379
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72B, số 3, năm 2012 NÂNG CAO KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO NGƯỜI
DÂN VEN BIỂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Trần Hữu Tuấn
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Tóm tắt. Bài viết phân tích khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) của
người dân ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu tiến hành điều tra hộ gia đình
ở 3 xã đại diện cho các xã ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế gồm Vinh Hải (huyện Phú
Lộc), Hải Dương (huyện Hương Trà) và Quảng Ngạn (huyện Quảng Điền). Kết quả
nghiên cứu cho thấy trong những năm qua các địa phương ven biển Thừa Thiên Huế
đã chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai và BĐKH. Kết quả so sánh về tình hình
thiên tai giữa 3 xã cho thấy, Vinh Hải là xã chịu tác động nhiều nhất của bão. Trong
khi đó, Hải Dương và Quảng Ngạn lại thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt hơn.
Các chỉ báo đánh giá khả năng thích ứng với thiên tai và BĐKH của Vinh Hải là
thấp nhất trong 3 xã nghiên cứu. Kết quả điều tra về những biện pháp ứng phó với
thiên tai và BĐKH mà người dân ở 3 xã thực hiện trong thời gian qua cho thấy,
hiện tại họ chỉ tập trung vào các biện pháp tức thời, ngắn hạn, mang tính ứng phó
mà thiếu các biện pháp thích nghi dài hạn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH cho người dân vùng
ven biển Thừa Thiên Huế.
1. Đặt vấn đề
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại
trong thế kỷ 21. BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng tới sản xuất đời sống và môi trường
giảm thiểu các tác động bất lợi của BĐKH, với một nước đang phát triển như Việt Nam,
không còn con đường nào khác ngoài việc nâng cao nhận thức về BĐKH và nâng cao
năng lực thích ứng với BĐKH cho các bên có liên quan, đặc biệt các cộng đồng dân cư
có nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi BĐKH.
Các địa phương ven biển Thừa Thiên Huế là vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng
trực tiếp bởi các thiên tai do BĐKH như lụt, bão, hạn hán, triều cường, Đời sống của
người dân địa phương chủ yếu dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên như nông
nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản và rất dễ bị tổn thương bởi các thiên tai do BĐKH
[5]. Xuất phát từ thực tế đó, việc đánh giá khả năng thích ứng và đề xuất các biện pháp
nhằm nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH cho các hộ gia đình ở vùng ven biển tỉnh
Thừa Thiên Huế là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng được sử dụng trong bài viết này.
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng bằng cách thảo luận với các chuyên
gia về những vấn đề liên quan đến BĐKH và ảnh hưởng của BĐKH đến đời sống kinh
tế xã hội của người dân vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, những vấn đề liên quan
đến việc chọn các xã để điều tra hộ gia đình, những thông tin ban đầu về diễn biến của
thiên tai và BĐKH, và khả năng thích ứng với BĐKH của người dân ven biển tỉnh Thừa
Thiên Huế.
Phương pháp nghiên cứu định lượng được vận dụng để phân tích, so sánh số liệu
về số lượng và tần suất của các loại thiên tai, các chỉ báo về khả năng thích ứng với
BĐKH, và các biện pháp ứng phó với thiên tai được các hộ gia đình sử dụng ở các xã
khác nhau. 381
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ các các hội nghị, diễn đàn liên quan đến
BĐKH, các tạp chí chuyên ngành, niên giám thống kê, số liệu từ các sở, ban ngành ở
Thừa Thiên Huế và các xã điều tra.
BQC
Bình quân số cơn bão đã trải qua Cơn 9,2 6,7 6,7 7,6
Bình quân số trận lụt đã trải qua Trận 0,4 2,9 1,7 1,7
Mức ngập lụt cao nhất trong nhà Mét 0,8 0,7 0,4 0,6
Số ngày bị ngập lụt dài nhất Ngày 3,0 4,0 2,6 3,5
Bình quân số đợt hạn hán đã trải qua Đợt 1,3 0,8 1,3 1,1
Bình quân số lần sạt lở đất Lần 0,8 1,1 1,4 1,0
Bình quân số đợt rét đậm, rét hại Đợt 2,3 2,8 2,5 2,5
(Nguồn: số liệu điều tra năm 2011). 382
Nhìn chung, người dân ở các xã nghiên cứu trong thời gian qua chịu ảnh hưởng
của rất nhiều loại thiên tai khác nhau như bão, lụt, hạn hán, sạt lở đất, rét đậm, Trong
gia đoạn 2008-2010, Vinh Hải chịu ảnh hưởng của nhiều đợt bão hơn so với Hải Dương
và Quảng Ngạn. Nguyên nhân của sự khác biệt này là do Vinh Hải có địa hình là một
dãy đất hẹp lồi hẵn ra phía biển đông, với chiều dài bờ biển gần 6 km, nên hằng năm
chịu ảnh hưởng của nhiều cơn bão hơn cả. Trong khi đó, với hai xã Quảng Ngạn và Hải
Dương có một số thôn nằm tiếp giáp với đầm phá nên hàng năm hai xã này chịu ảnh
hưởng của nhiều trận lũ lụt hơn so với Vinh Hải. Không có sự khác biệt đáng kể giữa 3
xã về một số loại hình thiên tai như hạn hán, sạt lở đất và rét đậm, rét hại.
3.2 Khả năng thích ứng của hộ gia đình đối với thiên tai
Để đánh giá khả năng thích ứng cấp hộ gia đình với thiên tai, người ta có thể sử
dụng phương pháp chỉ số với các nhóm chỉ số như: Nhóm chỉ số cơ sở hạ tầng (mức độ
kiên cố của nhà ở, khoảng cách từ nhà đến các trung tâm y tế; bệnh viện, diện tích đất
sản xuất nông nghiệp bình quân hộ); nhóm chỉ số kinh tế (thu nhập bình quân hộ; tỷ
trọng thu nhập phi nông nghiệp); Nhóm chỉ số công nghệ, kỹ thuật (khả năng tiếp cận
thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng; các loại tài sản mà hộ sở hữu như tivi,
xe máy, tàu thuyền); nhóm chỉ số vốn xã hội (khả năng tiếp cận các nguồn vốn; là thành
sự khác biệt đáng kể về các chỉ số này giữa hai xã Quảng Ngạn và Hải Dương.
3.3 Các biện pháp ứng phó với thiên tai được các hộ gia đình thực hiện
Số liệu bảng 3 cho thấy, kết quả điều tra của 3 xã về các biện pháp ứng phó của
hộ gia đình đã thực hiện đối với từng loại thiên tai khác nhau.
Bảng 3. Những biện pháp ứng phó với lụt, bão của các hộ điều tra (ĐVT:%)
Các biện pháp ứng phó
Vinh
Hải
Quảng
Ngạn
Hải
Dương
BQC
Ứng phó với lụt, bão
Sữa chữa, kiên cố lại nhà cửa 77,9 78,1 64,5 73,3
Dự trữ thức ăn, uống và nhu yếu phẩm 61,8 78,1 72,6 70,6
Di tản các thành viên đến nơi an toàn 32,4 43,8 38,7 38,1
Cập nhật thông tin cảnh báo thiên tai 27,9 15,6 21,0 21,6
Cắt tỉa cây gần nhà để ngăn cành cây gãy
23,5 4,7 6,5 11,9
Ứng phó với rét đậm, rét hại
Bón phân giữ ấm cho cây trồng 73,5 40,6 64,5 59,8
Dự trữ thức ăn cho vật nuôi trước mùa rét 21,5 48,4 54,8 51,5
Giữ ấm cho người và vật nuôi 20,6 7,8 24,2 17,5
Ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn
Nạo vét kênh mương, lòng hồ 16,2 12,5 8,1 12,4
Đầu tư, trang bị máy bơm 0 6,3 14,5 6,7
Đào giếng, đào hồ lấy nước 7,4 1,6 1,6 3,6
Ứng phó với sạt lở đất
trên địa bàn, cũng như người dân về các kỹ năng phòng chống, ứng phó với thiên tai,
các kỹ năng về theo dõi thông tin dự báo tời tiết,
+ Nhóm giải pháp nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý
- Không ngừng nâng cao trình độ và cập nhật kịp thời những kiến thức cơ bản về
quản lý rủi ro thiên tai và BĐKH cho cán bộ quản lý các cấp, các ngành đảm bảo lồng
ghép tốt các yêu cầu về thích ứng với BĐKH trong công tác xây dựng quy hoạch, chiến
lược phát triển KTXH của địa phương nhằm hạn chế thấp nhất những thiệt hại do
BĐKH gây ra.
- Nâng cao năng lực dự báo của các cơ quan chuyên môn nhằm dự báo một cách
chính xác và kịp thời các thiên tai, hiểm họa như bão, lụt, hạn hán, rét đậm, rét hại
- Xây dựng hệ thống cảnh báo thiên tai từ tỉnh đến huyện, xã, thôn theo các cấp
báo động. Từng bước trang bị thông tin liên lạc hiện đại (đặc biệt là ở các thôn, xã)
nhằm đảm bảo liên lạc thông suốt trong mọi tình huống.
+ Nhóm giải pháp công trình
- Tăng cường khả năng ứng phó với thiên tai và BĐKH thông qua việc kiên cố
hóa các công trình xây dựng của các xã. Các công trình xây dựng của xã như nhà ủy ban,
trường học, trạm xá, nhà cộng đồng,… vừa là nơi làm việc, vừa có chức năng là nơi trú
ẩn an toàn để người dân di dời khi bão, lũ xảy ra. 385
- Quy hoạch và phát triển hệ thống đê sông, đê biển, hệ thống tưới tiêu nhằm bảo
vệ và khai thác hiệu quả diện tích canh tác. Xây dựng và kiên cố hóa hệ thống cơ sở hạ
tầng, nhà cửa, công trình để chống chịu với thiên tai hàng năm.
- Hoàn thiện công tác tái định cư cho các hộ ở vùng dễ bị tổn thương, nhất là cho
các hộ ở ven đầm phá, gần sông, cửa biển, vùng có nguy cơ ngập lụt, lở nhằm giảm
thiểu thiệt hại về người và của khi có thiên tai xẩy ra.
- Xây dựng và kiên cố hóa nhà cửa, công trình: đối với những hộ ở vùng dễ ngập
lụt cần xây móng nhà cao hơn hoặc xây thêm gác lững, gia cố nhà cửa nhằm tăng cường
386
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi
khí hậu. Hà Nội, tháng 7/2008.
2. Huq, S., A. Rahman, M. Konate, Y. Sokona and H. Reid, Mainstreaming Adaptation to
Climate Change in Least Developed Countries. IIED, London, 2003.
3. Intercooperation, Adaptation of forest ecosystems and the forest sector to climate
change. 1238 Wisconsin Ave NW, Suite 204, Washington DC, 2003.
4. Smit, B. et al., Adaptation to climate change in the context of sustainable development
and equity in Climate Change 2001: Impacts, Adaptation and Vulnerability, (ed.) J.J.
Mc Carthy, O.F. Canziani, N.A. Contribution of Working Group III to the 3
rd
IPCC
Assessment, 2001.
5. Tuan T.H. & B.D. The, “Natural Disasters In Vietnam: A Synthesis From A Socio-
Economic Perspective" in the edited book "The Economic Impact of Natural Disasters",
by Debarati Guha-Sapir & Indhira Santos, Oxford University Press, 2012.
6. UNFCCC, The United Nations Climate Change Conference in Bali, P.O. Box 260 124,
D-53153 Bonn, Germany, November, 2007.
ENHANCING CLIMATE CHANGE ADAPTATION FOR HOUSEHOLDS IN
COASTAL AREAS OF THUA THIEN HUE PROVINCE
Tran Huu Tuan
College of Economics, Hue University
Abstract. This study aims to identify the adaptation actions undertaken by local
households to deal with natural disasters and climate changes. We conducted
household surveys in three communes including Vinh Hai, Hai Duong and Quang