Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng xã tây phong huyện cao phong tỉnh hòa bình - Pdf 10

Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng
lực thích ứng với biến đổi khí hậu của
cộng đồng xã Tây Phong huyện Cao
Phong tỉnh Hòa Bình

Trần Hữu Hào

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
Người hướng dẫn: TS. Võ Thanh Sơn
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Tổng quan về tính dễ bị tổn thương và năng
lực thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu tính dễ bị
tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng với biến
đổi khí hậu tại xã Tây Phong, huyện Cao Phong, tỉnh
Hòa Bình. Phân tích điều kiện tự nhiên; hiện trạng sử
dụng đất qua một số thời điểm và tình hình kinh tế, xã
hội tại xã Tây Phong. Đề xuất giải pháp thích ứng với
biến đổi khí hậu của cộng đồng nhằm nâng cao sinh kế.

Keywords: Biến đổi khí hậu; Ô nhiễm môi trường; Cao
Phong

Content
Mở đầu
Theo các nhà khoa học, khí hậu toàn cầu trong những năm gần
đây đang biến đổi rất mạnh mẽ: nó tác động tới nhiều lĩnh vực như
kinh tế, xã hội, giáo dục, nông nghiệp, đa dạng sinh học, môi
trường, sức khỏe con người với quy mô trên toàn cầu; là một
trong những thách thức đối với sự sinh tồn của loài người trên toàn

này
Chính vì vậy em quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu tính dễ
bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của
cộng đồng xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình”
Mục tiêu của luận văn
- Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng của
cộng đồng với biến đổi khí tại xã Tây Phong huyện Cao Phong
tỉnh Hòa Bình
- Bước đầu đề xuất giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của
cộng đồng nhằm nâng cao sinh kế
Đối tƣợng nghiên cứu
Cộng đồng địa phương của xã Tây Phong huyện Cao Phong
tỉnh Hòa Bình và sinh kế của họ bị tác động bởi các hiện tượng
khí hậu cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại xã Tây Phong huyện Cao
Phong tỉnh Hòa Bình vì xã Tây Phong có điều kiện tự nhiên, khí
hậu đại diện cho vùng núi Tây Bắc, thường xuyên xuất hiện các
hiện tượng khí hậu cực đoan như mưa lũ, hạn hán, rét đậm, rét
hại, là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao so với các xã trong vùng và là nơi
thuận tiện cho quá trình nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 1985 đến nay
vì đây là giai đoạn gắn với thời kỳ cải cách và đổi mới nền kinh
tế
- Về nội dung nghiên cứu: BĐKH thể hiện bằng thay đổi nhiệt
độ, lượng mưa và hiện tượng thời tiết cực đoan tăng về tần suất
và cường độ, và mức độ khó dự báo, nhưng trong khuôn khổ
nghiên cứu này chỉ tập trung một số khía cạnh của các hiện tượng
khí hậu cực đoan, đặc biệt là hạn hán, mưa lũ, rét đậm rét hại và
tác động của chúng lên sản xuất nông nghiệp, sinh kế của những

- Các hiện tượng cực đoan của thời tiết và thiên tai (nóng, rét hại,
bão, lũ lụt,hạn hán, v.v…) xảy ra với tần suất cao hơn, cường độ
và độ khác thường lớn hơn.
 Khí hậu cực đoan
Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (The Intergoverment
Panel on Climate Change – IPCC), 2007 định nghĩa “hiện tượng
thời tiết cực đoan” và “hiện tượng khí hậu cực đoan” như sau:
Hiện tượng thời tiết cực đoan: là hiện tượng hiếm ở một nơi
cụ thể khi xem xét phân bố thống kê của nó. Hiếm có thể hiểu là
các hiện tượng thời tiết cực đoan thông thường được có tần suất
xuất hiện của nó nhỏ hơn 10%. Theo định nghĩa này, những đặc
trưng của thời tiết cực đoan có thể thay đổi tùy từng khu vực mà
đặc trưng cho khu vực đó, nó phụ thuộc vào các yếu tố địa lý tự
nhiên, bức xạ, địa hình…
Hiện tượng khí hậu cực đoan: là trung bình của số các hiện
tượng thời tiết cực đoan trên một khoảng thời gian nhất định, trung
bình tự nó đã là cực đoan. Hiện tượng khí hậu cực đoan có thể xác
định từ các yếu tố khí hậu. Nói cách khác, hiện tượng khí hậu cực
đoan phần lớn không được quan trắc trực tiếp mà người ta căn cứ
vào số liệu quan trắc các yếu tố khí hậu để xác định hoặc quy định
một hiện tượng nào đó có xuất hiện hay không.
 Tính dễ bị tổn thương
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính dễ bị tổn
thương: “Khả năng (tính) dễ bị tổn thương do tác động của biến
đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh
tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng
thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu” (Bộ
Tài nguyên và Môi trường, 2008)
 Thích ứng với biến đổi khí hậu
Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự

phương pháp luận để thu thập, tổ chức và phân tích thông tin về
khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng, hộ
gia đình và cá nhân. Nó cung cấp những hướng dẫn và công cụ
cho nghiên cứu, phân tích và học hỏi có sự tham gia. Nó cũng tính
đến vai trò của các cơ quan và chính sách quốc gia và địa phương
trong thực hiện hoạt động thích ứng. (CARE International, 2010)
Ngoài ra, Hannah Reid và cộng sự (2009) cũng sử dụng phương
pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng để nghiên cứu tính dễ bị tổn
thương và năng lực thích ứng với BĐKH. Phương pháp này tập
trung vào việc thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng
đồng giúp cộng đồng phân tích nguyên nhân và ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu trong việc tích hợp các kiến thức khoa học và
kiến thức cộng đồng để lập kế hoạch thích ứng.
Các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương và khả năng
thích ứng với BĐKH của hộ nghèo
Năm 2007, báo cáo về nghèo đói với BĐKH của
Oxfam Quốc tế đã có những cảnh báo về sự suy tàn sinh kế
của người nghèo; nêu rõ sự gia tăng các thảm họa khí hậu ảnh
hưởng tới nhiều người đặc biệt là hộ nghèo, người nghèo không
có sức mạnh để chống chịu lại các thảm họa.
Trong báo cáo “Thay đổi môi trường toàn cầu và An ninh
con người” (Siri E.H. Eriksen, 2007) đề cập tới mối quan hệ
giữa nghèo đói và thích ứng với biến đổi khí hậu, báo cáo cũng
xem xét tới thực trạng thể chế trong việc kếp hợp giải pháp
thích ứng với biến đối khí hậu của việc thực thi các chính sách
hỗ trợ phát triển hiện nay.
Nông nghiệp là đối tượng bị ảnh hưởng bởi các hiện
tượng khí hậu cực đoan do tác động của BĐKH.
Trong nghiên cứu của Helal Ahammad, 2007 đã đề cập tới “
các vấn đề và thách thức của nông nghiệp Australia trong việc

1.3. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Trong bối cảnh BĐKH ngày càng mạnh mẽ như hiện nay,
Việt Nam đã và đang tích cực chống lại biến đổi khí hậu với các
hoạt động, dự án trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: Nông
nghiệp, giao thông, thủy lợi… với nhiều cơ quan chuyên môn
cũng như các tổ chức quốc tế nghiên cứu và triển khai trong
những năm qua.
Tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí
hậu
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (IMHEN)
(2011) đã nghiên cứu và xây dựng hướng dẫn “Đánh giá tác
động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng”
nhằm phục vụ cho công tác xây dựng kế hoạch hành động của
các Bộ, ngành địa phương với biến đổi khí hậu. Hướng dẫn sử
dụng cách tiếp cận như sau:
- Đánh giá tác động của BĐKH ở thời điểm hiện tại sau đó đánh
giá tác động trong tương lai dựa vào các kịch bản kết hợp với
điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường;
- Đánh giá tác của BĐKH theo ngành, theo vùng địa lý, theo ranh
giới hệ sinh thái…
Các nghiên cứu tác động của BĐKH tới sinh kế (nông nghiệp) của
hộ nghèo
Theo Bộ lao động thương binh và xã hội năm 2011, mức
nghèo được quy định như sau:
- Mức chuẩn nghèo (cập nhật CPI): so sánh thu nhập hộ gia đình
với mức 480 ngàn đồng khu vực nông thôn và 600 ngàn đồng khu
vực thành thị;
- Mức chuẩn cận nghèo (cập nhật CPI): so sanh thu nhập hộ gia
đình với mức 600 ngàn đồng khu vực nông thôn và 750 ngàn đồng
khu vực thành thị.

- Lựa chọn những giải pháp thích ứng hiệu quả cụ thể để hỗ trợ
trực tiếp và làm đầu vào cho các kế hoạch địa phương.
Hiện nay, có khoảng 70 tổ chức tại Việt Nam tham gia nghiên
cứu và thực thiện liên quan tới “tính dễ bị tổn thương và năng
lực thích ứng với biến đổi khí hậu” tập chung vào các vấn đề
như: BĐKH và Nông nghiệp bền vững, Biển và Ven biển với
BĐKH, Sức khỏe cộng đồng và BĐKH, Tài nguyên môi trường
và BĐKH, Nghiên cứu và vận động chính sách với BĐKH. Tuy
nhiên nghiên cứu các hiện tượng thời tiết cực đoan và sinh kế
dựa vào nông nghiệp của các hộ nghèo khu vực miền núi được
đề cập rất ít chính vì vậy nghiên cứu sẽ bổ sung thêm các
nghiên cứu nói trên.
1.4. Các nghiên cứu tại khu vực nghiên cứu.
Trong bối cảnh khí hậu ngày càng biến đổi như hiện nay, tỉnh Hòa
Bình nói chung và xã Tây Phong nói riêng khí hậu cũng ngày càng
biến đổi, theo số liệu quan trắc của Trung tâm quan trắc khí tượng
thủy văn Thành phố Hòa Bình nhiệt độ mùa hè tăng cao trung bình
từ 38-40
oC
có thời điểm lên tới 42
oC
, mùa đông thì giá rét kết hợp với
mưa phùn nhiệt độ ngoài trời lạnh tới 2-3
oC
, hạn hán kéo dài, mưa lũ
thất thường. Sự thay đổi này tác động rất lớn tới sinh kế của cộng
đồng đặc biệt là người nghèo. Theo một cán bộ thuộc Chi cục Bảo vệ
Môi trường Hòa Bình, tại tỉnh Hòa Bình vấn đề “biến đổi khí hậu”
được quan tâm và chú ý nhiều hơn trong mấy năm gần đây nhưng
hiện nay chưa có nghiên cứu hoặc kế hoạch cụ thể nào liên quan tới

tích là đồi thấp và núi đá vôi, diện tích đất nông nghiệp và đất ở
chiếm tỷ lệ ít khoảng 12 % tổng diện tích. Theo đặc điểm địa
hình xã chia làm 2 vùng khá rõ rệt: vùng giáp núi đá gồm các
xóm Chao, Khạ, Đồi, Nếp và Lãi.
 Đặc điểm khí hậu
Xã Tây Phong nằm tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Bắc Bộ
và Tây Bắc Bộ chính vì vậy khí hậu của xã Tây Phong có đặc
điểm khí hậu của vùng tiếp giáp giữa hai vùng này, do đó khí hậu
vùng tương đối phức tạp. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng
23,8
0
C, nhưng mùa đông nhiệt độ xuống rất thấp có thể xuống
thấp tới 4
0
C (2009), vào mùa hè nhiệt độ cao tăng rất cao có thời
điểm lên tới 41,8
0
C (2010). Lượng mưa trung bình 25 năm trở lại
đây vào khoảng 1817,7 mm/năm, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng
10 hàng năm mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 hàng năm (Trung
tâm khí tượng thủy văn thành phố Hòa Bình, 2011).
2.2.2. Hiện trạng sử dụng đất qua một số thời điểm
Hiện trạng mục đích sử dụng đất đã thay đổi từ năm 2000
trở lại đây, diện tích đất trồng lúa giảm một cách rõ rệt 157,332
ha (2004) chỉ còn 56,7 ha năm (2007). Ngược lại diện tích đất
trồng mía tăng rất mạnh từ 43,01 ha năm 2004 tăng lên 250,5 ha
năm 2007.
2.2.3. Tình hình kinh tế, xã hội
Xã Tây Phong có 10 xóm, 1167 hộ với 5018 nhân khẩu
(UBND xã Tây Phong, 2009), theo số liệu điều tra năm 2011 xã có

Khung sinh kế bền vững (SLF).
SLF là chữ viết tắt của Sustainable Livelihoods
Framework (Khung Sinh kế Bền vững) do Bộ Phát triển Hải
ngoại Anh Quốc – DFID (Department For International
Development, 2001) phát triển, đã nêu lên những yếu tố chính
ảnh hưởng đến sinh kế người dân.
DFID sử dụng định nghĩa sinh kế bền vững như sau:
“Một sinh kế thì bao gồm những năng lực, tài sản (bao
gồm cả tài sản vật chất và tài nguyên xã hội) và các hoạt động
cần thiết để làm phương tiện sinh sống. Một sinh kế là bền
vững khi có thể đối phó và phục hồi từ các stress, các cú sốc, và
duy trì được hoặc tăng cường được các khả năng và các tài sản
này cho cả hiện tại và tương lai, trong khi không gây ảnh hưởng
tiêu cực đến nguồn tài nguyên thiên nhiên”.
Hình 2.2: Khung sinh kế bền vững (SLF)
(Nguồn: DFID, 2001)

5 loại vốn trong khung sinh kế

- Thể chế tổ
chức
Phạm vi có
thể bị tổn
thương
- Các cú sốc
- Các xu
hướng
- Thời vụ

Kết quả sinh
kế
- Tăng thu nhập
- Tăng sự ổn
định
- Giảm rủi ro
- Nâng cao an
toàn lương
thực
- Sử dụng bền
vững hơn các
nguồn lợi tự
nhiên
Chiến
lược
sinh kế
N
h

m

báo cáo…
Các loại số liệu cần thu thập
- Số liệu quan trắc: các chỉ số quan trắc cần thu thập để
phục vụ nghiên cứu trong luân văn được thể hiện trong bảng sau
Bảng 2.1: Bảng chỉ số cần thu thập
Các chỉ số cần thu
thập
Mục đích
Nơi cung cấp
hông tin
Nhiệt độ trung bình
hàng năm từ 1985 đến
nay
Biết được diễn biến
nhiệt độ trung bình từ
1985 đến nay
Trung tâm quan
trắc TP Hòa
Bình
Lượng mưa trung
bình hàng năm từ
1985 đến nay
Biết được diễn biến
lượng mưa trung bình
từ 1985 đến nay
Trung tâm quan
trắc TP Hòa
Bình
Số ngày trong năm
<10

ii) Nguồn thứ 2: Tổng hợp kết quả điều tra thực địa tại cộng
đồng (biểu đồ lịch sử, bản đồ thiên tai)
- Số liệu về số hộ nghèo, thu nhập bình quân, các nguồn sinh kế
của cộng đồng và hộ nghèo. Chúng tôi thu thập từ các báo cáo
thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội hàng năm của xã
Tây Phong các năm 2008, 2009, 2010 và tổng hợp kết quả
phỏng vấn hộ dân.
 Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc:
Mục đích sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc nhằm
thu thập thông tin mang tính đại diện, các thông tin chuyên sâu, các
kiến thức hay hiểu biến của cộng đồng hay hộ dân về BĐKH. Các
đối tượng cần phỏng vấn như sau:
Phỏng vấn hộ dân: Để có được thông tin về các nguồn sinh kế;
thu nhập; nhu cầu…của các hộ dân đặc biệt là nhận thức của họ về
BĐKH, chúng tôi sử dụng danh mục câu hỏi (phụ lục 3), cách thức
lựa chọn và phỏng vấn như sau:
Cách lựa chọn hộ: Lựa chọn 90 hộ nghèo tương đương với
30% số hộ nghèo toàn xã (theo tiêu chí hộ nghèo của Bộ thương
binh và xã hộ năm 2011) để đảm bảo tính đại diện số hộ nghèo
chia 3 vùng là: vùng núi cao, vùng đồng bằng và vùng bán sơn địa
tương ứng 3 xóm (xã Tây Phong có 10 xóm) đại diện của 3 vùng,
các hộ nghèo trong xóm được lựa chọn theo phương pháp lựa
chọn ngẫu nhiên và ít nhất 30% số người tham gia trên 45 tuổi
Cách phỏng vấn: Các hộ được lựa chọn được mời tới địa điểm
nhất định (nhà văn hóa thôn, nhà hộ dân…) các hộ được phỏng
vấn theo danh mục câu hỏi đã chuẩn bị trước
Phỏng vấn chính quyền địa phƣơng: để thu thập thông tin
chung về tình hình phát triển kinh tế xã hội, định hướng phát triển
cũng như các hiểu biến và kinh nghiệm trong việc tích ứng với các
hiện tượng khí hậu cực đoan….chúng tôi tiến hành phỏng vấn cán

đơn giản,
số trung
bình
Để tổng hợp
số liệu như
nhiệt độ,
lượng mưa
trung bình, tỷ
lệ hộ nghèo,
thu nhập bình
quân/đầu
người/năm….
- Sau khi thu thập
số liệu sử dụng
bảng tính Excel và
đồ thị biểu diễn
- …
Cán bộ văn
thư xã Tây
Phong, cán bộ
trạm quan trắc
khí tượng
thành phố Hòa
Bình
Biểu đồ
lịch sử
Để thu thập
thời gian, tần
suất xuất hiện
của các hiện

vụ
Để thu thập
thời gian gieo
trồng của lúa,
mía, cây vụ
đông
Làm như biểu đồ
lịch sử
Cán bộ phụ
nữ, hội nông
dân, cán bộ
địa chính, 10
trưởng xóm,
hộ dân
Bảng xếp
hạng, đánh
giá theo
ma trận
Đánh giá mức
độ ảnh hưởng
của các hiện
tượng cực
đoan tới sinh
kế của hộ
Làm như biểu đồ
lịch sử
Cán bộ phụ
nữ, hội nông
dân, cán bộ
địa chính, 10

trưởng xóm,
hộ dân
Các khó khăn trong quá trình thực hiện nghiên cứu
- Số liệu trong báo cáo của xã, huyện có chỗ chưa thống nhất, thiếu thông tin, đặc biệt là
các hiện tượng khí hậu cực đoan
- Nghiên cứu còn thiếu thời gian, nguồn lực…
- Tiếp cận nguồn thông tin còn hạn chế
2.3.3. Nội dung nghiên cứu
- Xác định đặc điểm khí hậu của trong vùng nghiên cứu, đặc biệt tập trung vào các hiện
tượng khí hậu cực đoan cũng như tác động của chúng;
- Phân tích đánh giá sinh kế của cộng đồng địa phương, đặc biệt liên quan đến sản xuất
nông nghiệp và chăn nuôi;
- Phân tích đánh giá tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan lên sản xuất nông
nghiệp, đặc biệt là thiệt hại lên cộng đồng địa phương và ảnh hưởng đến phát triển sinh
kế;
- Phân tích năng lực thích ứng của hộ nghèo tập trung vào năng lực tài chính và năng lực
trình độ dựa trên quan điểm phát triển sinh kế bền vững;
- Phân tích năng lực thích ứng của cộng đồng tập trung vào năng lực tài chính và cách
thức hỗ trợ hộ nghèo;
- Đề xuất giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ nghèo để nâng cao sinh kế dựa
vào cộng đồng.
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm khí hậu và các hiện tƣợng khí hậu cực đoan
3.1.1. Nhiệt độ, lượng mưa
Hiện nay, tại địa điểm nghiên cứu không có trạm quan trắc khí tượng do đó chúng tôi
xem xét sử dụng số liệu trạm khí tượng gần với điểm điểm nghiên cứu nhất và có đặc
điểm khí hậu tương đồng. trạm khí tượng thành phố Hòa Bình là phù hợp vì trạm khí
tượng này gần với địa điểm nghiên cứu nhất (khoảng 23 km về phía Tây Bắc), đặc biệt là
có sự tương đồng về đặc điểm khí hậu. Chính vì vậy chúng tôi quyết định sử dụng số liệu
quan trắc tại trạm quan trắc khí tượng thành phố Hòa Bình từ năm 1985 đến nay.

của cây trồng vật nuôi.
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), nhiệt độ có tác dụng đến tốc độ sinh trưởng của cây
lúa nhanh hay chậm, tốt hay xấu. Trong phạm vi giới hạn (20-30
0
C), nhiệt độ càng tăng
cây lúa phát triển càng mạnh. Nhiệt độ trên 40
0
C hoặc dưới 17
0
C, cây lúa tăng trưởng
chậm lại. Dưới 13
0
C cây lúa ngừng sinh trưởng, nếu kéo dài 1 tuần cây lúa sẽ chết. Đặt
biệt ở giai đoạn mạ, nhiệt độ thấp làm giảm hoặc ngưng hẳn sự nẩy mầm của hạt, làm mạ
chậm phát triển, cây mạ ốm yếu, bị lùn, lá bị mất màu.
Đối với mía, nhiệt độ bình quân thích hợp cho sự sinh trưởng của cây mía là 15-260C.
Giống mía nhiệt đới sinh trưởng chậm khi nhiệt độ dưới 210C và ngừng sinh trưởng khi
nhiệt độ 130C và dưới 50C thì cây sẽ chết, ở thời kì nảy mầm mía cần nhiệt độ trên 150C
tốt nhất là từ 260C - 330C. Mía nảy mầm kém ở nhiệt độ dưới 150C và trên 400C
Nhiệt độ thấp kéo dài cũng là nguyên nhân dẫn tới gia súc bị chết rét, năm 2008 xã
Tây Phong chết 37 con trâu bò (UBND xã Tây Phong, 2008). Theo số liệu thống kê từ
năm 2000 đến nay cho thấy, số ngày có nhiệt độ thấp dưới 150C, đặc biệt nhiệt độ dưới
100C có diễn biến tăng dần, kết quả được thể hiện qua Hình 3.2 và Hình 3.3 Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn số
ngày có nhiệt độ < 15
0
C
(Nguồn: Trung tâm khí tượng

1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
Năm
Nhiệt độ (độ C)
Nhiệt độ TB năm Linear (Nhiệt độ TB năm)
y = 0.8497x + 4.2273
R
2
= 0.3508
0
5
10
15

2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
Năm
Số ngày
Số ngày có nhiệt độ < 10 độ C Linear (Số ngày có nhiệt độ < 10 độ C)
Phương trình diễn biến số ngày có nhiệt độ <10 0C có dạng:
y = 0.4545x + 2.2121 (R2= 0.1721)
Từ những kết quả trên cho thấy, nhiệt độ thấp trong năm kéo dài (rét đậm, rét hại) ảnh
hưởng không nhỏ tới sinh trưởng phát triển cây trồng vật nuôi, chúng góp phần làm giảm
năng suất, chất lượng cây trồng, làm chết gia súc làm giảm thu nhập của cộng đồng đặc biệt
là hộ nghèo, làm cho họ khó khăn hơn, dễ bị tổn thương hơn (tài lực, vật lực). Kết quả quan
trắc này cũng phù hợp với thông tin thu được từ cộng đồng tham khảo (bảng 3.5)
 Lượng mưa
Lượng mưa là yếu tố khí hậu quan trọng, nó phản ánh các hiện tượng khí hậu cực
đoan như hạn hán, mưa lũ trong năm. Kết quả lượng mưa từ năm 1985 đến nay được thể
hiện phụ lục 2 và diễn biến lượng mưa trung bình hàng năm được thể hiện qua đồ thị sau

Hình 3.4: Đồ thị biểu diễn
lƣợng mƣa trung bình hàng
năm
(Nguồn: Trung tâm khí tượng

R
2
= 0.004
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
1985
1987
1989
1991
1993
1995
1997
1999
2001
2003
2005
2007
2009
2011
Năm
Lượng mưa (mm)
T. lượng mưa TB năm Linear (T. lượng mưa TB năm)
y = 0.0274x + 2.3231
R
2

khí hậu cực đoan trong thời gian là 25 năm qua và các tác động của chúng tới cộng đồng
đặc biệt là hộ nghèo
Qua kết quả nghiên cứu tại cộng đồng kết hợp với kết quả phân tích số liệu quan trắc
cho thấy các hiện tượng khí hậu cực đoan ở đây chủ yếu là hạn hán, rét đậm rét hại và mưa
lũ, chúng xuất hiện nhiều hơn, khắc nghiệt hơn ảnh hưởng tới cộng đồng đặc biệt là hộ
nghèo như: năng suất cây trồng giảm, gia súc chết rét dẫn tới số tháng thiếu ăn tăng lên.
3.2. Các nguồn sinh kế của cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo
Thông qua phỏng vấn tại cộng đồng (90 hộ nghèo, 10 cán bộ thôn, 5 cán xã, 1 cán
bộ huyện) và khảo sát thực địa chúng tôi thấy rằng nguồn sinh kế của cộng đồng nói chung
và hộ nghèo nói riêng chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trong đó trồng trọt là chính.
Bảng 3.1: Nguồn sinh kế
Nguồn sinh kế
Đơn vị
tính
Trung bình
toàn xã
Hộ
nghèo
Tổng thu nhập
bình quân trên
đầu ngƣời
Đồng/ngư
ời/năm
9.000.000
2.000.00
0 -
2.500.00
0
Trồng trọt
%

5
3
o Chăn nuôi
gia súc
%
2
0
Lâm nghiệp
%
4
0
Dịch vụ thƣơng
mại
%
Khác
%
1
5
(Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực địa xã Tây Phong, 2011)
Qua bảng bảng 3.4 cho thấy, nguồn sinh kế của cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo
chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp chiếm 95%, trong đó trồng trọt chiếm 75-85%, chăn
nuôi chiếm 10-20%. Hộ nghèo có thu nhập thấp hơn với thu nhập chung toàn xã chỉ đạt
2.000.000 – 2.500.000 đồng/người/năm, qua điều tra cho thấy hộ nghèo cũng có nguồn
lực hạn chế như: thiếu đất canh tác, thiếu sức kéo, thiếu phương tiện đi lại, tiếp cận thông
tin kém
3.3. Tác động của các hiện tƣợng khí hậu cực đoan tới sinh kế của hộ nghèo
Qua phỏng vấn trực tiếp kết hợp với thảo luận nhóm các hộ nghèo về mức độ và
tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan tới hoạt động sản xuất nông nghiệp của hộ
nghèo, kết quả được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp đánh giá mức độ và tác động của các hiện tƣợng khí hậu cực đoan tới

Giảm diện tích
lúa
- Giảm năng
suất
- Sâu bệnh
tăng
Mức độ
cao
- Mất
trắng
- Giảm
năng suất
Mức
độ
trung
bình
Tăng
chi
phí
Ngô
Mức
độ
trung
bình
Giảm năng
suất
Mức độ
thấp

Mức


Mức
độ
trung
bình

CN
gia
cầm
Mức
độ thấp

Mức độ
thấp

Mức
độ
trung
bình

CN
gia
súc
Mức
độ thấp

Mức độ
thấp

Mức

hậu cực đoan còn tác động tới tập quán canh tác, thay đổi lịch thời vụ ảnh hưởng không
nhỏ tới năng suất, chất lượng cây trồng. Qua điều tra cho thấy trong những năm trở lại
đây lịch thời vụ bị dịch chuyển do các hiện tượng khí hậu đặc biệt là hạn hán từ 1 – 1,5
tháng. Sự dịch chuyển này là rất bất lợi cho cây trồng đặc biệt là trồng lúa, nó làm giảm
năng suất, gia tăng sâu bệnh…Điều đặc biệt hơn nữa là bà con bị mất một vụ đông do
không thể cấy sớm hơn dự kiến, như vậy thu nhập của bà con giảm xuống rõ rệt (ước tính
khoảng 20% thu nhập so với trước đó).
Như đã phân tích ở trên kết hợp với kết quả thu được từ bảng 3.8 và 3.9 cho thấy, các
hiện tượng thời tiết cực đoan đặc biệt là hạn hán ảnh hưởng rất rõ rệt tới sinh kế của cộng
đồng đặc biệt là hộ nghèo: năng suất lúa giảm 10-30% so với trước khi xuất hiện, năng
suất ngô giảm từ 45 tạ/ha đầu năm 2009 xuống còn 35 tạ/ha 6 tháng cuối năm 2009
(UBND xã Tây Phong, 2009). Bên cạnh đó lịch thời vụ bị thay đổi, cây trồng không được
gieo trồng đúng thời vụ đây cũng là nguyên nhân dẫn tới sâu bệnh gây hại ngày càng
nhiều (dịch Rầy gây hại lúa, 2010, bệnh vàng lùn sọc đen hại lúa 2009, 2010). Đặc biệt
nghiêm trọng hơn là diện tích lúa chuyển đổi sang trồng mía là rất lớn: năm 2004 là 157,3
ha đến năm 2009 chỉ còn 56,5 ha (UBND xã Tây Phong, 2009).
Qua hình trên ta thấy, diện tích lúa giảm là do 2 nguyên nhân chính: i) hạn hán kéo
dài không có nước để trồng lúa trên các diện tích ruộng bậc thang vốn dĩ mất nước rất
nhanh, ii) mía trong mấy năm gần đây được giá so với các cây trồng khác mặc dù đầu tư
lớn nhưng người dân vẫn chọn cây mía làm cây để sản xuất.
Như chúng ta cũng biết, lúa là cây trồng cung cấp lương thực cho người dân đặc biệt là
hộ nghèo mặc dù trồng lúa không mang lại kinh tế cao nhưng nó lại có ý nghĩa rất lớn về
mặt an toàn lương thực, an sinh xã hội. Qua phỏng vấn các hộ dân thấy rằng, 100% các
hộ đều trả lời nếu có đủ nước sẽ tiếp tục trồng lúa để đảm bảo lương thực. Mía là cây
trồng mang lại lợi nhuận cao hơn một số cây trồng khác khi thị trường ổn định bán được
giá cao, nhưng nếu rớt giá thì nông dân gặp rất nhiều rủi ro. Bên cạnh đó, đầu tư cho mía
là gánh nặng đối với các hộ nghèo (gấp 6-7 lần so với trồng lúa) và đây cũng là nguy cơ
tiềm ẩn gây ra những tổn thương khi mất mùa hay rớt giá. Mía là cây trồng gây hại cho
đất: cứ 2 năm trồng mía thì phải cho đất nghỉ một năm (phỏng vấn hộ dân), cây mía cũng
là cây trồng yêu cầu đầu tư phân bón hóa học cao, cần sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực

3.4.1 Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của chính quyền địa phương
Hiện nay, tỉnh Hòa Bình nói chung, huyện Cao Phong nói riêng chưa có bộ phận phụ
trách việc phòng chống hay thích ứng với BĐKH mà các hoạt động dựa vào ban phòng
chống lũ bão ở các cấp từ tỉnh tới xã.
Năng lực nhân lực:
Cấp huyện: Chủ tịch UBND huyện là Trưởng ban phòng chống bão lũ huyện, Phó ban
là các phó chủ tịch UBND huyện và Trưởng phòng NN&PTNT là phó ban trường trực,
Ủy viên là trưởng các phòng ban ngành trong toàn huyện, chủ tịch UBND các xã, thị
trấn.
Cấp xã: Trưởng ban là Chủ tịch UBND xã, Ủy viên gồm xã đội trưởng, công an xã,
đoàn thanh niên, trưởng xóm các thôn, đại diện phụ nữ xã
Cấp thôn: Trưởng ban là Trưởng thôn, Ủy viên gồm công an viên thôn, chi hội trưởng hội
nông dân, đoàn thanh niên, đại diện hội phụ nữ, đại diện hội cựu chiến binh thôn.
Năng lực tài chính:
Cấp huyện: Theo cán bộ NN&PTNT huyện Cao Phong cho biết, huyện được hỗ trợ
90 triệu đồng/năm từ vốn ngân sách nhà nước phục vụ cho công tác phòng chống bão lũ
để mua các dụng cụ như: quốc, xẻng, bao tải, đèn pin, quần áo bảo hộ lao động, công trực
phòng chống lũ bão…
Cấp xã, thôn: Hiện nay, ở cấp xã chưa có kinh phí phân bổ phục phục vụ cho công tác
phòng chống bão lũ.
Năng lực chuyên môn
Cấp huyện: Theo cán bộ NN&PTNT huyện Cao Phong cho biết, Ban phòng chống bão lũ
huyện được tập huấn 1 lần/2-3 năm về các tình huống xử lý lũ bão khi xảy ra.
Cấp xã: Trưởng ban phòng chống bão lũ xã 2 – 3 năm được tập huấn 1 lần về các tình
huống xử lý lũ bão khi xảy ra, khi xảy ra thiên tai.
Năng lực thông tin:
Hiện nay, xã Tây Phong có hệ thống thông tin liên lạc hoạt động tốt khi sự cố xảy ra
hoặc triển khai công tác phòng chống bão lũ đều được thông báo cho cấp huyện kịp thời
xử lý và ngược lại.
Quy trình triển khai công tác phòng chống lũ bão:

42,2%
Tivi, đài báo
Biết rất rõ
0
0

(Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực địa xã Tây Phong, 2011)
Nhìn chung, sự nhận thức rõ ràng của người dân về biến đổi khí hậu còn hạn chế, họ chỉ
biết một số thông tin về biến đổi khí hậu thông qua phương tiện thông tin đại chúng, 100%
người dân được hỏi chưa được tham gia bất kỳ cuộc truyền thông, hội thảo hay tập huấn về
biến đổi khí hậu. Họ chưa nhận thức được rằng, các hiện tượng khí hậu cực đoan như hạn
hán, mưa lũ, rét đậm rét hại… là các biểu hiện của BĐKH.
Qua kết quả phỏng vấn thấy rằng, năng lực thích ứng của hộ nghèo được trình bày qua
bảng sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status