ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
––––––––––––
TRẦN THỊ HÒA
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP LỒNG GHÉP XÁC LẬP MÔ HÌNH
THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CẤP CỘNG ĐỒNG TRONG
ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI - 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
HÀ NỘI - 2014 LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ Biến đổi khí hậu, tôi xin cảm ơn
chân thành tới Hội đồng chấm luận văn Thạc sỹ bao gồm Chủ tịch Hội đồng, các
Thành viên tham gia Hội đồng đã có những góp ý rất sát thực về mặt khoa học để tôi
có cơ hội chỉnh sửa và hoàn thiện luận văn của mình hơn.
Tôi biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn An Thịnh, thầy giáo đã hướng dẫn nhiệt
tình, chu đáo, động viên và khuyến khích tôi hoàn thành tốt luận văn.
Tôi cảm ơn Khoa Sau đại học, đơn vị đào tạo chương trình thạc sỹ chuyên
ngành Biến đổi khí hậu cùng toàn thể các Thầy, Cô đã tham gia giảng dạy và truyền
đạt kiến thức khoa học, làm nền tảng cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và
thực hiện luận văn.
Tôi biết ơn sự ủng hộ nhiệt tình đặc biệt của gia đình, cơ quan, đồng nghiệp và
bạn bè đã tạo điều kiện tốt nhất có thể trong quá trình học tập và rèn luyện khi tham
gia khóa học này.
Hà Nội, ngày tháng 8 năm 2014
1.2.3. Nội dung lồng ghép xác lập mô hình thích ứng biến đổi khí hậu cấp cộng
đồng trong quy hoạch sử dụng đất cho một lãnh thổ ven biển cấp huyện 22
1.3. PHƯƠNG PHÁP VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU THỰC HIỆN LUẬN VĂN 25
1.3.1. Phương pháp nghiên cứu 25
1.3.2. Cơ sở dữ liệu thực hiện đề tài 26
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI HUYỆN TIỀN HẢI 28
2.1. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ
KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN TIỀN HẢI 28
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 28
2.1.2. Tài nguyên thiên nhiên 29
2.1.3. Thực trạng kinh tế xã hội 32
2.2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TẠI
HUYỆN TIỀN HẢI 34
2.2.1. Thực trạng sử dụng đất giai đoạn 2000 - 2010 34
2.2.2. Quy hoạch sử dụng đất huyện Tiền Hải đến 2020 41 ii 2.3. ĐẶC TRƯNG VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI
HUYỆN TIỀN HẢI 52
2.3.1. Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng 52
2.3.2. Biểu hiện và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu những năm gần đây 55
2.4. PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI SỬ DỤNG ĐẤT
VÀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN TIỀN HẢI 58
2.4.1. Phân tích hiệu quả của sử dụng đất, quy hoạch sử dụng đất 58
2.4.2. Dự tính các tác động của biến đổi khí hậu tới sử dụng đất và quy hoạch sử
dụng đất 60
Bảng 2.2. Diện tích và cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 38
Bảng 2.3. Biến động các loại đất huyện Tiền Hải giai đoạn 2000 - 2010 39
Bảng 2.4. Dự kiến cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 46
Bảng 2.5. Diện tích đất ở đến năm 2020 (ha) 49
Bảng 2.6. Dự kiến cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp đến năm 2020 (ha) 50
Bảng 2.7. Diện tích đất mặt nước ven biển đến năm 2020 (ha) 52
Bảng 2.8. Diện tích đất chưa sử dụng đến năm 2020 (ha) 52
Bảng 2.9. Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải thấp (cm) 55
Bảng 2.10. Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình (cm) 55
Bảng 2.11. Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao (cm) 55
Bảng 2.12. Thống kê các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiệntại tỉnh Thái Bình 58
Bảng 2.13. Thống kê các tác động của biến đổi khí hậu tới sử dụng tài nguyên đất
tại huyện Tiền Hải 62
Bảng 3.1. Khung phân tích SWOT cho các tiểu vùng chức năng huyện Tiền Hải 66
Bảng 3.2. Tổng hợp các mô hình hiện trạng tại huyện Tiền Hải và những thách
thức do biến đổi khí hậu và nước biển dâng 75
Hình 2.4 Kịch bản về BĐKH cho tỉnh Thái Bình mùa hè 54
Hình 2.5 . Kịch bản về BĐKH cho tỉnh Thái Bình mùa thu 54
Hình 2.6. Kịch bản về BĐKH cho tỉnh Thái Bình mùa đông 54
Hình 2.7. Kịch bản về lượng mưa tại tỉnh Thái Bình 54
Hình 2.8. Diễn biến nhiệt độ tháng I và tháng VII ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 1960 - 2010 56
Hình 2.9. Diễn biến nhiệt độ trung bình năm ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 1960 – 2010 56
Hình 2.10. Diễn biến tổng lượng mưa năm ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 1960 – 2010 . 57
Hình 3.1. Bản đồ phân vùng chức năng huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Error!
Bookmark not defined.
Hình 3.2. Bản đồ định hướng quy hoạch sử dụng đất lồng ghép thích ứng biến đổi khí
hậu huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 91
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đến đời
sống, sản xuất và môi trường trên toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, nước biển dâng gây
ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối
với công nghiệp và các hệ thống kinh tế xã hội. Trong bản báo cáo công bố ngày
đất đến năm 2020 của huyện Tiền Hải đã được xây dựng, tuy nhiên, vấn đề phòng
tránh thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu chưa được quan tâm trong bản quy hoạch
này. Do đó, nghiên cứu và đánh giá đúng về thực trạng sử dụng, quản lý tài nguyên đất
trong định hướng quy hoạch sử dụng đất của huyện với mục tiêu thích ứng với biến
đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững hiện nay là cần thiết khách
quan, từ đó cung cấp cơ sở để đề xuất định hướng và các giải pháp thích ứng biến đổi
khí hậu trong quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và tầm nhìn xa hơn.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên, đề tài luận văn “Nghiên cứu, đề xuất
giải pháp lồng ghép xác lập mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu cấp cộng đồng
trong định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình” đã được
lựa chọn nghiên cứu và hoàn thành.
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
a) Mục tiêu
Đề tài đặt ra mục tiêu là “Xác lập các luận cứ khoa học về thực trạng sử dụng
đất, nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp định hướng lồng
ghép thích ứng biến đổi khí hậu trong quy hoạch sử dụng đất tại huyện Tiền Hải”.
b) Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu sau cần được giải quyết:
- Tổng quan các tài liệu nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước.
- Thu thập các tài liệu, số liệu về tình hình sử dụng đất tại địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng sử dụng đất tại huyện
Tiền Hải.
- Điều tra, phân tích khả năng thích ứng của chính quyền địa phương, người dân
và các mô hình sản xuất điển hình trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
- Lồng ghép các giải pháp thích ứng và xác lập mô hình thích ứng với biến đổi
khí hậu cấp cộng đồng trong định hướng quy hoạch sử dụng đất tại huyện Tiền Hải.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a) Phạm vi không gian
4
- Chương 1. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu lồng ghép xác lập các
giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu trong quy hoạch sử dụng đất cấp huyện.
- Chương 2. Phân tích hiện trạng, quy hoạch sử dụng đất và ảnh hưởng của biến
đổi khí hậu tại huyện Tiền Hải.
- Chương 3. Phân tích khả năng thích ứng của các mô hình hiện trạng và đề
xuất giải pháp quy hoạch lồng ghép thích ứng biến đổi khí hậu tại huyện Tiền Hải. 5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
LỒNG GHÉP XÁC LẬP CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU TRONG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT CẤP HUYỆN
1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1. Các công trình nghiên cứu quy hoạch lồng ghép thích ứng biến đổi khí hậu
Thích ứng biến đổi khí hậu được Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu
(IPCC, 2007) đề cập tới như là “ hành động bảo vệ sinh kế và đời sống, duy trì sức
khỏe cộng đồng, duy trì nền kinh tế và các nguồn lực, ngăn chặn suy thoái môi
trường”. Những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới quan
tâm tới vấn đề này, đặc biệt chú trọng tới lồng ghép thích ứng biến đổi khí hậu trong
quy hoạch - một giải pháp định hướng không gian trong giảm thiểu tác hại của biến
đổi khí hậu tới sản xuất, cơ sở hạ tầng, Năm 2010, Kithiia và Dowling đã thực hiện
một nghiên cứu quy hoạch đô thị lồng ghép thích ứng biến đổi khí hậu tại Kenya. Năm
2012, Ko và Chang nghiên cứu phát triển mô hình MOPSD lồng ghép thích ứng biến
đổi khí hậu trong quy hoạch không gian phục vụ ra quyết định phát triển bền vững
vùng ven biển. Năm 2013, Celliers và cộng sự đã nghiên cứu lồng ghép thích ứng
(OXFAM Hồng Kông, 2011); lồng ghép biến đổi khí hậu vào xây dựng, thực hiện
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án phát triển ngành nông
nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011-2015 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, 2011), các vấn đề khoa học và thực tiễn trong định hướng sử dụng đất và
quy hoạch sử dụng đất lồng ghép (Trường Đại học Thủy lợi), sự cần thiết đưa yếu tố
môi trường vào quy trình quy hoạch sử dụng đất đai (Nguyễn Thị Vòng và cộng sự,
2010), đặc trưng của một số yếu tố bảo vệ môi trường trong định hướng quy hoạch sử
dụng đất huyện Sóc Sơn (Vũ Sỹ Kiên và Nguyễn Thị Vòng, 2012).
1.1.2. Các công trình nghiên cứu xác lập mô hình thích ứng biến đổi khí hậu
Một hướng nghiên cứu được đề cập nhiều trong thời gian gần đây là xác lập và
phát triển các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa trên hệ sinh thái
(Ecosystem-based Adaptation - EbA). Hướng này tích hợp quá trình sử dụng đa dạng
sinh học và các dịch vụ của hệ sinh thái thành một chiến lược tổng thể giúp cho người
dân thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu. Quá trình này bao gồm
quản lý bền vững, bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái nhằm cung cấp đầy đủ dịch vụ
giúp con người thích ứng tốt với những thay đổi khí hậu hiện thời và quá trình biến đổi
khí hậu trong tương lai. Các mô hình thích ứng dựa trên hệ sinh thái góp phần giảm
thiểu tình trạng dễ bị tổn thương cũng như tăng khả năng phục hồi sau khi bị tác động
bởi biến đổi khí hậu, nhưng vẫn đảm bảo cung cấp lợi ích cho xã hội và môi trường. 7
Dựa trên hệ sinh thái, tính thích ứng thường hiệu quả hơn phương thức vật lý kỹ thuật
với giá thành thường thấp và tính thích ứng được duy trì lâu dài.
Một số mô hình điển hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa trên hệ sinh thái
trên thế giới đã được ứng dụng và thu được hiệu quả cao. Tengo và Belfrage (2004) đã
nghiên cứu sự hình thành mạng lưới liên kết các hộ nông dân nhỏ tại Roslagen (Thụy
Điển) nhằm duy trì sản xuất nông nghiệp theo mô hình trang trại thích ứng với thay
đổi khí hậu tích hợp điều chỉnh hệ sinh thái nhằm đảm bảo tính đa dạng sinh học của
phủ đã công bố Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu theo
Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Từ đó cho tới nay, rất
nhiều mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu đã được lựa chọn và áp dụng.
Trong nông nghiệp, mô hình hệ thống thâm canh lúa cải tiến (System of Rice
Intensification - SRI) thử nghiệm cho 6 tỉnh và thành phố là Hà Nội, Yên Bái, Phú
Thọ, Thái Nguyên, Nghệ An và Hà Tĩnh đã cho thấy rất nhiều hiệu quả: (i) giải quyết
tình trạng lạm dụng phân đạm làm giảm khả năng chống chịu của cây lúa, từ đó dễ bị
sâu bệnh tấn công và ảnh hưởng tới chất lượng đất khi lượng phân dư thừa; (ii) sử
dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật làm tăng khả năng kháng thuốc của sâu bệnh;
(iii) đáp ứng được tình hình diễn biễn phức tạp của biến đổi khí hậu như các hiện
tượng bão lũ, hạn hán xảy ra ngày càng thường xuyên với cường độ lớn, gây ra nhiều
thiệt hại cho mùa màng; (iv) giải quyết vấn đề khan hiếm nguồn nước cho sinh hoạt và
sản xuất. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa việc triển khai cùng lúc nhiều kỹ thuật khác nhau
tại cùng thời điểm cũng như chưa có chiến lược cải tạo đất cụ thể khiến cho phương
pháp vẫn chưa chứng minh được tính hiệu quả của dự án.
Một dạng mô hình truyền thống và phổ biến ở vùng nông thôn Việt Nam là mô
hình Vườn - Ao - Chuồng (VAC) cũng được đánh giá là có khả năng thích ứng tốt với
biến đổi khí hậu. Mô hình này được coi là một mô hình kinh tế sinh thái có tính ưu việt
về khả năng tự cung tự cấp hiệu quả, khả năng chống chịu và phục hồi nhanh trước
những tác động của biến đổi khí hậu. Mô hình VAC được Hội Người Làm Vườn Việt
Nam khởi xướng từ những năm 1986 và cho đến nay vẫn đang được nhiều tổ chức, cá
nhân áp dụng. Về cơ bản mô hình bao gồm 3 yếu tố là vườn (V), ao (A), chuồng (C).
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và nhu cầu của từng địa phương, những biến thể của
mô hình đã được sáng tạo và áp dụng vào thực tiễn như mô hình VACR (Vườn - Ao -
Chuồng - Rừng), VACB (Vườn - Ao - Chuồng - Biogas), hoặc mô hình trồng trọt kết
hợp thủy sản như Lúa - Cá, Lúa - Tôm. Bên cạnh đó, mô hình Làng Sinh thái do Viện
Kinh tế Sinh thái nghiên cứu và triển khai từ những năm 1990 cũng là một dạng mô
hình VAC, góp phần phần giải quyết những yêu cầu cần thiết cho phát triển bền vững
tại các khu vực sinh thái nhạy cảm thông qua việc kết hợp các thành phần trồng trọt,
đất đáp ứng được các tiêu chí của phát triển bền vững, bao gồm kinh tế, xã hội, môi
trường, văn hóa và quản trị (Nguyễn An Thịnh, 2014). Theo Dent (1988, 1993), quy
hoạch sử dụng đất là phương tiện giúp cho nhà quản lý quyết định cách thức sử dụng
đất đai thông qua đánh giá có hệ thống cho lựa chọn mô hình sử dụng đất đai, mà 10
trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và từ đó hình thành
nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai. Một định nghĩa khác của Fresco
và cộng sự (1992), quy hoạch sử dụng đất là một hình thức của quy hoạch vùng, trực
tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục
tiêu, và những cơ hội về môi trường, xã hội và những vấn đề hạn chế khác. Theo
Mohammed (1999), quy hoạch sử dụng đất chú trọng tới tiến trình xây dựng quyết
định cấp cao.
Trong phương pháp tổng hợp và người sử dụng đất đai là trung tâm, quy hoạch
sử dụng đất được quan niệm: " là một tiến trình xây dựng những quyết định để đưa
đến những hành động trong việc phân chia đất đai cho sử dụng để cung cấp những cái
có lợi bền vững nhất” (FAO, 1995). Với cái nhìn về quan điểm khả năng bền vững thì
chức năng của Quy hoạch sử dụng đất là hướng dẫn sự quyết định trong sử dụng đất
đai để làm sao trong nguồn tài nguyên đó được khai thác có lợi cho con người, nhưng
đồng thời cũng được bảo vệ cho tương lai. Cung cấp những thông tin tốt liên quan đến
nhu cầu và sự chấp nhận của người dân, tiềm năng thực tại của nguồn tài nguyên và
những tác động đến môi trường có thể có của những sự lựa chọn là một yêu cầu đầu
tiên cho tiến trình quy hoạch sử dụng đất đai thành công.
Trong quy hoạch sử dụng đất, đánh giá đất đai giữ vai trò quan trọng như là
công cụ để đánh giá thực trạng của đất đai khi được sử dụng cho mục đích riêng biệt
(FAO, 1976), hay như là một phương pháp để giải nghĩa hay dự đoán tiềm năng sử
dụng của đất đai (Van Diepen và cộng sự, 1988). Theo hướng này, quy hoạch sử dụng
có thể được hiểu: “ là sự đánh giá tiềm năng đất nước có hệ thống, tính thay đổi
thể cho quy hoạch đô thị tại vùng đô thị Concepción của Chile. Trong khoảng thời
gian này, Barral và Oscar (2012) tiến hành một nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất bền
vững dựa trên đánh giá các dịch vụ hệ sinh thái, áp dụng điển hình cho vùng đông nam
Pampas của Argentina.
Tại Australia, Pearson và cộng sự (2010) đề xuất một khung kịch bản quy
hoạch sử dụng đất bền vững và áp dụng cho khu vực đô thị thuộc vùng đông nam
Queensland, Australia.
Là khu vực điển hình nhất về các vấn đề nổi cộm liên quan tới quy hoạch sử
dụng đất do tăng trưởng kinh tế nhanh và mật độ dân số cao, quy hoạch sử dụng đất
bền vững ở khu vực châu Á và châu Phi hiện đang rất được chú trọng. Các định hướng
quy hoạch chủ yếu được tiếp cận từ châu Âu. Tại châu Á, Chen và cộng sự (2003) tiến
hành đánh giá sử dụng đất và đề xuất các kịch bản sử dụng đất bền vững cho vùng cao
nguyên Loess của Trung Quốc. Kim và Pauleit (2007) tiến hành đánh giá đa dạng sinh
học và các đặc tính cảnh quan làm căn cứ cho quy hoạch sử dụng đất tại thành phố 12
Kwangju, Hàn Quốc. Tại châu Phi, các nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất được thực
hiện với sự hỗ trợ kinh phí và tham gia của các chuyên gia sử dụng đất châu Âu.
Agrell và cộng sự (2004) tiến hành quy hoạch sử dụng đất cho phát triển nền nông
nghiệp sinh thái đa mục đích và áp dụng thử nghiệm tại vùng Bungoma của Kenya.
Tóm lại, phát triển bền vững với cách tiếp cận toàn diện được xem là một xu
thế của thời đại. Do đó, quy hoạch sử dụng đất bền vững được quan tâm rộng rãi trên
toàn thế giới. Mặc dù các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới rất khác nhau về điều
kiện lãnh thổ cũng như động lực phát triển, nhưng quy hoạch sử dụng đất bền vững đã
thể hiện được ưu thế cho tất cả các khu vực này, tạo cơ hội cho phát triển kinh tế, đồng
thời bảo vệ được môi trường và tránh xung đột xã hội trong sử dụng đất.
Tại Việt Nam, quan điểm chủ đạo về phát triển bền vững đã được Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX xác định là “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng
được ban hành ngày 02/12/2008, kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia phòng chống
và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 được ban hành ngày 29/9/2009. “Đây có thể được
xem như ba chương trình/Kế hoạch quan trọng nhất cho Viêt Nam trong thế kỷ 21 và
để thực hiện một cách hiêu quả trong thực tế, cần phải quán triệt sâu sắc cách tiếp cận
lồng ghép/tích hợp” (Trương Quang Học, 2010).
Giữa biến đổi khí hậu và quy hoạch sử dụng đất có mối quan hệ biện chứng, có
thể được xác định thông qua hai khía cạnh sau:
- Biến đổi khí hậu tác động đến các kiểu sử dụng đất, ví dụ nước biển dâng,
hoang mạc hóa, hạn hán, lụt lội, bão, xâm nhập mặn,… ảnh hưởng trực tiếp và gián
tiếp tới sử dụng đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng, sản xuất nông nghiệp, Vì vậy lồng
ghép các yếu tố biến đổi khí hậu vào quy hoạch sử dụng đất nhằm thích ứng với các
tác động của biến đổi khí hậu là cần thiết để đạt được hiệu quả như mong muốn của
một bản quy hoạch sử dụng đất.
- Quy hoạch sử dụng đất bền vững có khả năng làm giảm nhẹ hậu quả của biến
đổi khí hậu bằng cách nhiều biện pháp: quy hoạch phòng tránh các khu vực có thể xảy
ra thiên tai trong tương lai, quy hoạch giảm hiệu ứng khí nhà kính, ví dụ như hạn chế
tối đa diện tích rừng bị mất, trồng và khoanh nuôi rừng, khuyến khích sản xuất sạch, …
Nghiên cứu việc lồng ghép với biến đổi khí hậu trong quy hoạch sử dụng đất
cũng dựa trên những nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc của phát triển bền vững: Nguyên tắc này đã được thông qua tại
“Hội nghị thượng đỉnh về trái đất” tổ chức tại Rio de Janeiro năm 1992, nhấn mạnh
vào cách nhìn lâu dài về xã hội con người và việc con người khai thác sử dụng tài
nguyên đất trên lãnh thổ. Thay thế hoặc điều chỉnh các loại sử dụng đất lạc hậu bằng 14
các loại sử dụng đất tiên tiến là đảm bảo cho phương án sử dụng đất luôn giữ được
trạng thái cân bằng động với một cơ cấu sử dụng đất hợp lý và bền vững, thích ứng với
biến đổi khí hậu.
Việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam đã được pháp lý hoá trong
Luật Đất đai và các văn bản dưới Luật. Nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất là phân
bổ quỹ đất phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường; đồng
thời bảo đảm việc sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả. Khung pháp lý về quản lý
đất đai hiện nay yêu cầu phải cân nhắc các phương án quy hoạch khác nhau trong mối
quan hệ với các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường, cũng như phải thu hút sự tham
gia và góp ý của mọi đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp ở cấp cơ sở cho từng phương
án quy hoạch này. Ví dụ, Thông tư 30/2004/TT-BTNMT do Bộ Tài nguyên và Môi
trường ban hành ngày 1/11/2004 quy định rằng các phương án quy hoạch sử dụng đất
phải được đánh giá hiệu quả môi trường.
Lồng ghép các yếu tố môi trường, biến đổi khí hậu đã được đưa vào một số các
chương trình, dự án tại Việt Nam như: Chương trình hợp tác Việt Nam –Thụy Điển về
tăng cường năng lực quản lý đất đai và môi trường ở Bộ TN&MT (chương trình
SEMLA), Dự án “Đói nghèo và Môi trường – PEP” do Chương trình phát triển Liên
hợp quốc (UNDP) và Cơ quan phát triển quốc tế Anh (DFID) phối hợp với Bộ Tài
nguyên và Môi trường thực hiện,… đã đạt được những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên,
quá trình lồng ghép thực tế vẫn còn tồn tại một số các vấn đề bất cập khi triển khai như
tham vấn cộng đồng,
1.2.2. Mô hình thích ứng biến đổi khí hậu cấp cộng đồng
Thuật ngữ “thích ứng” (adaptation) được hiểu là "sự điều chỉnh trong các hệ
thống tự nhiên hoặc con người nhằm ứng phó với những biến đổi thực tế hoặc dự kiến
của khí hậu hoặc các ảnh hưởng của chúng, để giảm bớt tác hại hoặc khai thác những
cơ hội mang lại lợi ích" (IPCC, 2007). Như vậy, thích ứng là cả một quá trình điều
chỉnh được con người hoạch định, đòi hỏi sự tham gia của nhiều đối tượng, nhiều
thành phần và được thực hiện ở nhiều cấp độ khác nhau theo từng bước trong một quá
trình thống nhất, được thực hiện lâu dài. Thích ứng cần được thực hiện sao cho hiệu
quả nhất và phù hợp nhất, không gây xáo trộn lớn đến cuộc sống của người dân cũng
như không ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế xã hội của khu vực.
Thích ứng biến đổi khí hậu phản ánh tất cả những phản ứng đối với biến đổi khí
hậu nhằm làm giảm những tác động tiêu cực do biến đổi khí hậu gây ra. Thích ứng
đổi khí hậu mà đơn giản là ứng phó với những thay đổi đã xảy ra, thông thường "được
bắt đầu bởi những thay đổi sinh thái trong các hệ thống tự nhiên và bằng sự thay đổi
thị trường hoặc phúc lợi trong hệ thống xã hội loài người" (IPCC, 2007). Dạng thích
ứng này cũng có thể được gọi là thích ứng tự phát. Thích ứng tự điều chỉnh là loại
thích ứng phổ biến nhất được thực hiện độc lập bởi các cộng đồng địa phương ở Việt
Nam và các khu vực khác. 17
Thích ứng tự điều chỉnh trái ngược với thích ứng có kế hoạch. Thích ứng có kế
hoạch là "kết quả của một quyết định chính sách thận trọng dựa trên nhận thức rằng
các điều kiện đã thay đổi hoặc sắp thay đổi và hành động đó là cần thiết để quay lại,
duy trì, hoặc để đạt được một trạng thái mong muốn" (IPCC, 2007). Thích ứng có kế
hoạch là những gì mà Chính phủ Việt Nam hướng tới đầu tiên để thực hiện trên phạm
vi toàn quốc. Thích ứng loại này nên bao gồm các hoạt động nhờ đó các tổ chức hướng
tới định dạng thích ứng và giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương trong tương lai, bằng
cách đánh giá sự phân bố của các tác động khí hậu, khả năng của các cá nhân để ứng
phó với biến đổi khí hậu, các phương án thích ứng và các cách thức để những người
tiên phong cung cấp và truy cập vào nguồn lực bên ngoài để thúc đẩy việc thích ứng
(Adger, 2000).
Sự khác biệt giữa hai hình thức thích ứng trên là không rõ ràng. Không chỉ
chính phủ có thể thực hiện thích ứng có kế hoạch, mà cả cộng đồng cũng thực hiện
được, nếu họ được tiếp cận với thông tin về rủi ro khí hậu. Các hành động thích ứng
được Chính phủ thực hiện mang lại lợi ích lớn hơn có thể là ví dụ cho thích ứng tự
điều chỉnh. Các hoạt động thích ứng tại Việt Nam do đó có thể là các dự án, chính sách
và văn bản pháp luật cụ thể để giải quyết các rủi ro của biến đổi khí hậu, như trồng
rừng ngập mặn để bảo vệ bờ biển, cũng như các hoạt động truyền bá nhiều hơn nữa để
nâng cao các quy chuẩn xây dựng và thực thi các quy chuẩn đó, đa dạng hóa sinh kế
bản địa nhằm giảm sự phụ thuộc vào những dạng tài nguyên có nguy cơ rủi ro, hoặc
nguồn nước, xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, an sinh xã hội, sức khỏe cộng đồng,
nâng cao đời sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu; (ii)
Nền kinh tế cacbon thấp, tăng trưởng xanh trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển
bền vững ; (iii) Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực ứng phó với biến đổi
khí hậu của các bên liên quan; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, chất lượng
nguồn nhân lực; hoàn thiện thể chế, chính sách ; tận dụng các cơ hội từ biến đổi khí
hậu để phát triển kinh tế xã hội; (iv) Góp phần tích cực với cộng đồng quốc tế trong
ứng phó với biến đổi khí hậu
- Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu của Chính phủ:
Mục tiêu chiến lược của chương trình là đánh giá được mức độ tác động của biến đổi
khí hậu đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương trong từng giai đoạn và xây dựng
được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu cho
từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất
nước, tận dụng các cơ hội phát triển nền kinh tế theo hướng các-bon thấp và tham gia
cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ thống khí
hậu Trái Đất.