SINH KẾ VÀ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - Pdf 37

Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454

Trường Đại học Cần Thơ

SINH KẾ VÀ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG
VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN
CƯ VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Lê Xuân Sinh1, Huỳnh Văn Hiền1, Đỗ Minh Chung1 &
Nguyễn Thị Kim Quyên1

ABSTRACT
Aquaculture, wildfish capture and horticulture are the most important
livelihoods of coastal community in the Mekong Delta. In general, the
successfulness of occupations tends to be worse and poverty rate is still high.
On average, the household size was 4.8 persons with the living expenditures of
VND 2.9 million/household/month, covering 32.7% of total monthly net
income. The households have to find water for living about 6 months per years
with an average cost of VND 220,600/household/month, and the cost of fuels
for living of VND 192,200/household/month. Coastal community recognizes the
evidents and reasons of climate change. It was said that climate now is worse
than before and it would become worse in the next 10-20 years. The impacts of
climate change on the livelihoods, health and water for living are recognized,
especially to children and elderly persons of the poor households. Community
can adjust at different levels to climate change at different level but mainly
depend on the supply of inputs and the marketing of outputs. Livelihoods and
supply of water for living should be appropriate to vulnerable groups.
Reduction of production costs, improved perception on food safety, and better
marketing of products are more important. In addition, further study on all of
three ecological regions: coastal area, area where is seasonally intrusted by
saline water and the area yearly affected by floods are recommended.
Keywords: Adaptation, clean water, climate change, impacts, livelihoods.

xuất, nâng cao nhận thức về an toàn vệ sinh thực phẩm và tổ chức tiêu thụ sản
phẩm có hiệu quả. Cũng nên mở rộng nghiên cứu ở cả ba vùng sinh thái: vùng
ven biển, vùng bị xâm nhập mặn theo mùa và vùng chịu tác động bởi nước lũ
hằng năm.
Từ khóa: Biến đổi khí hậu, các hoạt động sinh kế, thích ứng, nước sạch, tác
động.
1 MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu (BĐKH) theo quan điểm của WWF là bất cứ những thay đổi
quan trọng nào của các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, hoặc gió) quan
trắc được trong vòng ít nhất 10 năm. BĐKH có thể dẫn tới khan hiếm các
nguồn tài nguyên và làm tăng mâu thuẫn về lợi ích trong sử dụng các nguồn tài
nguyên thiết yếu như nước, đất nông nghiệp… từ đó ảnh hưởng tới an ninh
lương thực và gia tăng sự phân hoá giàu nghèo. Dự báo đến năm 2050, thế giới
có khoảng 150 triệu người phải di dời khỏi khu vực duyên hải do nước biển
dâng, lũ lụt và nước ngọt bị nhiễm mặn (Duy Hữu, 2009). Việt Nam là một
trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai và BĐKH gồm: Ấn Độ,
Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar (Duy Hữu, 2009). Gần đây thì
các yếu tố khí tượng thuỷ văn luôn thay đổi theo chiều hướng xấu, thiên tai như
bão, lũ lụt, xâm nhập mặn và rét hại kéo dài xảy ra thường xuyên hơn gây thiệt
hại lớn cho nền nông nghiệp (Nguyễn Đức Ngữ, 2008).
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rộng 34.322 km2, trong đó 8.066 km2 là
thuộc các huyện ven biển. Dân số năm 2008 là 17,71 triệu người với 78,4%
sống ở vùng nông thôn, nhưng đóng góp của khu vực 1 trong GDP của toàn
vùng giảm chỉ còn 38,7% (theo giá cố định 1994) (Tổng cục Thống kê, 2008;
Cục Thống kê Cần Thơ, 2010). Khi mức nước biển dâng lên lên 75 cm vào
giữa tới cuối thế kỷ 21 thì có khoảng 0,5 triệu người bị ảnh hưởng trực tiếp và
ĐBSCL sẽ bị ngập khoảng 19% (76.000 km2 với 45% diện tích đất nông
nghiệp bị ngập). Những đợt triều cường từ cuối năm 2008 đến nay đã làm cho
vùng ngoài đê của 8 tỉnh/thành vùng nội đồng bị ngập (Duy Hữu, 2009; Bộ Tài
Nguyên & Môi Trường, 2009). Các công trình thủy lợi được xây dựng chỉ

tích số liệu.
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thông tin chung về hộ tham gia các hoạt động canh tác trong địa bàn
khảo sát
Trung bình mỗi hộ có 5 nhân khẩu (4,8±1,7 người/hộ), trong đó 2-3 người là
nữ (2,3±1,1 người/hộ). Số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ rất cao so
với số nhân khẩu (76,0% trong số thành viên nam và 78,3 % số thành viên nữ).
Tỷ lệ số hộ có người khuyết tật là 1,4% (thấp hơn so với tỷ lệ 6% của toàn
quốc), đây là một trong những đối tượng cần được chú ý khi nghiên cứu tác
động của BĐKH. Các chủ hộ có độ tuổi trung bình 45,0 tuổi (±11,8) và tỷ lệ
nữ chủ hộ chiếm 28,2%. Các hộ định cư ở nơi hiện nay khoảng 34,6 năm
(±18,3), học vấn của các chủ hộ khá thấp (9,4% mù chữ và hơn 81% cấp 1-cấp
2). Nhóm cán bộ địa phương có tuổi trung bình 39,9 năm (±8,5) với kinh
nghiệm công tác khoảng 12 năm và học vấn chủ yếu là cấp 3 (88,1%), số có
trình độ chuyên môn từ trung cấp tới đại học là 11,9%. Độ tuổi, số năm kinh
442


Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454

Trường Đại học Cần Thơ

nghiệm và thời gian định cư dài có thể giúp phản ánh chính xác hơn về nhận
thức của cả hai nhóm đối với BĐKH.
3.2 Các hoạt động sinh kế của nông hộ trong địa bàn khảo sát
Nuôi trồng thủy sản (NTTS) và trồng trọt (lúa và hoa màu) là hai hoạt động
quan trọng nhất đối với sinh kế của người dân ở địa bàn khảo sát (tương ứng
36,0% và 32,9 % số hộ khảo sát). Khai thác thủy sản tự nhiên (KTTS) đứng
hàng thứ 3 (12,3%) trong khi 5,0% số hộ dân tham gia làm muối, chủ yếu ở các
xã ven biển, còn lại là các nghề khác. Mức độ thành công (lợi nhuận dương hay

Làm muối

Hình 1: Mức độ thành công của các ngành nghề qua các năm

Mỗi hộ hằng năm phải bỏ ra tổng chi phí trung bình là 97,6 triệu đồng cho các
hoạt động kinh tế của họ. NTTS nói chung tiêu tốn hơn hơn 1/2 tổng chi phí
(56,0%), trong khi làm muối có tỷ lệ chi phí thấp nhất (7,8%), một phần do có
ít hộ tham gia làm muối. Mức thu nhập trung bình hàng năm là 190,0 triệu
đồng/hộ, đạt lợi nhuận 93,4 triệu đồng/hộ/năm, nhưng rất khác biệt (±198,1).
Tương tự với chi phí thì tỷ lệ lợi nhuận từ NTTS nói chung cũng là cao nhất
(39,7%), nhưng đứng thứ 2 là làm muối (20,5%), trong khi làm lúa/màu có
mức đóng góp cho thu nhập và lợi nhuận đều chỉ khoảng (10,0%) (Bảng 1).
Theo Mai Thanh Cúc (2006): sinh kế của người nghèo ven biển rất đa dạng
như: trồng trọt, chăn nuôi, ngư nghiệp…. Nhưng NTTS mới mang lại lợi nhuận
quan trọng nhất và cũng được đánh giá là hoạt động có tiềm năng lớn và bền
443


Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454

Trường Đại học Cần Thơ

vững. Nghiên cứu này cho thấy lợi nhuận đi kèm với chi phí sinh hoạt, những
hộ tham gia nuôi nghêu, sò có mức lợi nhuận bình quân cao nhất (2,3 triệu
đồng/người/tháng) và cũng có mức chi phí sinh hoạt bình quân cao nhất (0,9
triệu đồng/người/tháng). Kế đến là những hộ trồng trọt (lúa hoặc hoa màu) có
mức lợi nhuận 1,5 triệu đồng/người/tháng và chi phí sinh hoạt 0,6 triệu
đồng/người/tháng. Đứng thứ 3 là các hộ nuôi tôm, cua, cá với lợi nhuận và chi
phí sinh hoạt tương ứng khoảng 1,4 triệu đồng 0,7 triệu đồng/người/tháng
(Hình 2).


10,2

10,0

2. Nuôi tôm, cua, cá

33,9

24,3

14,6

3. Nuôi nghêu sò

23,0

25,3

25,1

4. Khai thác thủy sản

21,5

18,0

13,7

5. Làm muối


444


Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454
Lợi nhuận/người/tháng (Tr.đ)

Trường Đại học Cần Thơ
CP sinh hoạt/người/tháng (Tr.đ)

Tr.đ
2,5
2,0
1,5
1,0
0,5
0,0
Lúa/màu

Cây ăn
trái/lâu
năm

KTTS

Nuôi tôm,
cua, cá

Nuôi
nghêu, sò

Kết quả cho thấy: người dân nhận định BĐKH có xu hướng xấu đi (trung bình
445


Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454

Trường Đại học Cần Thơ

là 1,4) so với 10-20 năm trước, xu hướng này được xác định rõ hơn bởi nhóm
cán bộ (trung bình là 1,1). Có 71,0% số hộ dân và 92,5% số cán bộ xác nhận
rằng BĐKH ngày càng xấu hơn và bất thường hơn.
Cả hai nhóm đều nhận định BĐKH trong 10-20 năm sau sẽ tiếp tục xấu đi và
bất thường hơn (tương ứng 1,2 và 85,6% với nhóm hộ dân; 1,2 và 94,0% với
nhóm cán bộ). Nhiệt độ trung bình của Việt Nam từ 1951-2000 đã tăng lên
0,30C và ở Tp. Hồ Chí Minh có nhiệt độ tăng 0,8-1,30C (Trần Thanh Lâm,
2009). Cuối thế kỷ này: (1) Nhiệt độ có thể sẽ tăng lên 2-30C; (2) Lượng mưa
có thể tăng lên khoảng 10% vào mùa mưa nhưng giảm khoảng 5% vào mùa
nắng, đồng thời sự biến động trong từng mùa cũng tăng lên; (3) Mực nước biển
có thể sẽ dâng lên thêm khoảng 0,5-1,0 m (Bộ Tài nguyên & Môi trường,
2009).
Thống kê nhiều chọn lựa thể hiện BĐKH được 59,1% dân và 86,8% cán bộ
cho là hệ quả các hoạt động của con người. Có 15,8% dân không biết nguyên
nhân, nhưng cũng có tỷ lệ khá cao (tương ứng 36,7% và 72,1%) xác định các
nguyên nhân mang tính tự nhiên.
Bảng 2: Nhận biết về dấu hiệu và xu hướng của biến đổi khí hậu
Diễn giải

Người dân (N=217)

Cán bộ (N=68)


13,1

3,0

+ Tốt hơn (%)

15,9

4,5

1,2± 0,6

1,1±0,4

+ Xấu hơn/Bất thường hơn (%)

85,6

94,0

+ Bình thường (%)

5,9

3,0

+ Tốt hơn (%)

8,5

6,0%). Một số lo ngại khác là: tác động xấu tới giao thông và sinh hoạt. Đồng
thời cũng cần lưu ý rằng vẫn có 5,1% và 3,1% của hai nhóm cho rằng BĐKH
diễn ra trong thời gian dài và nhiều vấn đề có thể sẽ được giải quyết như là một
tiến trình tự nhiên nên họ thấy không cần phải lo ngại gì (tâm lý chủ quan?).
3.6 Tác động của biến đổi khí hậu đối với các nhóm dễ bị tổn thương
Các nhóm dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH được giả định bao gồm:
người nghèo, phụ nữ (nhất là phụ nữ mang thai) trẻ em, người già và người
khuyết tật. Đánh giá mức độ tác động bằng điểm trung bình theo 5 mức (0=
Không bị tác động; 1=Bị tác động rất ít;…; 5= Bị tác động rất nhiều). Kết quả
thể hiện rằng: người nghèo bị tác động nhiều nhất (trung bình là 4,0 đối với cả
hai nhóm người dân và cán bộ), kế đến là người già (tương ứng 3,2 và 3,7),
đứng thứ 3 là trẻ em (tương ứng với 3,4 và 3,4 cho hai nhóm khảo sát). Phụ nữ
và người khuyết tật không thực sự được xem là dễ bị tổn thương/tác động xấu
bởi BĐKH (Bảng 3).
Bảng 3: Đánh giá mức độ tác động của BĐKH đối với các nhóm dễ bị tổn thương

Nhóm bị tác động
1. Người nghèo

Người dân
N
Đánh giá
209
4,0±1,2

Cán bộ
N Đánh giá
68
4,0±1,2


14

3,4±1,5
2,5±1,6

Trong nghiên cứu này, 6 lĩnh vực chịu tác động của BĐKH ở vùng ven biển
được đánh giá mức xấu, tốt theo điểm trung bình trên cơ sở thang điểm 10
(1=Rất xấu; 10=Rất tốt) gồm: thu nhập, việc làm, lương thực/thực phẩm, nước
sạch, sức khỏe và sinh hoạt. Kết quả cho thấy: sức khoẻ là lĩnh vực chịu tác
động xấu nhất do BĐKH gây ra (trung bình là 6,2 với người dân và 6,4 với cán
bộ), kế đó là các hoạt động sinh hoạt (Bảng 4).

447


Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454

Trường Đại học Cần Thơ

Bảng 4: Nhận xét về cách thức tác động của BĐKH tới các lĩnh vực

Lĩnh vực bị tác động
1. Thu nhập
2. Việc làm
3. Lương thực/thực phẩm
4. Nước sạch
5. Sức khỏe
6. Sinh hoạt

Người dân


Theo báo Tia Sáng (số 06/2008) thì người già và trẻ em là những người phải
gánh chịu hậu quả nặng nề nhất do BĐKH gây ra và BĐKH cũng được đánh
giá là kẻ hủy diệt đứng hàng thứ năm đối với sức khoẻ của con người sau:
chiến tranh, đói nghèo, dịch bệnh và cái chết tự nhiên. Ngoài ra, nước sạch, thu
nhập và việc làm cũng được cả người dân và cán bộ trong nghiên cứu này nhận
xét là chịu tác động xấu do BĐKH gây ra.
3.7 Tác động của các yếu tố trong biến đổi khí hậu đến các ngành nghề
Mức độ tác động của BĐKH đến các ngành nghề chính được ước tính theo
tổng điểm trung bình của 6 cấp độ (0= Không bị tác động; 1= Bị tác động rất
ít;…; 5= Bị tác động rất nhiều). Các hoạt động sinh kế ở khu vực ven biển ở
ĐBSCL nói chung đều chịu ảnh hưởng xấu bởi BĐKH (Bảng 5). Nhưng NTTS
(nuôi tôm, cua, cá) bị ảnh hưởng xấu nhất (trung bình 4,0 với người dân và 3,9
với cán bộ). Kế tiếp là nghề muối với điểm trung bình 3,5 và 3,2 cho hai nhóm
được phỏng vấn và sau đó là sản xuất lúa/hoa màu (tương ứng với 3,2 và 3,8).
Martin Parry et al. (1999) đã nhận xét rằng: BĐKH đã gây ra sự giảm năng
suất trong sản xuất nông nghiệp và gia tăng nguy cơ đói nghèo. Tuy nhiên,
BĐKH chỉ làm giảm năng suất đối với cây trồng ở vùng nhiệt đới, nhưng sẽ
làm tăng năng suất của cây trồng vùng ôn đới, và người nghèo phải chịu ảnh
hưởng lớn nhất (Đinh Vũ Thanh và ctv, 2007).
Bảng 5: Đánh giá mức độ tác động của biến đổi khí hậu đến các ngành nghề

Các ngành nghề
1. Lúa/hoa màu
2. Cây ăn trái
3. Khai thác thủy sản
4. Nuôi tôm, cua, cá
5. Nuôi nghêu, sò
6. Làm muối
448

Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454

Trường Đại học Cần Thơ

Lê Lệ Hiền & Lê Xuân Sinh (2010) cũng như Lâm Trường Ân và ctv (2010)
cho thấy có sự khác biệt đáng kể về công trình, kỹ thuật và hiệu quả NTTS
giữa vùng nội đồng nước ngọt và vùng chịu ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn. Lê
Xuân Sinh (2010b) đánh giá tác động của BĐKH đối với nghề nuôi cá tra và tôm
sú ở ĐBSCL trong khoảng 10 năm qua. Người dân đã và sẽ tiếp tục thay đổi nhiều
trong NTTS do tác động của 4 nhóm yếu tố chính (kỹ thuật, môi trường ao nuôi,
thời tiết và thị trường). Năng suất và chi phí sản xuất cũng khác nhau theo địa bàn
(5-15% thay đổi trong kết quả nuôi cá tra là do BĐKH, nội đồng chịu ít tác động
hơn ven biển) và khác nhau theo mức độ thâm canh (10-20% thay đổi trong kết
quả nuôi tôm là do BĐKH, nuôi quảng canh cải tiến chịu tác động nhiều hơn nuôi
thâm canh).
Phan Minh Tiến & Trương Hoàng Minh (2010) cho thấy hiện tượng xâm nhập
mặn cùng với việc chuyển đất lúa qua nuôi tôm trong khoảng 10 năm trở lại
đây đã làm cho đất bị nhiễm mặn ở tỉnh Bạc Liêu, kết quả là 100% số hộ ở khu
vực gần biển và 40% số hộ ở khu vực xa biển không thể trồng lúa. Năm yếu tố
của thay đổi về thời tiết biểu hiện rõ rệt nhất là: (1) Mực nước sông dâng cao;
(2) Thời tiết thay đổi bất thường; (3) Nhiệt độ tăng cao; (4) Biến động lớn về
nhiệt độ; và (5) xâm nhập mặn thường xuyên, mặn sâu hơn. Tỷ lệ số hộ canh
tác tôm-lúa ở gần biển bị thua lỗ cao hơn gấp 3 lần so với khu vực xa biển.
3.8 Giải pháp nhằm ứng phó/thích ứng với BĐKH của cộng đồng ven biển
ĐBSCL
Trần Thục & Lê Nguyên Tường (2008) định nghĩa sự thích ứng/ứng phó với
BĐKH như sau:“Sự thích ứng có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với
BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương. Sự thích ứng còn có nghĩa là các
hành động tận dụng những cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH”. Ứng phó
với BĐKH là việc làm toàn cầu và một số giải pháp trong kinh tế nông lâm

khu vực ven biển ĐBSCL đều có thể được thay đổi để ứng phó với BĐKH,
nhưng cần chú ý sự phù hợp đối với những nhóm nghèo và dễ bị tổn thương.
Việc xác định các mô hình/hoạt động được ưu tiên nhằm ứng phó với BĐKH
được căn cứ vào điểm trung bình với 5 mức độ ưu tiên cho từng ngành nghề
(0= Không ưu tiên; 1= Ưu tiên rất ít;…; 5= Ưu tiên rất nhiều). Hoạt động nuôi
tôm, cua, cá ở khu vực ven biển mặc dù có nhiều rủi ro và chịu tác động xấu
bởi BĐKH nhưng vẫn được chọn ưu tiên để sản xuất trong thời gian tới vì đây
là hoạt động kinh tế phổ biến nhất, tương ứng 4,5 với người dân và 3,8 cho cán
bộ (Bảng 6).
Bảng 6: Các ngành nghề được cộng đồng ưu tiên để ứng phó với biến đổi khí hậu
Các ngành nghề

Người dân
N

1. Lúa/hoa màu

Cán bộ
Đánh giá

N

Đánh giá

96

4,3±1,3

51


6. Làm muối

18

3,7±1,8

24

2,4±1,5

7. Nghề khác

29

3,9±1,4

9

2,7±1,5

2. Cây ăn trái/lâu năm
3. Nuôi tôm, cua, cá
4. Nuôi nghêu, sò

-

Chỉ các xã ven biển nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi cũng như khả năng tổ
chức quản lý sản xuất kết hợp phát triển cộng đồng mới có thể phát triển nuôi
nghêu, sò (trung bình là 4,4). Kế tiếp là làm lúa/hoa màu (trung bình cho hai
nhóm là 4,3 và 3,8). Trong khi đó, hai hoạt động sản xuất ít được khuyến cáo

sự khác biệt này trong công tác quản lý ngành/địa phương và công tác giáo
dục/tuyên truyền các vấn đề có liên quan tới BĐKH và sinh kế.
Bảng 7: Mức độ thay đổi các ngành nghề để ứng phó với biến đổi khí hậu

Các ngành nghề

Người dân

Cán bộ

N
83

Đánh giá
1,0±0,9

N
37

Đánh giá
2,0±0,9

2. Cây ăn trái/lâu năm

5

1,8±0,5

31



22

1,6±1,0

1. Lúa/hoa màu

Nguyễn Huy Dũng & Vũ Văn Dũng (2008) cho rằng để ứng phó với BĐKH thì
công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển ngân hàng giống để lưu trữ
giống cây trồng vật nuôi là điều rất cần thiết. Phan Minh Tiến & Trương
Hoàng Minh (2010); Lê Lệ Hiền & Lê Xuân Sinh (2010) cũng như Lâm
Trường Ân & ctv (2010) đã lưu ý các vấn đề sau: chọn địa điểm và thiết kế cải
tiến công trình để tránh xói lở do mực nước sông ngày một dâng cao; điều
chỉnh mật độ nuôi và mực nước ao cho phù hợp; tăng cường quan trắc và cảnh
báo môi trường cũng như thông tin thị trường cho người nuôi thủy sản; đồng
thời chú ý hơn tới giống lúa (chịu mặn, chịu hạn, kháng sâu bệnh) cũng như
khả năng thay thế của những loài thủy sản khác. Đồng thời, Lê Xuân Sinh
451


Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454

Trường Đại học Cần Thơ

(2010a) đề xuất việc tăng cường nghiên cứu ứng dụng mô hình trồng dưa hấu
không hạt tiết kiệm nước trong trồng hoa màu và nuôi kết hợp cua biển để
giảm bớt rủi ro trong nuôi tôm ở ven biển tỉnh Bến Tre.
3.9 Thuận lợi và khó khăn trong việc ứng phó với tác động của biến đổi
khí hậu
Có 43,8% số người dân và 23,4% số cán bộ cho rằng họ có kinh nghiệm trong

quan trọng ở vùng ven biển ở ĐBSCL nhưng mức độ thành công của các nghề
giảm dần theo thời gian. Thông tin về BĐKH đã và đang được chú ý trong khi
dấu hiệu về BĐKH đã được hầu hết cộng đồng nhận biết, với nguyên nhân
được cho là do cả con người và các điều kiện tự nhiên. Xu hướng về BĐKH
452


Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454

Trường Đại học Cần Thơ

hiện nay xấu hơn và bất thường hơn so với 10-20 năm trước, và được nhận
định là sẽ tiếp tục xấu hơn trong 10-20 năm tiếp theo. BĐKH tác động tới cộng
đồng chủ yếu thông qua: thu nhập, việc làm, lương thực/thực phẩm, nước sạch,
sức khỏe và sinh hoạt. Sức khoẻ, NTTS và làm muối được xem là bị ảnh hưởng
nhiều nhất, trong khi mô hình sinh kế được ưu tiên nhất là NTTS và hoa màu.
Cộng đồng ven biển nhìn chung sẵn lòng thay đổi các hoạt động sinh kế và
sinh hoạt với mức độ khác nhau để thích ứng với tác động của BĐKH. Nhưng
cần lồng ghép các kiến thức về thích ứng với BĐKH trong quá trình xây dựng
và thực hiện quy hoạch cũng như lập kế hoạch sản xuất, lưu ý nâng cấp cơ sở
hạ tầng, tăng cường giáo dục và tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cộng
đồng về BĐKH. Cần chú ý nghiên cứu về tác động của BĐKH và khả năng
thích ứng của cộng đồng ở các vùng sinh thái khác nhau.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Báo Tia Sáng, 2008. Những nạn nhân đầu tiên của biến đổi khí hậu. Số báo ra
ngày 20/03/2008, tr.23-24.
Bộ Tài Nguyên & Môi Trường, 2009. Kịch bản biến đổi khí hậu của Việt Nam.
Hà Nội, tháng 06/2009.
Chu Khôi, 2009. Giá muối tăng cao rồi giảm sâu, diêm dân cứ luẩn quẩn trong

WorldFish Center.
Lưu Văn Nghiêm, 2008. Biến đổi khí hậu toàn cầu và những giải pháp thích ứng
với kinh tế nông lâm nghiệp Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và dự báo. Số
05/2008, tr.16-18.
Mai Thanh Cúc, 2006. Nghiên cứu sinh kế của các cộng đồng nghèo vùng ven
biển Việt Nam. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp. Đại học Nông
nghiệp I Hà Nội. Tập 4, số 6/2006, tr.117-123.
Martin Parry, Cynthia Rosenzweig, Ana Iglesias & Gunther Fischer, 1999.
Climate change and world food security: a new assessment. Global
Environmental Change, No.9/1999, p.51-67.
Nguyễn Đức Ngữ, 2008. Biến đổi khí hậu và chiến lược ứng phó. Tạp chí Khí
tượng thuỷ văn, tháng 03/2008, tr.8-13.
Nguyễn Huy Dũng & Vũ Văn Dũng, 2008. Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam
- Mối liên hệ với phát triển bền vững và biến đổi khí hậu. Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp. Số 17/2008, tr.12-18.
Phan Minh Tiến & Trương Hoàng Minh, 2010. Tác động của thay đổi thời tiết và
thâm nhập mặn đến mô hình tôm sú-lúa luân canh vùng ven biển tỉnh Bạc
Liêu. Tạp chí Khoa học - Đại học Cần Thơ, Số 14/2010, tr.388-400.
Priyantha Ranjan, So Kazama & Masaki Sawamoto, 2006. Effects of climate
change on coastal fresh groundwater resources. Global Environmental
Change, No.16/2006, p.388–399.
Tổng cục Thống kê, 2008. Số liệu thống kê Việt Nam năm, 2008. NXB Thống kê
Hà Nội.
Trần Nhật, 2010. Nước mặn “ăn” dần đất lúa. Thời Báo Kinh tế Sài Gòn, Số
36/2010, tr.46-47.
Trần Thanh Lâm, 2009. Tác động của biến đổi khí hậu đến kinh tế: Dự báo và giải
pháp. Tạp chí Cộng sản, số 800, tháng 06/2009, tr.48-52.
Trần Thục & Lê Nguyên Tường, 2008. Bài trình bày tại Hội thảo về Biến đổi khí
hậu do WWF, Viện Khí tượng thủy văn Trung ương và UBND tỉnh Cà Mau tổ
chức tại Cà Mau, tháng 6/2008.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status