sinh kế thích ứng trước biến đổi khí hậu của cư dân đầm phá xã quảng an, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 23

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ "Sinh kế thích ứng trước biến đổi khí
hậu của cư dân đầm phá xã Quảng An, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên
Huế" là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận
văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Học viên
Trần Thị Kim Yến
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên,
giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS. Nguyễn
Xuân Hồng đã rất tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và
hoàn thành luận văn.
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa
Lịch sử đã đem lại cho tôi những kiến thức vô cùng có ích trong những năm học
vừa qua.
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau
đại học, Trung tâm thư viện, Đại học Khoa học Huế, đã tạo điều kiện cho tôi trong
quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Xin cảm ơn đến các cán bộ UBND huyện Quảng Điền, UBND xã Quảng
An, Ban chủ nhiệm Hợp tác xã thôn An Xuân, thôn Mỹ Xá đã nhiệt tình hợp tác,
cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn
bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn của
mình.
Tác giả
Trần Thị Kim Yến
iii


trường , Bộ TN&MT
- UNFCCC Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH
- UBND Ủy ban nhân dân
- VVB Vùng ven biển
- µm Một phần triệu mét
DANH MỤC CÁC BẢNG
v
Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
1.1. Các loại vật nuôi trong xã Quảng An 26
2.1 Các chất khí nhà kính chính và ảnh hưởng của chúng trên khí
hậu
43
2.2 Nhận biết của các hộ gia đình trong xã về các loại hình thiên tai 50
2.3 Mức độ của các loại hình thiên tai hiện tại so với 10 năm trước 50
2.4 Các hiện tượng thời tiết/ khí hậu có tác động tiêu cực đến cuộc
sống gia đình
52
2.5 Hậu quả của tác động thời tiết cực đoan đến sinh kế của người
dân trên địa bàn nghiên cứu
55
2.6 Điều kiện khí hậu theo tháng/ mùa trong năm và những tác
động của nó đến hoạt động sinh kế của người dân trên địa bàn
nghiên cứu
56
2.7 Nhận thức của người dân trên địa bàn về BĐKH 58
2.8 Các hoạt động thích ứng của người dân trước sự diễn ra của
bão trên địa bàn
59

Hòa Duân
40
2.6 Sơ đồ các điểm quan trắc biến động đường bờ tại cửa Tư
Hiền
41
2.7 Các nước phát tán nhiều khí thải nhà kính trên thế giới 45
vii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tổng quan nghiên cứu và tính mới của đề tài 4
2.1. Tổng quan nghiên cứu 4
2.2. Tính mới của đề tài 7
3. Mục đích nghiên cứu 7
3.1. Mục đích tổng quát 7
3.2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu cụ thể 7
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 7
4.1. Đối tượng nghiên cứu 7
4.2. Phạm vi nghiên cứu 8
5. Phương pháp nghiên cứu 8
5.1. Phương pháp luận 8
5.2. Phương pháp cụ thể 9
5.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu 9

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CHO CƯ DÂN
ĐẦM PHÁ XÃ QUẢNG AN, HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, 83
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 83
3.1. Ưu điểm và hạn chế của hoạt động sinh kế thích ứng trước sự BĐKH 83
3.2. Chiến lược phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước đối với cư dân đầm phá 84
3.2.1. Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020 84
3.2.2. Đề án phát triển kinh tế - xã hội vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đến năm 2020
của Chính phủ Việt Nam 86
3.2.3. Chủ trương của tỉnh Thừa Thiên Huế 87
3.2.4. Chiến lược phát triển bền vững của huyện Quảng Điền 88
3.2.5. Chiến lược phát triển bền vững của xã Quảng An 90
3.3. Giải pháp sinh kế bền vững cho cư dân xã Quảng An 93
3.3.1. Tổ chức tập huấn, đào tạo việc làm nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập cho cư dân
93
3.3.2. Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp 94
3.3.3. Tăng cường thể chế, năng lực của chính quyền địa phương 95
3.3.4. Tăng cường tính minh bạch và công bằng 96
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 1
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình
và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài
thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các
tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí
quyển hay trong khai thác sử dụng đất [10, tr.2].
Bản báo cáo lần thứ nhất của IPCC (Intergovernmental Panel on Climate
Change) năm 1990 cho biết là trong 100 năm trước đây, nhiệt độ trái đất đã tăng từ

Tháng 8- 2008 được ghi nhận trong lịch sử là tháng nóng nhất ở Bắc bán cầu và
số người chết nóng đã lên đến mức kỷ lục. Riêng ở Pháp đã có 14.802 người chết
trong đợt nắng nóng này, chủ yếu là những người già có sức đề kháng kém. Số người
chết ở Đức cũng lên đến 7.000; ở Tây Ban Nha và Italia khoảng 4.200 người. Theo
báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, số người chết hàng năm do nắng nóng sẽ tăng gấp
đôi trong vòng 20 năm tới [29, tr.105].
Ở miền Bắc Việt Nam, các đợt rét đậm rét hại trong 33 ngày vào đầu năm
2008 đã gây rất nhiều thiệt hại cho nông nghiệp, cho chăn nuôi, cũng như gây tổn
2
thất nhân mạng quá mức bình thường: 33.000 trâu bò bị chết, 34.000 hecta lúa
xuân bị mất trắng,thiệt hại lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Trong đợt lạnh kéo dài vào
tháng 2-2008, tổn thất ở Trung Quốc đã là 21,1 tỷ USD [29, tr.105].
BĐKH tác động lên tất cả các thành phần môi trường bao gồm các lĩnh vực
của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và sức khỏe con người trên phạm vi
toàn cầu. Tuy nhiên, mức độ tác động của BĐKH có khác nhau: nghiêm trọng ở
các vùng có vĩ độ cao và ít hơn tại các vùng khác, sẽ lớn hơn ở các nước nhiệt đới,
nhất là các nước đang phát triển công nghiệp nhanh ở châu Á. Trong đó, những
người nghèo, những người ít góp phần gây ra BĐKH nhất thì lại phải chịu những
thiệt hại sớm nhất và nghiêm trọng nhất về phát triển con người do BĐKH gây ra
[21, tr.36].
Theo dự đoán, nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đang đứng trước
nguy cơ bị nước biển nhấn chìm do mực nước biển dâng - hậu quả trực tiếp của sự
tan băng ở Bắc và Nam Cực. Trong số 33 thành phố có quy mô dân số 8 triệu
người vào năm 2015, ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nước biển nhấn chìm
toàn bộ hoặc một phần và khoảng 332 triệu người sống ở vùng ven biển và đất
trũng sẽ bị mất nhà cửa vì ngập lụt [21, tr.37].
Biến đổi khí hậu tác động đến sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương
mại dịch vụ và điều mấu chốt ở đây là ảnh hưởng đến đời sống của cư dân định cư
ở đó. Ví như : Hạn hán sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động nông nghiệp làm giảm
sản lượng lương thực và đẩy giá lương thực tăng cao. Nhiệt độ tăng và tính biến

Từ những vấn đề trên, để có thể hiểu được rõ hơn về sinh kế và sinh kế thích
ứng của cư dân đầm phá, thấu hiểu những thuận lợi, khó khăn cũng như mong
muốn của họ, kết hợp với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, của
huyện, để có thể đưa ra những giải pháp và định hướng phù hợp về phát triển bền
vững cho cư dân vùng đầm phá đồng thời gắn với bảo vệ môi trường, tác giả đã
lựa chọn vấn đề “ Sinh kế thích ứng trước biến đổi khí hậu của cư dân đầm phá
xã Quảng An, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm nội dung cho luận
văn cao học của mình.
4
2. Tổng quan nghiên cứu và tính mới của đề tài
2.1. Tổng quan nghiên cứu
BĐKH được xem là một trong những vấn đề nổi lên trên thế giới, trong đó
Việt Nam cũng là một trong những nước đang chịu sự tác động mạnh mẽ của sự
BĐKH. Vì vậy, đây là vấn đề được rất nhiều cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước
quan tâm với mục đích phòng chống, khắc phục những hậu quả do thiên tai để lại
và đưa ra các giải pháp ứng dụng tạm thời và lâu dài.
Nhận thức rõ tác động của BĐKH, Việt Nam đã sớm tham gia Công ước
Khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC) (1992), Nghị định thư Kyoto
(KP) (1998) và thực hiện các công ước quốc tế về BĐKH. Chính phủ đã ban hành
các Chỉ thị, Quyết định, Nghị quyết giao cho Bộ TN&MT và các bộ, ngành, địa
phương có liên quan triển khai thực hiện các cam kết này và hiện nay đang triển
khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH và Kế hoạch
thực hiện chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai [20, tr.55].
Tỉnh Thừa Thiên Huế đã có một số dự án nghiên cứu liên quan đến vấn đề
BĐKH và sinh kế như: Báo cáo tổng kết chuyên đề của dự án FLC 09-04 của
Nguyễn Đình Huy, Lê Quang Cảnh & nnk (2009), Tổng quan về điều kiện tự
nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường và tai biến thiên nhiên khu vực 2 xã
Quảng Thành và Hương Phong; Đặng Trung Thuận & nnk (2010), Đánh giá khả
năng thích ứng và nghiên cứu các mô hình phát triển sinh kế thích ứng với biến
đổi khí hậu cho 2 xã Quảng Thành và Hương Phong, tỉnh Thừa Thiên Huế, Dự án

dân TP.Tam Kỳ, Kỷ yếu hội thảo biến đổi khí hậu khu vực miền Trung và Tây
Nguyên - Thực trạng và giải pháp ứng phó UBND tỉnh Quảng Nam. Liên hiệp các
hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam; Nguyễn Thị Cẩm Yến (2013), Kinh nghiệm từ
một số mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng ở tỉnh Phú Yên,
Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Huế. Các công trình nói trên đã đi sâu
vào nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu và đã đưa ra các giải pháp nhằm
giải quyết vấn đề sinh kế ở các địa bàn nghiên cứu.
Hai cuốn tài liệu được các tác giả dày công biên soạn và viết thành sách,
6
cung cấp rất nhiều thông tin sâu, rộng liên quan đến biến đổi khí hậu và năng
lượng ở trong nước cũng như trên thế giới: Nguyễn Thọ Nhân (2009), Biến đổi
khí hậu & Năng lượng, Nxb Tri Thức, Hà Nội; Trương Quang Học (chủ biên)
(2011), Tài liệu đào tạo tập huấn viên về biến đổi khí hậu, Nxb Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội.
Bên cạnh đó, tác giả còn đọc thêm và tham khảo một số luận văn thạc sĩ có
liên quan đến đề tài như: Nguyễn Thị Lan Anh (2013), Sinh kế thích ứng trước sự
thay đổi của môi trường sống ở khu tái định cư thủy điện xã Bình Thành, thị xã
Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, Khoa Khoa học môi trường và bảo vệ môi
trường, Đại học Khoa học, Đại học Huế; Đỗ Xuân Bắc (2010), Sinh kế bền vững
trước sự biến đổi của tài nguyên môi trường cho cư dân xã Lộc Điền, huyện
Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn thạc sĩ, Khoa Khoa học môi trường
và bảo vệ môi trường, Đại học Khoa học, Đại học Huế; Trần Đình Bình (2001),
Đời sống kinh tế - xã hội cư dân đầm phá Bắc Tam Giang, tỉnh Thừa Thiên Huế,
Luận văn thạc sĩ, Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học, Đại học Huế; Nguyễn Thanh
Tuấn (2011), Thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư hai xã Hải
Dương và Vinh Hiền, tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn thạc sĩ, Khoa Khoa học môi
trường và bảo vệ môi trường, Đại học Khoa học, Đại học Huế; Trần Nhật Tường
Vi (2013), Nghiên cứu sinh kế ngoài ngư cho lao động trẻ ở cộng đồng đầm phá
Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn thạc sĩ, Khoa Khoa học
môi trường và bảo vệ môi trường , Đại học Khoa học, Đại học Huế. Các luận văn

- Tìm hiểu thực trạng thay đổi của môi trường sống ở xã Quảng An trước
BĐKH.
- Phân tích các hoạt động sinh kế thích ứng của cư dân đầm phá xã Quảng
An trước sự thay đổi của BĐKH.
- Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp sinh kế thích ứng và bền vững cho cư dân
đầm phá xã Quảng An trước BĐKH.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
8
Sinh kế thích ứng trước biến đổi khí hậu cư dân đầm phá xã Quảng An.
Đối tượng tác giả tiếp cận để thu thập thông tin bao gồm cư dân làm nông
nghiệp và cư dân vừa làm nông nghiệp vừa làm ngư nghiệp ở thôn An Xuân và
thôn Mỹ Xá thuộc xã Quảng An.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn xã Quảng An có 5 thôn, trong đó chỉ có thôn An xuân là thôn chịu
ảnh hưởng nhiều nhất khi có nước mặn xâm nhập bởi vùng đất thổ cư của thôn An
Xuân tiếp giáp với đầm phá. Bên cạnh đó, một phần đất nông nghiệp kề cận của
thôn Mỹ Xá cũng bị ảnh hưởng bởi nước mặn xâm nhập. Ngoài ra, xưa kia thôn
An Xuân nổi tiếng với nghề cá, chuyên đánh bắt chăn nuôi thủy sản, còn thôn Mỹ
Xá là thôn có nhiều ruộng đất, là nơi có nhiều lúa gạo nhất so với các làng lân cận.
Như câu ca xưa hay nói "Cơm Mỹ Xá, cá Hộ Yên, tiền Phú Ngạn, bạn La Vân ".
Do vậy, tác giả chọn 2 thôn An Xuân và Mỹ Xá để thuận tiện cho việc điều tra,
phỏng vấn các vấn đề có liên quan đến đề tài (làng An Xuân trước đây có tên là An
Thái về sau có tên là Hộ Yên và hiện nay là An Xuân). Với đề tài này, tác giả tiến
hành nghiên cứu các hoạt động thích ứng và sinh kế thích ứng của người dân trên
địa bàn trước BĐKH đã áp dụng trong 10 năm qua.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Để hoàn thành các mục tiêu đã đưa ra cho đề tài của mình, chúng tôi đã dựa
trên quan điểm của phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng. Từ đó,

Trong quá trình đi thực tế, chúng tôi đã sử dụng một số kỹ năng của phương
pháp điền dã Dân tộc học để tiếp cận cũng như tìm hiểu địa bàn nghiên cứu. Ngoài
ra, chúng tôi có kết hợp với các phương pháp liên ngành, đa ngành khác, mà cụ thể
là phương pháp điều tra Xã hội học gồm có:
+ Phỏng vấn bằng bảng hỏi: Chúng tôi phỏng vấn bảng hỏi với 100 hộ gia đình
(mẫu nghiên cứu là những gia đình làm nông nghiệp và những gia đình vừa làm
nông vừa làm ngư chịu tác động của sự thay đổi về thời tiết, khí hậu và đã áp dụng
các hoạt động thích ứng vào trong quá trình sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng
10
thủy sản) và thu thập những thông tin định lượng cần thiết phục vụ cho các nội
dung của luận văn.
+ Phỏng vấn sâu: Qua quá trình phỏng vấn bằng bảng hỏi, chúng tôi chọn ra những
hộ dân có sự am hiểu, có kinh nghiệm về các hoạt động sinh kế của mình, đã và
đang áp dụng các hoạt động đó vào trong sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp, và
với một số gia đình làm nông nghiệp và vừa làm nông nghiệp vừa làm ngư nghiệp
để phỏng vấn. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn sâu đối với các
cán bộ xã Quảng An; cán bộ Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp An Xuân, Đông
Phú và trưởng thôn An Xuân và Mỹ Xá để có thể thu thập được những thông tin
cần thiết phục vụ cho đề tài.
+ Quan sát: Với phương thức này, chúng tôi quyết định tham gia vào các hoạt
động sản xuất cùng với một số hộ gia đình. Để qua thực tiễn đó, chúng tôi có thể
nhìn nhận, đánh giá đúng và khách quan về hiệu quả của các hoạt động sinh kế
thích ứng mà người dân trên địa bàn đã và đang áp dụng trước BĐKH, đồng thời
đó cũng là cách chúng tôi kiểm chứng lại những thông tin chúng tôi thu thập được
từ phỏng vấn bảng hỏi, phỏng vấn sâu, nhằm đảm bảo thông tin thu thập được là
chính xác, có cơ sở.
5.2.2. Phương pháp xử lý dữ liệu
Từ những dữ liệu thành văn sẵn có tác giả tiến hành chọn lọc, phân tích và
trích dẫn những nội dung có liên quan, kết hợp với những dữ liệu thu thập được
trong quá trình đi thực tế, chúng tôi sắp xếp chúng phù hợp với các mục tiêu cụ thể

CHƯƠNG 1 CÁC KHÁI NIỆM, LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Các khái niệm, lý thuyết liên quan đến đề tài
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm biến đổi khí hậu
Trong lịch sử tiến hóa của nhân loại, loài người đã đạt được những thắng lợi
lớn lao trong công cuộc chinh phục thiên nhiên để xây nên một nền văn minh vật
chất mà chúng ta đang được thụ hưởng. Để chế ngự sức mạnh tiềm ẩn của thiên
nhiên, con người đã phải vật lộn, tránh né bao trở lực, để rồi bắt thiên nhiên phải
phục vụ mình. Nhưng cũng trong quá trình ấy, sức mạnh của thiên nhiên do bị nén
quá mức đã phản ứng như một lò xo khi bật trở lại đã gây nên bao nhiêu thảm họa
cho nhân loại. Người ta thường nói rằng đã đến lúc các quy luật từng bị con người
làm biến dạng đang tìm cách trả thù [29, tr.23] lại con người.
Ngày nay, mối lo ngại lớn nhất của nhân loại là sự biến đổi khí hậu kéo theo
những hậu quả ngày càng trầm trọng như mưa lũ, bão tố, sạt lở đất, giảm năng suất
nông nghiệp, nhiệt độ trái đất tăng dần Nhiều nhà khoa học cho rằng con người đã
lâm vào một tình trạng khó lòng đảo ngược các hiện tượng đang gây ra những thảm
họa thiên nhiên. Nhưng một số chuyên gia khác lại cho rằng khoa học kỹ thuật vẫn
có thể ngăn ngừa các thảm họa ấy bằng cách tác động nhanh chóng vào nguồn gốc
của chúng. Các Chính phủ của các quốc gia trên thế giới đã bắt đầu có những
chương trình nhắm vào mục tiêu này. Một điển hình để minh chứng cho các nổ lực
ấy là việc thành lập IPCC mà Liên Hiệp Quốc đứng ra chủ trì. Các chuyên gia của
IPCC đã xác định nguyên nhân chính gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu là việc
con người, từ kỷ nguyên công nghiệp hóa, đã thải ra không trung quá nhiều chất
khí gây hiện tượng nhà kính (GHG, Green House Gas), làm cho nhiệt độ trái đất
tăng dần lên. Những khí thải ấy, đặc biệt là đioxit cacbonic (CO2 cũng còn gọi là
khí cacbonic), được sản sinh ra chủ yếu từ việc khai thác, chế biến và sử dụng các
nguồn năng lượng cổ điển, mà năng lượng lại là một yếu tố quan trọng trong mọi
13
hoạt động của con người [29, tr.23]. Đặc biệt, những hậu quả do biến đổi khí hậu

tương quan với nhau và các biểu hiện ấy đều xuất phát từ nguyên nhân cơ bản là:
- Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã đưa đời sống vật chất của nhân loại lên
tầm cao mới. Cuộc cách mạng ấy cũng làm cho hoạt động của con người tăng lên
theo một hàm số mũ, nghĩa là ở một nhịp độ rất cao và rất phong phú. Các hoạt động
trong mọi lĩnh vực đều đi kèm theo việc sử dụng năng lượng ngày một nhiều và kết
quả là lượng khí thải nhà kính thoát ra không trung cũng tăng lên nhanh chóng [29,
tr.26]. Trong đó, khí CO
2
là thành phần quan trọng nhất trong việc tạo ra hiện tượng
nhà kính làm tăng nhiệt độ trái đất, ngoài ra còn có nồng độ của nhiều chất khí khác
trong không trung cũng tăng lên nhanh chóng do hoạt động của con người. Sự hiện
diện của các chất khí ấy là nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính, dẫn đến hiện
tượng biến đổi khí hậu mà biểu hiện rõ rệt nhất là việc trái đất ấm dần lên. Sự gia
tăng nhiệt độ của trái đất còn kéo theo nhiều xáo trộn khác ảnh hưởng đến đời sống
hiện tại và tương lai của con người sống trên hành tinh này.
- Nhiệt độ trung bình của trái đất đã tăng lên hằng năm, đặc biệt là từ năm
1950 trở đi. Báo cáo đánh giá lần thứ ba (Third Assessment Report, TAR) năm
2001, cho biết trong 100 năm trước (1901 -2000) nhiệt độ trái đất đã tăng lên 0,6
o
C
± 0,2
o
C. Chỉ sáu năm sau báo cáo đánh giá lần thứ tư (Fourth Assessment Report,
AR4) năm 2007, cho biết là trong 100 năm trước đó, nhiệt độ trái đất tăng 0,74
o
C ±
0,18
o
C, như thế có nghĩa là tốc độ ấm dần lên của trái đất ngày càng cao. Trong 50
năm vừa qua, nhiệt độ trái đất tăng trung bình 0,13

o
C đến 0,6
o
C
mỗi thập kỷ kể từ năm 1979. Tuy nhiên, sau các đợt phun trở lại của núi lửa, tầng
bình lưu cũng ấm lên trong từng giai đoạn [29, tr.98].
Nhiệt độ trái đất tăng có nghĩa là số lượng ngày nắng trong một năm nhiều
hơn ngày mưa, số giờ nắng trong một ngày nhiều hơn, nhiệt độ hàng ngày cao,
nhất là vào những tháng mùa hè. Lượng nước có trên trái đất ngày một khan hiếm,
không khí ngày càng nóng bức hơn khiến cho các động thực vật trên cạn cũng như
dưới nước ngày càng mất dần môi trường sinh tồn, phát triển và có thể dẫn đến
nguy cơ tuyệt chủng, đe dọa đến đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến hầu hết các hệ
sinh thái như hệ sinh thái vùng cực, hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái khô hạn
và bán khô hạn, hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái vùng nước nội địa, hệ sinh thái biển
và ven biển Một khi các hệ sinh thái bị đe dọa thì hậu quả khó lường, dưới tác
động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu thì khả năng phục hồi lại các hệ sinh thái gặp
nhiều khó khăn. Vì vậy, môi trường sống của loài người cũng bị ảnh hưởng mà nổi
lên hiện nay là vấn đề môi trường bị ô nhiễm, nhất là môi trường nước - bị ô nhiễm
đến mức cá chết hàng loạt, nước đưa vào tưới tiêu cho các đồng ruộng cũng giảm
năng suất trầm trọng Cho nên, việc xử lý ô nhiễm môi trường sống là bài toán
không hề dễ dàng cho các nhà quản lý về lĩnh vực này, họ cần phải có những phép
tính khéo léo, được cân nhắc kỹ lưỡng, làm thế nào để giảm đến mức thấp nhất
lượng tiêu tốn thời gian, tiền bạc để tuyên truyền, bảo vệ môi trường sống. Nhằm
ngăn ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất sự bùng phát, lây lan của những dịch bệnh
mà nguyên nhân gây ra là do ô nhiễm môi trường. Điều đó đồng nghĩa với việc
đem lại sự an toàn, giảm đi sự lo lắng của con người về dịch bệnh, đảm bảo môi
trường sống tốt, sức khỏe con người được chú trọng hơn, đời sống được nâng cao
con người được hưởng những phúc lợi xã hội ngày càng nhiều.
16
1.1.1.2. Khái niệm đầm phá

đã thiết lập trong cộng đồng [13, tr.4-7].
"Một sinh kế có thể được mô tả như là tập hợp các nguồn lực và khả năng mà
con người có được kết hợp với những quyết định và hành động mà họ thực thi
nhằm để kiếm sống cũng như đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ" hay là
những việc làm mang tính tạm thời, theo mùa vụ, theo khả năng của từng người và
được trả công theo ngày làm, theo sản phẩm được làm ra. Tùy theo việc mà đưa ra
những yêu cầu khác nhau, có việc thì cần người làm có sức khỏe, có việc cần
người làm khéo tay, có việc lại cần người làm vừa cẩn thận vừa có kinh nghiệm
lẫn trình độ nhất định nào đó Đôi lúc một sinh kế có thể kéo dài trong nhiều
tháng và có thể duy trì hoạt động sinh kế trong cả năm, mùa nào cũng có thể thực
hiện hoạt động sinh kế đó, nhưng cũng có trường hợp một sinh kế chỉ được thực
hiện trong một mùa hay một thời điểm nhất định, nghĩa là trong một năm con
người phải thực hiện nhiều hoạt động sinh kế để phục vụ nhu cầu ăn, mặc, ở và đi
lại. Một sinh kế không phải là một hoạt động, một công việc cụ thể nhất định mà
đó là một chuỗi những hoạt động , công việc có sự đan xen, kết hợp với nhiều hoạt
động khác. Một sinh kế có thể chia ra làm sinh kế mang tính đơn giản và sinh kế
mang tính phức tạp. Mỗi một sinh kế có những đặc điểm riêng biệt, từ các khâu
chuẩn bị đến các khâu tiến hành các hoạt động sinh kế, nhưng giữa các sinh kế có
mối quan hệ tương tác qua lại bổ trợ cho nhau. Các nguồn lực và khả năng mà con
người có bao gồm: kĩ năng, học thức, sức khỏe, năng lực lao động, đất đai và các
nguồn tài nguyên khác, thu thập tiền mặt, tiết kiệm, tài sản gia đình, công cụ sản
xuất, những mạng lưới hổ trợ từ gia đình và xã hội.
Hiện nay, các thuật ngữ "sinh kế truyền thống", "đa dạng sinh kế", "chiến
lược sinh kế","sinh kế bền vững" hay "sinh kế thích ứng" được bàn đến rất nhiều
với mục đích tạo nên sự phát triển ổn định, phù hợp với điều kiện mới của cư dân
tại những vùng thường xuyên chịu sự tác động tiêu cực của khí hậu, khu vực nông
thôn, nơi ngập lụt, vùng dân tộc Trong đó, hiện nay vấn đề sinh kế thích ứng
được đặt lên hàng đầu với mục tiêu đảm bảo cuộc sống ổn định, phát triển lâu dài

Trích đoạn Các hoạt động sinh kế truyền thống của cư dân xã Quản An BĐK Hở trên thế giới và Việt Nam BĐK Hở Thừa Thiên Huế Nguyên nhân dẫn đến sự BĐKH trên toàn cầu Tác động của BĐKH đến sinh kế của người dân trên địa bàn xã Quảng An
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status