích ứng phù
hợp.Nói cách khác, nhiệm vụ đánh giá thường gắn liền với mục tiêu, đối tượng
nghiên cứu cụ thể và từ đó có những chỉ tiêu và phương pháp đánh giá thích hợp.
Tùy thuộc vào từng mục đích cụ thể mà chúng ta có được một kiểu đánh giá
biểu thị từng giai đoạn đáng giá theo yêu cầu từ thấp đến cao như: đánh giá chung là
giai đoạn đánh giá sơ bộ, ban đầu trên cơ sở các kết quả nghiên cứu tự nhiên, mang
tính định hướng chung của các mục đích thực tiễn khác nhau; đánh giá mức độ
“thuận lợi” hay “thích hợp” của các điều kiện tự nhiên đối với ngành sản xuất và
đánh giá kinh tế - kĩ thuật lại đề cập sâu hơn đến giá trị và hiệu quả kinh tế của các
ngành sản xuất đó.
Hiện nay, các nhà Địa lý thường áp dụng một số phương pháp đánh giá để
tăng độ tin cậy cho những kết quả nghiên cứu của ḿnh như: phương pháp mô hình
chuẩn, phương pháp bản đồ, phương pháp so sánh định tính, phương pháp trọng số,
phương pháp thang điểm tổng hợp… Trong quá trình thực hiện đề tài và căn cứ vào
mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài chúng tôi đã sử dụng các phương pháp đánh giá sau:
4
a. Phương pháp so sánh định tính
Phương pháp so sánh định tính là phương pháp đánh giá tiềm năng hay mức
độ hay mức độ thích nghi của các điều kiện tự nhiên với các loại hình sử dụng nhất
kết quả đánh giá như nhau nếu các số hạng của các điểm đánh giá như nhau nếu các
số hạng của các điểm đánh giá theo thang điểm có giá trị đều cao, hoặc đều trung
bình hay đều thấp. Nhưng nếu các số hạng của các điểm đánh giá có các giá trị
không đều nhau, có cả điểm cao điểm trung bình và điểm thấp khác nhau, sắp xếp
lẫn lộn không theo quy luật, thì kết quả đánh giá của bài toán cộng không đúng, chỉ
đúng khi thực hiện bài toán trung bình nhân.
Vì vậy chúng tôi áp dụng bài toán đánh giá trung bình nhân để đánh giá, bài
toán có dạng như sau:
Trong đó:
- M0: Điểm đánh giá của đơn vị lãnh thổ.
- a1, a2, a3,… an: Điểm của các chỉ tiêu (từ chỉ tiêu 1 đến chỉ tiêu n).
- n: Số lượng chỉ tiêu dùng để đánh giá.
Sau khi đánh giá sẽ tiến hành phân hạng thích nghi cho từng đối tượng cây
trông, tức là xem xét khả năng thực tế của cây thuộc vào mức độ thích nghi nào đối
với thang phân hạng cho một đối tượng đánh giá.
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều phương pháp xác định hạng. Theo tổng
kết và hướng dẫn của FAO (Bullentin N052), có 4 phương pháp phân hạng phổ biến
có thể vận dụng là:
Phân hạng chủ quan: Phương pháp này thường được sử dụng bởi các chuyên
gia có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết rất rõ về lãnh thổ nghiên cứu, ưu điểm của
phương pháp này là nhanh và sát thực tế, nhưng có hạn chế là mang tính chủ quan,
vì vậy khó thuyết phục.
Phân hạng theo điều kiện giới hạn: Đây là phương pháp tương đối đơn giản
vì dựa vào quy luật tối thiểu của Leibig, coi nhân tố tối thiểu sẽ quyết định năng
suất và chất lượng cây trồng. Do đó, căn cứ vào yếu tố hạn chế cao nhất mà có thể
xác định các hạng. Hạn chế của phương pháp này là hơi máy móc và không giải
thích những mối tác động qua lại giữa các yếu tố sinh thái.
sự biến động của khí hậu như: làm tăng nhiệt độ của bầu khí quyển, làm thủng tầng
ozôn…
Bức xạ mặt trời: Là nhân tố tạo thành khí hậu quan trọng nhất vì nó là động
lực nguyên thủy của những quá trình vật lý xảy ra trong khí quyển và trên mặt đất.
Bức xạ mặt trời là nguồn năng lượng chủ yếu cho mọi hoạt động sống trên Trái Đất.
7
Phân bố bức xạ mặt trời theo vĩ độ là nguyên nhân chủ yếu hình thành nên tính địa
đới của khí hậu. Miền nhiệt đới là nơi nhận được nhiều năng lượng bức xạ mặt trời
nhất nên khu vực này hình thành khí hậu nóng. Vùng gần cực có vĩ độ cao, độ cao
Mặt Trời quanh năm thấp, nhiệt lượng của Mặt Trời chiếu xuốn ít nên khí hậu lạnh.
Hoàn lưu khí quyển:Là sự di chuyển của các luồng không khí trên địa cầu,
có lúc cùng vĩ độ, cùng một chế độ Mặt Trời như nhau song hoàn toàn khác nhau.
Mặt đệm: Tùy theo tính chất mặt đệm mà nó sẽ ảnh hưởng rất rõ tới sự hình
thành khí hậu, như sự phân bố đất liền biển, các dòng hải lưu, độ cao hướng núi, lớp
phủ thực vật…
Do khả năng hấp thụ năng lượng bức xạ Mặt Trời của các mặt đệm khác
nhau nên đã hình thành các nền khí hậu khác nhau. Địa hình cũng là yếu tố quan
trọng trong việc hình thành khí hậu do sự phân bố nhiệt độ thay đổi theo độ cao nên
các yếu tố khí tượng cũng thay đổi theo. Ảnh hương của lớp phủ thực vật, đặc biệt
là rừng đã gây ảnh hưởng lớn đến khí hậu. Do ảnh hưởng của tần rừng mà chế độ
nhiệt, chế độ mưa gió ở vùng rừng có thể sẽ khác với vùng ven không có tán rừng
che phủ.
1.3.2. Vai trò của khí hậu đối với sự phân bố cây trồng
Khí hậu là một yếu tố chi phối rất mãnh liệt đến quá trình sinh trưởng và
phát triển của cây trồng. Bởi vì mỗi một loại cây trồngđòi hỏi một chế độ ánh sáng,
nhiệt độ, độ ẩm… nhất định. Mỗi loại cây trồng đều có một giới hạn khí hậu để tồn
tại và sinh trưởng. Giới hạn này rộng hay hẹp tùy từng loài. Khi nghiên cứu quan hệ
có cơ sở kiến nghị định hình phát triển các nhóm cây trồng có hiện thực và đạt hiệu
quả kinh tế cao cho lãnh thổ.
Thật vậy, các yếu tố về kinh tế như: nguồn vốn, mạng lưới giao thông, nhu
cầu thị trường…, và các yếu tố xã hội như: ngồn lao động, tập quán sản xuất, trình
độ dân trí…ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển cây trồng và tính hiệu quả của
nó.
9
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM CÁC ĐIỀU KIỆN SINH THÁI, KINH TẾ - XÃ HỘI
HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1. Đặc điểm các điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa
Phong Điền là huyện nằm ở cửa ngõ phía Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, rộng
953,751 km2, gần bằng 1/5 diện tích tự nhiên của tỉnh. Phía Bắc giáp huyện Hải
Lăng tỉnh Quảng Trị. Phía Tây, Tây Nam và phía Nam giáp hai huyện Nam Đông
và A Lưới.Phía Đông và Đông Nam giáp hai huyện Quảng Điền và Hương Trà.
Phía Đông Bắc giáp biển Đông với đường bờ thẳng tắp theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam trên chiều dài gần 16km.
2.1.2. Địa hình
Lãnh thổ Phong Điền trải rộng theo hướng Tây Nam - Đông Bắc từ Trường
Sơn ra tận biển Đông với chiều dài gần 46km, hình thành một vùng đất, có đầy đủ
cả núi đồi, đồng bằng, và vùng ven biển.
-Núi đồi chiếm gần 70% diện tích tự nhiên của huyện, tạo thành một bề mặt
dốc nghiêng, thoải dần từ tây sang đông. Núi cao trung bình chỉ chiếm một diện tích
nhỏ phía cực tây (từ 750 đến 1.666m), còn đại bộ phận là núi thấp trải dần ra phía
đông (cao từ 100 đến 750m trên mực nước biển). Địa hình đồi có độ cao từ 10 đến
100m, phân bố từ rìa núi thấp phía tây đến Quốc lộ 1A (theo chiều Tây – Đông), và
mùa Đông lạnh, trong khi từ đây trở vào Nam là khí hậu gió mùa á xích đạo không
có mùa Đông lạnh. Ở Phong Điền không có mùa Đông lạnh thực sự và kéo dài như
ở Bắc bộ mà chỉ có thời tiết lạnh.
2.1.3.2. Các yếu tố khí hậu
- Gió: Phong Điền-Thừa Thiên Huế trong năm chịu sự khống chế của hai
mùa gió chính là gió mùa Đông và gió mùa Hè. Gió mùa Đông (từ tháng 9 đến
tháng 4 năm sau) hướng thịnh hành là Tây Bắc và Đông Bắc, mang lại thời tiết xấu,
lạnh và gây mưa. Gió mùa Hè (từ tháng 3,4 đến tháng 9) còn gọi là gió Lào mang
lại thời tiết khô và nóng.
Ngoài ra còn có gió Đông và Đông Nam (tức Nồm, còn gọi là gió ấm) đem
lại thời tiết tốt trong các tháng chuyển tiếp 3-4, 8-9, và ngay cả trong mùa Đông,
giữa hai đợt gió chính.
-Mưa: Phong Điền là huyện có lượng mưa trung bình năm gần 3.000 mm,
tăng dần từ đông sang tây, từ đồng bằng lên vùng núi. Lượng mưa trong năm tập
trung chủ yếu vào mùa mưa chính từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm đến 72-75%
11
lượng mưa năm.Tám tháng còn lại chỉ chiếm 25-30%.Đây là nguyên nhân chủ yếu
gây tình trạng ngập lụt vào mùa mưa và thiếu nước, khô hạn vào mùa hè.
-Nhiệt độ: Phong Điền có nền nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình năm trên đại
bộ phận lãnh thổ đạt 20-25oC, trung bình tháng lạnh nhất (tháng giêng) là 19-20 oC,
tháng nóng nhất (tháng bảy) là 29,4 oC. Nhiệt độ cao nhất vào mùa hè đạt 40-41 oC,
thấp nhất vào mùa Đông xuống 8-9oC.
-Bão, dông, lốc, sương mù: Phong Điền chịu ảnh hưởng của bão nhiều nhất
vào tháng 9 (35%), tháng 10 (28%) và tháng 8 (18%). Có năm không có cơn bão
nào, nhưng có năm 3-4 cơn liên tiếp. Nhìn chung số lượng bão không nhiều nhưng
thiệt hại gây ra rất nghiêm trọng vì gió mạnh kèm theo mưa to và rất to, gây lũ lụt
lớn và sạt lở bờ biển.
giới chung với Hương Trà) với hai phụ lưu nằm trong lãnh thổ của huyện là rào
Tràng và sông Ô Hô.
-Sông Ô Lâu khởi nguồn từ ngọn Ô Lâu trên vùng núi phía tây, chảy về phía
đông và đông bắc qua vùng núi đồi Phong Mỹ, Phong Thu về thị trấn Phong Điền.
Sau khi qua khỏi cầu Phò Trạch chuyển hướng tây bắc men theo phía đông QL. 1A
về Hội Kỳ, rồi lượn thành một khúc uốn bao quanh ba mặt làng Phước Tích. Qua
khỏi cầu Phước Tích, nhập với sông Thác Mã (tức sông Mỹ Chánh) chính thức
thành sông Ô Lâu, chảy xuống Vân Trình theo hướng đông bắc, là ranh giới Thừa
Thiên Huế và Quảng Trị. Từ Vân Trình, sông đổi hướng đông nam để vào phá Tam
Giang. Lưu vực sông Ô Lâu có diện tích 900km 2, sông chính dài 66km, độ cao đầu
nguồn 900m trên mực nước biển, dộ dốc trung bình 13,1m/km. Ô Lâu là sông có
nhiều nước, hằng năm đổ vào phá Tam Giang một lượng trung bình 576 triệu
m3 nước, trong đó bốn tháng mùa mưa lũ chiếm 424 triệu m 3 (73,6%) và tám tháng
còn lại chỉ 152 triệu m3 (26,4%).
-Sông Bồ là một nhánh lớn của sông Hương, bắt nguồn từ vùng núi phía nam
huyện A Lưới trên độ cao 900m chảy về phía bắc rồi đông bắc qua vùng rừng núi A
Lưới, Hương Trà và Phong Điền. Qua khỏi cầu An Lỗ vào địa phận Quảng Điền,
sông đổi hướng đông nam, uốn khúc quanh co trên đồng ruộng Quảng Điền, Hương
Trà rồi nhập vào sông Hương ở ngã ba Sình cách Huế 9km về phía bắc. Sông có
chiều dài 94km, diện tích lưu vực 938km2.
- Rào Tràng là nhánh tả ngạn sông Bồ, bắt nguồn từ đỉnh Trường Sơn ở độ
cao 1.360m chảy về đông nam rồi đổ vào sông Bồ. Có chiều dài 27km, diện tích lưu
vực 147km2, độ dốc rất lớn đến 48,6m/km. Là nhánh sông có nhiều nước vì nằm
trong tâm mưa của tỉnh, hằng năm đổ vào sông Bồ đến 20% tổng lượng nước sông
này cung cấp cho sông Hương.
13
-Sông Ô Hô cũng là nhánh tả ngạn sông Bồ, nhưng nằm ở địa hình đồi trước
14
ngũ Điền, Phong Hải. Còn lại là phù sa sông còn gọi là bồi tích lũ tích. Các vật liệu
cát, phù sa chỉ mới hình thành gần đây, tuổi chỉ tính được hàng vạn đến hàng triệu
năm là tối đa. Sự phân bố các đá hình thành đất như vậy, kết hợp với độ cao địa
hình trên mực biển, hình dạng lồi lõm cao thấp của địa hình dẫn đến sự tác động kết
hợp khác nhau của các yếu tố thời tiết khí hậu như nhiệt, ẩm, gió, mưa, nước trên
mặt đất, nước ngầm trong đất liền, ven đầm phá, ven biển với đất đá, xác cây cỏ...
dẫn đến sự hình thành các đất khác nhau. Bên cạnh đó, trong quá trình sinh sống,
sản xuất, con người cũng góp phần làm biến đổi các loại đất một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp. Tương tự như vậy, các lớp phủ thực vật và động vật cũng tham gia một
cách tích cực vào các quá trình nói trên.
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá các khía cạnh về thành phần cơ giới hay các
cấp hạt đất, về thành phần hàm lượng chất hữu cơ, lượng mùn và các chất dinh
dưỡng cũng như một số các yếu tố khác, các nhà nghiên cứu đã chia đất Phong Điền
ra làm 7 nhóm với 21 loại như sau :
Bảng 2.1: Hệ thống phân loại đấy huyện Phong Điền
STT
Ký hiệu
1
2
CC
C
3
4
xs
xq
xha
xhs
xhq
Tên đất
I. Nhóm đất cát
Đất cồn cát trắng vàng
Đất cát bãi bằng
II. Nhóm đất mặn phèn
Đất mặn phèn trên cát
Đất mặn phèn trên phù sa phủ trên cát
III. Nhóm đất phù sa
Đất phù sa được bồi đắp hàng năm
Đất phù sa chua
Đất phù sa phủ trên cát
Đất phù sa glây phủ trên cát
Đất phù sa ngòi suối
Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng
IV. Nhóm đất mới biến đổi
Đất đỏ vàng trên phù sa cổ
V. Nhóm đất xám vàng
Đất xám vàng trên đồi đá mác ma xâm nhập
Đất xám vàng trên đồi đá phiến sét
Đất xám vàng trên đồi đá cát kết
Đất vàng xám trên núi đá granit (hoa cương)
Đất vàng xám trên núi đá phiến sét
Đất vàng xám trên núi đá cát kết
trồng rừng chống gió, chống cát bay, cát chảy xâm lấn vào nội địa.
2 Đất cát bãi bằng
Chiếm một diện tích rộng lớn khoảng trên 10.470 ha, phân bố ở các xã
Phong Hiền, Phong Thu, Phong Hòa, Phong Bình, Phong Chương. Cát ở đây được
hình thành do quá trình biển tiến để lại, về sau có sự tác động lâu dài của gió và
dòng chảy khe suối làm biến đổi địa hình bề mặt nơi cao nơi thấp nhưng nói chung
là bằng phẳng, không có những đụn cát cao như vùng ven biển. Cát nội đồng có
màu trắng xám, khoáng vật chủ yếu là thạch anh kích thước hạt trung bình tương
đương với cát mịn Quảng Bình . Thành phần cơ giới nhẹ, cấu tượng rời rạc, thấm
nước, hấp thu nhiệt nhanh, nhưng thoát nước và tỏa nhiệt cũng nhanh. Đất chua,
nghèo mùn và các chất dinh dưỡng N, P, K. Bên cạnh những thuận lợi, vùng cát nội
đồng có nhiều trở ngại cho khai thác và sử dụng vào các mục đích nông, lâm nghiệp
mà nổi bật là vùng có chế độ thời tiết, khí hậu thủy văn khắc nghiệt. Mùa hè tầng
đất mặt có nhiệt độ rất cao, tối đa lên đến 60 - 700C vào tháng bảy tháng
tám.Nguồn nước tưới lại rất khó khăn chưa nói đến đất có độ phì thấp.
Gần đây, kết quả nghiên cứu đề tài “Điều tra đánh giá tiềm năng đất đai vùng
cát nội đồng tỉnh Thừa Thiên Huế phục vụ phát triển nông-lâm-ngư nghiệp” của
Phân viện Địa lý tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy có sự hiện diện của một lớp
đất kè hầu như khắp nơi dưới mặt đất vùng cát nội đồng Phong Điền và Quảng
Điền. Lớp đất kè này phân bố ở độ sâu khác nhau tuỳ từng khu vực, nhưng nói
16
chung dao động trong khoảng gần 1 m đến 5-7 m cách mặt đất. Thành phần cấu tạo
lớp kè cũng là cát nhưng có màu nâu đen và độ gắn kết lớn nên cứng và chắc. Vì thế
nhân dân thường gọi là lớp kè cứng hay lớp đất chai. Bề dày không lớn, chỉ một vài
phân đến 1,5 m. Địa hình bề mặt lớp kè có nơi nổi cao gần sát mặt đất, có nơi lõm
sâu và dốc theo các hướng khác nhau. Khu vực có bề mặt kè nằm gần mặt đất nhất
là những dải hẹp từ thị trấn Phong Điền theo quốc lộ 1 xuống ngả ba Hoà Mỹ và
Điền Hải. Đất được phân tầng rõ rệt theo chiều sâu. Tầng trên dày khoảng 20cm
mùn xám nâu, cát chiếm 86%. Tầng giữa dày khoảng 25cm, xám trắng, lượng cát
giảm, bột, sét tăng lên. Xuống sâu hơn phèn càng nặng. Đất hơi chua, hàm lượng
chất dinh dưỡng không cao, đã và đang sử dụng để trồng lúa, các loại cây lấy củ,
các loại rau với biện pháp làm đất, bón phân thích hợp, có công trình xổ phèn thích
hợp cùng việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho năng suất, sản lượng cao.
Đất phù sa là đất chiếm diện tích không lớn lắm và có nhiều loại khác nhau,
phân bố ở các xã đồng bằng ven phá, ven sông như Phong Hiền, Phong An, Phong
Thu, Phong Hòa, Phong Bình, Phong Chương và các xã vùng ngũ Điền, trong đó có
nhiều loại.
5 Đất phù sa được bồi hàng năm
Phân bố dọc bờ sông Ô Lâu và sông Bồ. Đây là loại đất có tầm quan trọng
rất lớn trong sản xuất lúa nước, có cấu trúc 2 tầng khá rõ, tầng mặt dày khoảng
30cm có màu nâu tươi. Đất thịt nhẹ hoặc trung bình, trong đất cấp hạt mịn lớn.Tầng
mặt thường có các vết loang lỗ đỏ nâu, xám, xanh do hoạt động canh tác nông
nghiệp.Tầng dưới có màu nâu tươi đồng nhất.Đất ít chua, chứa nhiều chất dinh
dưỡng, độ phì cao.
6 Đất phù sa chua
Phân bố trên các đồng bằng ít hoặc không được bồi hàng năm ở các đồng
bằng hoặc các khu vực đồng bằng ít hoặc không bị ngập lụt như những vùng cao
đồng bằng sông Bồ. Cấu trúc thường phân 2 tầng: tầng mặt màu xám nâu, xám hơi
xanh do canh tác lúa nước, tầng dưới màu xám hơi vàng. Đất có phản ứng
chua.Hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng trong đất ở mức trung bình.Trong đất
cấp hạt mịn chiếm chủ yếu.Có giá trị trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp ngắn
ngày, các cây cho củ.
7 Đất phù sa glây phủ trên cát
Phân bố ở nơi là đất cát nhưng được tích tụ phù sa trên đó. Đây là những
cánh đồng trũng ở các xã Phong Thu (thôn Khúc Lý, Ưu Thượng...) Đất thường
gồm 3 tầng: tầng mặt có màu nâu xám, thành phần cơ giới nhẹ, thường bị ướt nhão
do ngập lâu trong năm, có phản ứng chua, dưới tầng mặt có màu xám đen. Đất
10 Đất xám vàng phát triển trên đồi đá hoa cương (đá granit)
Đất này chỉ chiếm một diện tích nhỏ ở các xã Phong Sơn. Thành phần cấp
hạt thuộc đất thịt nhẹ và trung bình.Đất có phản ứng chua, chứa ít chất kiềm và
kiềm thổ.Hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng trung bình hoặc nghèo. Tầng đất
dày lẫn nhiều sạn, cát thạch anh, rất thích hợp với việc trồng các loại cây ăn quả,
cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày và trồng rừng, nhất là rừng thông.
11 Đất xám vàng phát triển trên đồi đá phiến sét
Phân bố rộng rãi trên các xã Phong Mỹ, Phong Xuân, Phong Sơn. Đất thường
có cấu trúc 3 tầng.Tầng mặt màu nâu, nâu thẫm, cấu tượng viên tơi xốp lẫn nhiều rễ
cây.Trong đó có các mảnh đá phiến sét màu vàng đã bị phá hủy, màu tím gan gà mềm
bở.Thành phần cơ giới thịt trung bình, lượng hạt mịn nhiều.Đất có phản ứng chua.Các
chất kiềm và kiềm thổ trong đất không lớn.Hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng
thường thấp. Tuy nhiên do có độ dốc thoải, tầng đất dày, độ phì khá cao, đất phát triển
trên các đồi đá, phiến sét rất thích hợp với các cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn và dài
ngày, nơi có điều kiện tốt xây dựng các mô hình RVAC.
12 Đất xám vàng phát triển trên đồi đá cát kết (sa thạch)
Phân bố ở Phong Mỹ, Phong Thu, Phong Xuân, Phong An, Phong Sơn. Đất
xám vàng phát triển ở đây khác với đất hình thành trên đá phiến sét ở chỗ thành phần
cơ giới nhẹ hơn, thường là cát pha, thịt nhẹ. Độ dày tầng đất 30-50cm, có nơi đến 5070cm. Đất chua, lượng mùn và các chất dinh dưỡng không lớn, thích hợp với sự phát
triển cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày và trồng rừng như rừng thông.
13 Đất vàng xám phát triển trên núi đá mác ma xâm nhập
Chiếm một diện tích khá rộng ở vùng núi Phong Mỹ, Phong Xuân và Phong
Sơn. Thành phần cơ giới thịt nhẹ, thịt trung bình. Trong đất còn có các sản phẩm
phong hóa dở dang và cát sạn thạch anh. Tầng đất mỏng màu trắng vàng, vàng sáng,
màu nâu nhạt nơi có sét. Đất có phản ứng chua, lượng các chất kiềm và kiềm thổ rất
thấp. Do độ dốc địa hình lớn, xói mòn xảy ra mạnh chỉ thích hợp cho việc trồng và
tái sinh rừng hoặc dành cho bảo tồn thiên nhiên.
14 Đất xám vàng phát triển trên núi đá phiến sét
Phân bố rộng rãi ở các xã Phong Mỹ, Phong Xuân, Phong Sơn. Đất thường
có cấu trúc 3 tầng.Trong các tầng nhất là tầng mặt có cấu tượng viên, tơi xốp lẫn
đất vườn mà còn vào nhiều mục đích khác nhau ở các làng xã, ngoài ra cũng là đất
xây dựng các công trình công cộng khác nhau.
2.1.6. Thực vật
Do hoàn cảnh địa lý tự nhiên thuận lợi, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa
nhiều, ánh sáng đầy đủ, lại có địa hình đất đai phân hóa từ đông sang tây gồm cả bờ
biển, đầm phá, đồng bằng và đồi núi, nên thảm thực vật Phong Điền khá đa dạng,
phong phú và xanh tốt quanh năm. Từ núi xuống biển, do khác nhau về điều kiện
sinh thái, hình thành những thảm thực vật khác nhau về ngoại hình, về thành phần
và loài giống.
21
1 Thảm thực vật vùng núi
Phân bố tại tây nam Phong Mỹ, Phong Xuân và Phong Sơn. Theo địa hình từ
thấp lên cao: từ 100m đến 800m là rừng nhiệt đới ẩm và từ 800m lên đến 1.800m là
rừng á nhiệt đới ẩm.
-Rừng nhiệt đới ẩm là rừng kín cây lá rộng, có 3 tầng : tầng tán ở trên cùng
gồm các cây thân gỗ lớn cao trên 10m, giữa là tầng cây gỗ nhỏ từ 2 đến 8m, dưới
cùng là tầng cỏ. Xen kẻ không theo tầng là các cây phụ sinh, ký sinh sống bám vào
các cây gỗ và dây leo. Tầng tán trên chủ yếu là các cây thuộc họ dầu như dầu rái,
vên vên, chò, kiền kiền, sến…,các cây trong họ đậu như gõ, lim, cẩm xe…, họ dâu
tằm như mít, quýt núi và các cây họ trầm, họ nhãn…Tầng tán thấp gồm các cây họ
xoài, họ na, họ trúc đào, họ gạo, họ trám, họ bứa, họ bàng, họ thị, họ dẻ…, các cây
thuộc họ bằng lăng, họ xoan, họ bồ hòn, bồ đề, họ trầm hương…Tầng cỏ gồm các
cây thuộc họ ráng, họ gai, họ lan huệ, họ môn, họ cau, họ cói, họ gừng, họ hòa
thảo…
-Rừng á nhiệt đới ẩm cũng là rừng kín cây lá rộng, thích hợp hơn với các loài
cây ôn đới, cũng có cấu trúc nhiều tầng: tầng trên cùng cây cao tới 15m, bên dưới là
cây thân gỗ nhỏ từ 2-8m và dưới cùng là cây bụi mọc thưa. Xen kẻ là các cây phụ