LUẬN VĂN THẠC SỸ
ĐỀ TÀI: “
Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng
lực thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng
đồng xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh
Hòa Bình”
Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng
lực thích ứng với biến đổi khí hậu của
cộng đồng xã Tây Phong huyện Cao
Phong tỉnh Hòa Bình
Trần Hữu Hào
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
của họ đặc biệt là hộ nghèo chủ yếu từ nông nghiệp, ngư nghiệp,
lâm nghiệp phụ thuộc nhiều vào khí hậu và điều kiện tự nhiên.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đặt ra cho họ những thách thức lớn hơn
trong việc xóa đói giảm nghèo và duy trì sinh kế bền vững. Chính
vì vậy đây là nơi dễ bị tổn thương nhất do tác đổng bởi biến đổi
khí hậu.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu trên toàn cầu và ở Việt Nam,
vùng núi Tây Bắc trong đó có xã Tây Phong, huyện Cao
Phong, tỉnh Hòa Bình là một trong những nơi bị ảnh hưởng do
tác động BĐKH (Bộ tài nguyên và môi trường, 2009). Tây
Phong là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, có những đặc điểm đại diện
cho vùng núi tỉnh Hòa Bình nói riêng, vùng núi Tây Bắc nói
chung. Biến đổi khí hậu ở đây biểu hiện rõ rệt nhất là các hiện
tượng khí hậu cực đoan như hạn hán kéo dài, mưa lũ bất
thường, rét đậm rét hại các hiện tượng này xuất hiện thất thường
khó dự đoán. Những kiểu thời tiết cực đoan này tác động tới đời
sống người dân đặc biệt là hộ nghèo sống trong cộng đồng làm
cho họ dễ bị tổn thương hơn, cuộc sống của họ trở nên bất ổn,
nguồn sinh kế của họ bị đe dọa. Cụ thể diện tích lúa giảm do
hạn hán, năng suất cây trồng giảm hoặc mất trắng, gia súc chết
do rét, dịch bệnh tăng, chi phí đầu tư sản xuất lớn, lợi nhuận thu
lại ít. Hiện nay chưa có nghiên cứu nào liên quan tới tính dễ bị
tổn thương, năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu tại khu vực
này
Chính vì vậy em quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu tính dễ
bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của
cộng đồng xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình”
Mục tiêu của luận văn
- Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng của
cộng đồng với biến đổi khí tại xã Tây Phong huyện Cao Phong
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN
THƢƠNG VÀ NĂNG LỰC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU
1.1. Một số khái niệm
Biến đổi khí hậu
Là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình
và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời
gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu
có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động
bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành
phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất. (Bộ Tài
nguyên và Môi trường, 2008)
Theo Nguyễn Đức Ngữ (chủ biên), 2008, các biểu hiện của
biến đổi khí hậu là
- Nhiệt độ trung bình năm tăng; sự biến đổi và độ khác thường
của thời tiết và khí hậu tăng;
- Nước biển dâng do băng tan từ các cực Trái đất và các đỉnh núi
cao;
- Các hiện tượng cực đoan của thời tiết và thiên tai (nóng, rét hại,
bão, lũ lụt,hạn hán, v.v…) xảy ra với tần suất cao hơn, cường độ
và độ khác thường lớn hơn.
Khí hậu cực đoan
Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (The Intergoverment
Panel on Climate Change – IPCC), 2007 định nghĩa “hiện tượng
thời tiết cực đoan” và “hiện tượng khí hậu cực đoan” như sau:
đó ở lĩnh vực BĐKH: Theo nghiên cứu của IUCN đã nêu trong
báo cáo về “người bản địa và biến đổi khí hậu” (2008), tính dễ bị
tổn thương được phân làm 2 nhóm yếu tố: Xã hội (nghèo đói, bất
bình đẳng, mù chữ…. ); lý sinh (sức khỏe và dinh dưỡng). Theo
Cục biến đổi khí hậu và năng lượng Australia, 2011, tính dễ bị
tổn thương trước biến đổi khí hậu được phân thành 3 yếu tố là
sinh thái học, kinh tế và xã hội.
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp khác nhau
để đánh giá tính dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu. Alex de
Sherbinin và cộng sự (2010) sử dụng phương pháp tiếp cận dựa
vào các kịch bản kết hợp với những phương pháp tiếp cận mới
đánh giá tính dễ bị tổn thương từ dưới lên để nghiên cứu đánh
giá tính dễ bị tổn thương tại 3 thành phố là Mumbai, Rio de
Janeiro và Thượng Hải. Nghiên cứu này đã đánh giá một số cản
trở về mặt chính trị để chuẩn bị tốt hơn trong việc phòng ngừa
thiên tai.
Thích ứng với biến đổi khí hậu
Hiện nay có nhiều cách tiếp cận thích ứng với BĐKH như: Thích
ứng dựa trên hệ sinh thái, cộng đồng và quyền lợi….Tuy nhiên,
các nhà nghiên cứu về cộng đồng thường sử dụng cách tiếp cận
dựa trên cộng đồng để nghiên cứu khả năng thích ứng của cộng
đồng dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu.
Cách tiếp cận thích ứng với BĐKH dựa trên cộng đồng là một
phương pháp luận để thu thập, tổ chức và phân tích thông tin về
khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng, hộ
gia đình và cá nhân. Nó cung cấp những hướng dẫn và công cụ
cho nghiên cứu, phân tích và học hỏi có sự tham gia. Nó cũng tính
đến vai trò của các cơ quan và chính sách quốc gia và địa phương
trong thực hiện hoạt động thích ứng. (CARE International, 2010)
Ngoài ra, Hannah Reid và cộng sự (2009) cũng sử dụng phương
hưởng này.
Các nghiên cứu nêu trên đã phần nào khái quát tình hình
nghiên cứu trên thế giới về tính dễ bị tổn thương và năng lực
thích ứng với biến đổi khí hậu và nổi bật lên các vấn đề sau:
Tính dễ bị tổn thương bao gồm các yếu tố: Xã hội (nghèo đói,
bất bình đẳng, mù chữ…. ), lý sinh (sức khỏe và dinh dưỡng), sinh
thái học và kinh tế;
- Các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp dựa vào cộng đồng,
dựa vào các kịch bản, phương pháp tiếp cận từ trên xuống để
nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với
BĐKH;
- Nông nghiệp và hộ nghèo bị ảnh hưởng rất lớn bởi biến đổi khí
hậu;
- Lồng ghép thích ứng với BĐKH trong hoạch định chính sách và
lâp kế hoạch;
Thông qua các nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề thích ứng với biến
đổi khí hậu mà trực tiếp tác động là thời tiết cực đoan (hạn hán,
mưa lũ, rét đậm, rét hại ) tới đảm bảo sinh kế của hộ nghèo còn
được đề cập rất ít và nếu có chỉ là các khía cạnh riêng rẽ như cộng
đồng nghèo, nông nghiệp Với nghiên cứu tính dễ bị tổn thương
và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu tập trung vào các hiện
tƣợng thời tiết cực đoan và sinh kế dựa vào nông nghiệp của
các hộ nghèo miền núi sẽ bổ xung thêm các nghiên cứu nói trên.
1.3. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Trong bối cảnh BĐKH ngày càng mạnh mẽ như hiện nay,
Việt Nam đã và đang tích cực chống lại biến đổi khí hậu với các
hoạt động, dự án trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: Nông
nghiệp, giao thông, thủy lợi… với nhiều cơ quan chuyên môn
cũng như các tổ chức quốc tế nghiên cứu và triển khai trong
những năm qua.
như thế nào với hạn hán và thay đổi khí hậu, chính quyền địa
phương và các tổ chức phi chính phủ làm sao để có thể đối phó
với thảm họa từ thiên nhiên, đặc biệt đối với hạn hán.(Oxfam
Việt Nam, 2010).
Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
Tổ chức CARE International nghiên cứu sự thích ứng với
BĐKH dựa vào cộng đồng trong đó đề cập tới tác động của
BĐKH tới an ninh lương thực và thu nhập của người dân, nước
sinh hoạt, sức khỏe và di dân. Nghiên cứu cho thấy người nghèo
và người dân vùng ven biển bị ảnh hưởng nhiều nhất. Nghiên
cứu ở Thanh Hóa cho thấy rằng các hiện tượng thời tiết cực
đoan: hạn hán, ngập lụt, thay đổi mùa đã tác động tới sản xuất
nông nghiệp làm cho thiếu đói, gia cầm, khai thác thủy sản bị
ảnh hưởng (Morten Fauerby Thomsen, 2010, CARE
International).
Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông thôn (CSRD)
(Lâm Thị Thu Sửu và nnk, 2010) nghiên cứu thích ứng biến đổi
khí hậu dựa vào cộng đồng tại khu vực sông Hương, tỉnh Thừa
Thiên Huế tập trung vào:
- Tìm hiểu những biện pháp thích ứng mà người dân địa
phương và nhiều tổ chức đã thực hiện;
- Xác định các biện pháp thích ứng chính liên quan đến quản lý
nguồn nước;
- Lựa chọn những giải pháp thích ứng hiệu quả cụ thể để hỗ trợ
trực tiếp và làm đầu vào cho các kế hoạch địa phương.
Hiện nay, có khoảng 70 tổ chức tại Việt Nam tham gia nghiên
cứu và thực thiện liên quan tới “tính dễ bị tổn thương và năng
lực thích ứng với biến đổi khí hậu” tập chung vào các vấn đề
như: BĐKH và Nông nghiệp bền vững, Biển và Ven biển với
BĐKH, Sức khỏe cộng đồng và BĐKH, Tài nguyên môi trường
2.1. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành chủ yếu trong giai đoạn từ
tháng 04 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu tại xã Tây Phong huyện Cao Phong Tỉnh
Hòa Bình.
2.2.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình có tọa độ
địa lý 20
0
40’55’’ vĩ độ bắc và 105
0
17’44’’ kinh độ đông, phía
Bắc giáp thị trấn Cao Phong và xã Bắc Phong, phía Đông giáp
xã Dũng Phong, phía Nam giáp xã Nam Phong, phía Tây giáp
huyện Tân Lạc. Từ năm 2003 kể về trước, xã Tây Phong thuộc
huyện Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình, nay thuộc huyện Cao Phong sau
khi huyện Kỳ Sơn được tách thành 2 huyện Cao Phong và Kỳ
Sơn.
Đặc điểm địa hình
Với diện tích tự nhiên là 2246 ha, Xã Tây Phong có đặc
điểm địa hình khá đặc trưng của vùng miền núi, phần lớn diện
tích là đồi thấp và núi đá vôi, diện tích đất nông nghiệp và đất ở
chiếm tỷ lệ ít khoảng 12 % tổng diện tích. Theo đặc điểm địa
hình xã chia làm 2 vùng khá rõ rệt: vùng giáp núi đá gồm các
xóm Chao, Khạ, Đồi, Nếp và Lãi.
Đặc điểm khí hậu
Xã Tây Phong nằm tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Bắc Bộ
và Tây Bắc Bộ chính vì vậy khí hậu của xã Tây Phong có đặc
xã Tây Phong, 2009).
2.3. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp luận
Sau khi xem xét các phương pháp nghiên cứu tính dễ bị tổn
thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của các cơ
quan, tổ chức trong và ngoài nước. Chúng tôi thấy rằng phương
pháp “phân tích tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng
dựa vào cộng đồng” của Tổ chức CARE Intenational kết hợp với
khung sinh kế bền vững SLF là phù hợp với điều kiện và hoàn
cảnh nghiên cứu này.
Phƣơng pháp phân thích tính dễ bị tổn thƣơng và
năng lực thích ứng dựa vào cộng đồng (CVCA).
Khái niệm: CVCA là một phương pháp luận để thu thập, tổ
chức và phân tích thông tin về khả năng bị tổn thương và năng lực
thích ứng của cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân. Nó cung cấp
những hướng dẫn và công cụ cho nghiên cứu, phân tích và học hỏi
có sự tham gia. Nó cũng tính đến vai trò của các cơ quan và chính
sách quốc gia và địa phương trong thực hiện hoạt động thích ứng.
(CARE International, 2010).
CVCA tập trung vào mức độ cộng đồng nhưng kết hợp
phân tích những vấn đề ở cấp độ vùng và quốc gia trong một nỗ
lực để thúc đẩy một môi trường hỗ trợ cho sự thích ứng dựa vào
cộng đồng.
Khung sinh kế bền vững (SLF).
SLF là chữ viết tắt của Sustainable Livelihoods
Framework (Khung Sinh kế Bền vững) do Bộ Phát triển Hải
ngoại Anh Quốc – DFID (Department For International
Development, 2001) phát triển, đã nêu lên những yếu tố chính
ảnh hưởng đến sinh kế người dân.
DFID sử dụng định nghĩa sinh kế bền vững như sau:
Physical capital (S): Nguồn vốn vật
chất
Khung SLF là một công cụ giúp hiểu về sinh kế, mục đích áp
dụng khung sinh kế bao gồm:
- Mục đích chung nhất của khung SLF là giảm nghèo;
- Hiểu rõ hơn về tất cả các khía cạnh của vấn đề nghèo;
S
H
N
F
P
Tiến trình thay
đổi cơ cấu
Cơ cấu
- Các cấp chính
quyền
- Đơn vị tư
nhân
Tiến trình
- Luật Pháp
- Chính sách
- Văn hóa
- Thể chế tổ
chức
Phạm vi có
thể bị tổn
thương
- Các cú sốc
- Các xu
S
H
N
F
P
ảnh
hưởn
g 2
chiều
Tài sản sinh kế
- Giúp định ra các ưu tiên hành động;
- Giúp tìm ra chiến lược sinh kế phù hợp;
- Sử dụng khung sinh kế bền vững trong quá trình đánh giá tính
dễ bị tổn thương.
Cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo cần kết hợp cả năm loại vốn để
cải thiện chất lượng cuộc sống. Chỉ một loại vốn không thì có thể
không đủ để tạo ra sinh kế bền vững nhưng không phải là phải cần
tất cả các loại vốn với mức độ như nhau.
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp kế thừa tài liệu: Phương pháp kế thừa tài
liệu được sử dụng trong nghiên cứu nhằm thu thập các thông tin
từ các nguồn tài liệu sẵn có như: Sách, báo, luận văn trước, các
báo cáo…
Các loại số liệu cần thu thập
- Số liệu quan trắc: các chỉ số quan trắc cần thu thập để
phục vụ nghiên cứu trong luân văn được thể hiện trong bảng sau
Bảng 2.1: Bảng chỉ số cần thu thập
Các chỉ số cần thu
thập
hại từ 1985 đến nay
Trung tâm quan
trắc TP Hòa
Bình
Số tháng có lượng
mưa <150mm,
<500mm, 1000mm từ
Biết được diễn biến
các tháng có lượng
mưa ít (hạn hán)
trong năm từ 1985
Trung tâm quan
trắc TP Hòa
Bình
1985 đến nay
đến nay
- Các hiện tượng khí hậu cực đoan: Mưa lũ, hạn hán, rét đậm, rét hại,
nắng nóng
Để có được các thông tin về các loại khí hậu cực đoan, chúng
tôi thu thập số liệu từ 2 nguồn chính:
i) Nguồn thứ 1: Từ bác báo cáo phòng chống bão lũ hàng năm
của huyện Cao Phong và báo cáo thực hiện nhiệm vụ phát triển
kinh tế xã hội hàng năm của xã Tây Phong 5 năm trở lại đây
ii) Nguồn thứ 2: Tổng hợp kết quả điều tra thực địa tại cộng
đồng (biểu đồ lịch sử, bản đồ thiên tai)
- Số liệu về số hộ nghèo, thu nhập bình quân, các nguồn sinh kế
của cộng đồng và hộ nghèo. Chúng tôi thu thập từ các báo cáo
thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội hàng năm của xã
Tây Phong các năm 2008, 2009, 2010 và tổng hợp kết quả
phỏng vấn hộ dân.
Cách thức phỏng vấn: i) Đối với Trưởng phòng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn huyện (Phó ban phòng chống lũ
bão huyện), Chủ tịch UBND xã Tây Phong, chúng tôi tiến hành
phỏng vấn trực tiếp bằng các bảng hỏi (phụ lục 4). ii) Đối với
các thành viên còn lại được mời tới UBND xã Tây Phong để
phỏng vấn trực tiếp theo danh mục câu hỏi (phụ lục 5).
Phương pháp phân tích thông tin
Để tổng hợp và phân tích thông tin chúng tôi đã sử dụng các
pháp và công cụ theo bảng sau:
Bảng 2.2: Phƣơng pháp/các công cụ phân tích trong nghiên cứu
Phƣơng
pháp/công
cụ phân
tích thông
tin
Mục đích sử
dụng
Cách làm
Đối tƣợng
tham gia
Phương
pháp
thống kê
đơn giản,
số trung
bình
Để tổng hợp
số liệu như
nhiệt độ,
lượng mưa
bảng theo hướng
dẫn
- Tại các xóm: Các
hộ dân được chia
làm 3 nhóm ngẫu
nhiên, các hộ thảo
luận và điền thông
tin vào bảng có sẵn
(sau khi có kết quả
tại xã biểu đồ lịch
sử được so sánh
với với biểu đồ
của các hộ dân nếu
có khác nhau cần
kiểm tra lại thông
tin)
Cán bộ phụ
nữ, hội nông
dân, cán bộ
địa chính, 10
trưởng xóm,
hộ dân
Lịch mùa
vụ
Để thu thập
thời gian gieo
trồng của lúa,
mía, cây vụ
đông
Làm như biểu đồ
mạnh, điểm
yếu của chính
quyền địa
phương, cộng
đồng, hộ
nghèo trong
việc thích với
các hiện tượng
khí hậu cực
đoan
Sử dụng câu hỏi
mở để phỏng vấn
các hộ và cán bộ
địa phương về
điểm mạnh, điểm
yếu trong kinh
nghiệm thích ứng
với các hiện tượng
khí hậu cực đoan
Cán bộ phụ
nữ, hội nông
dân, cán bộ
địa chính, 10
trưởng xóm,
hộ dân
Các khó khăn trong quá trình thực hiện nghiên cứu
- Số liệu trong báo cáo của xã, huyện có chỗ chưa thống nhất, thiếu thông tin, đặc biệt là
các hiện tượng khí hậu cực đoan
- Nghiên cứu còn thiếu thời gian, nguồn lực…
- Tiếp cận nguồn thông tin còn hạn chế
nhiệt độ trung bình hàng
năm
(Nguồn: Trung tâm khí tượng
thủy văn TP Hòa Bình)
Qua Hình 3.1, cho thấy nhiệt độ trung bình năm trong 25 năm qua có những biến động
tăng dần qua từng năm giao động từ 22,50C đến 24,50C. Phương trình biểu diễn nhiệt độ
trung bình hàng năm (từ 1985 đến nay) như sau
y = 0.0228x + 23.451 (R
2
= 0.1478)
Qua phương trình và đồ thị cho thấy, sự biến động của nhiệt độ trung bình năm tại
thành phố Hòa Bình phù hợp với xu thế biến động nhiệt độ trung bình năm của 90 năm
(1990 -2001) tại vùng Tây Bắc của Nguyễn Đức Ngữ (2008)
Tần suất xuất hiện nhiệt độ cao trên 39
0
C - 40
0
C là 12 lần/26 năm đặc biệt từ năm
2005 đến nay xuất hiện nhiều hơn. Nhiệt độ thấp nhất dưới 10
0
C hầu như năm nào cũng
xuất hiện 24lần/26 năm, nhiệt độ thấp này có ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng phát triển
của cây trồng vật nuôi.
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), nhiệt độ có tác dụng đến tốc độ sinh trưởng của cây
lúa nhanh hay chậm, tốt hay xấu. Trong phạm vi giới hạn (20-30
0
C), nhiệt độ càng tăng
cây lúa phát triển càng mạnh. Nhiệt độ trên 40
0
Qua Hình 3.2 và Hình 3.3 thấy rằng, số ngày rét đậm rét hại có diễn biến tăng dần
với cường độ khắc nghiệt hơn, phương trình diễn số ngày có nhiệt độ <150C có dạng:
y = 0.8497x + 4.2273 (R2 = 0.3508)
y = 0.0228x + 23.451
R
2
= 0.1478
21.5
22.0
22.5
23.0
23.5
24.0
24.5
25.0
1985
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
Năm
Số ngày
Số ngày có nhiệt độ <15 độ C Linear (Số ngày có nhiệt độ <15 độ C)
y = 0.4545x + 2.2121
R
2
= 0.1721
0
2
4
6
8
10
12
14
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
Hình 3.5: Đồ thị biểu diễn số
tháng có lƣợng mƣa <150
mm
(Nguồn: Trung tâm khí tượng
thủy văn TP Hòa Bình) Qua Hình 3.5 cho thấy, số tháng có lượng mưa thấp hơn 150 mm tăng rõ rệt qua các năm
diễn biến tăng dần các tháng được thể hiện qua phương trình:
y = 0.0274x + 2.3231 (R2 = 0.0508)
Qua kết quả này cho thấy rằng, tình hình hạn hán ở đây có chiều hướng tăng lên cả về
thời gian và cường độ, kết quả này cũng phù hợp với kết quả điều tra thực địa tại xã Tây
Phong nó làm thay đổi lịch thời vụ, thay đổi cơ cấu cây trồng, ảnh hưởng năng suất, chất
lượng, diện tích cây trồng như cây lúa, nó tác động mạnh mẽ tới nguồn sinh kế của cộng
đồng đặc biệt là hộ nghèo là hộ dễ bị tổn thương.
3.1.2. Các hiện tượng khí hậu cực đoan
Thông qua khảo sát tại cộng đồng kết hợp với thu thập số liệu từ các báo cáo phát triển
kinh tế xã hội của xã Tây Phong và báo cáo phòng chống bão lũ của huyện Cao Phong (từ
năm 2004 đến nay) thấy rằng, các hiện tượng khí hậu cực đoan do tác động của biến đổi
khí hậu ở đây chủ yếu là các hiện tượng mưa lũ, hạn hán, rét đậm rét hại và mưa đá. Các
hiện tượng này có những biến đổi bất thường có nhiều thay đổi, chúng tác động không nhỏ
tới sinh kế của người dân đặc biệt là hộ nghèo. Hạn hán là hiện tượng khí hậu cực đoan gây
y = 2.881x + 1777.4
R
2
= 0.004
0
500
1000
1500
3
3.5
4
4.5
1985
1987
1989
1991
1993
1995
1997
1999
2001
2003
2005
2007
2009
Năm
Số tháng
Số tháng có lượng mưa <150 mm Linear (Số tháng có lượng mưa <150 mm)
hại lớn nhất với tần suất tăng hơn so với 5 năm trước 2-4 lần/năm tiếp đó là mưa lũ với 1- 3
lần/năm. Bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia và sử dụng công cụ
biểu đồ lịch sử kết hợp với phỏng vấn bán cấu trúc, chúng tôi đã tìm hiểu về các hiện tượng
khí hậu cực đoan trong thời gian là 25 năm qua và các tác động của chúng tới cộng đồng
đặc biệt là hộ nghèo
Qua kết quả nghiên cứu tại cộng đồng kết hợp với kết quả phân tích số liệu quan trắc
cho thấy các hiện tượng khí hậu cực đoan ở đây chủ yếu là hạn hán, rét đậm rét hại và mưa
lũ, chúng xuất hiện nhiều hơn, khắc nghiệt hơn ảnh hưởng tới cộng đồng đặc biệt là hộ
nghèo như: năng suất cây trồng giảm, gia súc chết rét dẫn tới số tháng thiếu ăn tăng lên.
3.2. Các nguồn sinh kế của cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo
%
5
10
o Mía
%
53
50
o Khác
%
2
0
Chăn nuôi
%
20
10
o Chăn nuôi
lợn
%
13
7
o Chăn nuôi
gia cầm
%
5
3
o Chăn nuôi
gia súc
%
2
0
Mƣa lũ
Rét đậm, rét
hại
Mức
độ tác
động
Các
tác động
Mức
độ
tác
động
Các
tác động
Mức
độ tác
động
Các
tác
động
Lúa
Mức
độ cao
Giảm diện tích
lúa
- Giảm năng
suất
- Sâu bệnh
tăng
Mức độ
Làm chết mía
ở giai đoạn
trồng
Mức độ
cao
Mất
trắng
Giảm
năng suất
Mức
độ
trung
bình
Tăng
chi
phí
CN
lợn
Mức
độ thấp
Mức độ
thấp
Mức
độ
trung
bình
CN
là mức làm mất trắng 1000 m
2
/năm/hộ trở lên, giảm diện tích, giảm năng suất từ 30% trở
lên đối với cây trồng, làm chết 2 con trâu trở lên/năm/hộ đối với vật nuôi. Mức độ tác
động trung bình là mức làm mất trắng từ 200-1000 m
2
/năm/hộ, giảm diện tích, giảm năng
suất từ 20-30% đối với cây trồng, làm chết 1 con trâu/năm/hộ đối với vật nuôi. Mức độ
tác động thấp là mức làm mất trắng dưới 200 m
2
/năm/hộ, giảm diện tích, giảm năng suất
dưới 10% đối với cây trồng. Qua bảng trên ta thấy rằng, hạn hán và mưa lũ là hai hiện
tượng khí hậu cực đoan tác động lớn nhất tới sinh kế của hộ nghèo. Hạn hán tác động tới
trồng lúa ở mức độ cao làm giảm năng suất, giảm diện tích, góp phần gia tăng sâu bệnh.
Đối với ngô và mía, hạn hán tác động ở mức trung bình làm giảm năng suất đối với ngô,
làm chết mía ở giai đoạn trồng. Đối với chăn nuôi, tác động là không đáng kể. Mưa lũ
cũng tác động rất lớn tới cây trồng đặc biệt là lúa và mía, chúng làm mất trắng, giảm
năng suất, giảm giá trị. Đối với chăn nuôi, mưa lũ chỉ có tác động rất nhỏ. Bên cạnh hạn
hán và mưa lũ, rét đậm rét hại cũng tác động rất lớn tới sản xuất nông nghiệp của hộ dân
trong đó chăn nuôi làm chết rất nhiều gia súc lớn, trồng lúa và trồng mía bị tác động ở
mức trung bình cụ thể làm tăng chi phí đầu vào sản suất như gieo mạ nhiều lần, trồng lại
mía…
Không những gây thiệt hại trực tiếp tới nguồn thu nhập của bà con, các hiện tượng khí
hậu cực đoan còn tác động tới tập quán canh tác, thay đổi lịch thời vụ ảnh hưởng không
nhỏ tới năng suất, chất lượng cây trồng. Qua điều tra cho thấy trong những năm trở lại
đây lịch thời vụ bị dịch chuyển do các hiện tượng khí hậu đặc biệt là hạn hán từ 1 – 1,5
tháng. Sự dịch chuyển này là rất bất lợi cho cây trồng đặc biệt là trồng lúa, nó làm giảm
năng suất, gia tăng sâu bệnh…Điều đặc biệt hơn nữa là bà con bị mất một vụ đông do
không thể cấy sớm hơn dự kiến, như vậy thu nhập của bà con giảm xuống rõ rệt (ước tính
khoảng 20% thu nhập so với trước đó).
tượng chịu tác động lớn nhất bởi những hiện tượng khí hậu cực đoan và được thể hệ qua
bảng sau:
Bảng 3.3: Bảng xếp hạng loại hộ bị ảnh hƣởng bởi các hiện tƣợng khí hậu cực đoan
Loại hộ
Khá
Trung bình
Nghèo
Xếp hạng
3
2
1
(Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực địa xã Tây Phong, 2011)
Qua bảng trên cho thấy, hộ nghèo bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các hiện tượng khí hậu cực
đoan tương ứng với số 1, các hộ trung bình bị ảnh hưởng ít hơn tương ứng với số 2, các hộ khá
bị ảnh hưởng ít nhất tương ứng với số 3.
Bằng phương pháp vẽ bản đồ và phương pháp cho điểm đánh giá mức độ tổn thương
do tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu thấy
rằng, các xóm có tỷ lệ hộ nghèo cao cũng là những nơi bị ảnh hưởng lớn do các hiện
tượng khí hậu cực đoan, duy chỉ có 2 xóm Chao và xóm Khạ có tỷ lệ hộ nghèo cao mà
không bị ảnh hưởng nhiều do các hiện tượng khí hậu cực đoan. Qua khảo sát thực tế thấy
rằng, 2 xóm này có địa hình cao, giáp với núi đá nên diện tích trồng trọt ít và gần nguồn
nước hơn, ít bị ảnh hưởng bởi hạn hán và mưa lũ.
3.4. Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu
3.4.1 Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của chính quyền địa phương
Hiện nay, tỉnh Hòa Bình nói chung, huyện Cao Phong nói riêng chưa có bộ phận phụ
trách việc phòng chống hay thích ứng với BĐKH mà các hoạt động dựa vào ban phòng
chống lũ bão ở các cấp từ tỉnh tới xã.
Năng lực nhân lực:
Cấp huyện: Chủ tịch UBND huyện là Trưởng ban phòng chống bão lũ huyện, Phó ban
là các phó chủ tịch UBND huyện và Trưởng phòng NN&PTNT là phó ban trường trực,