Được sự phân công của Khoa Tài nguyên đất
và Môi trường Nông nghiệp, trường Đại học Nông
lâm Huế, sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn TS.
Hồ Kiệt, tôi đã thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu
quả và đề xuất hướng sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp vùng đồng bằng ven biển thị xã Hương
Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế”
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân
thành cảm ơn quý thầy, cô Khoa Tài nguyên đất
và Môi trường Nông nghiệp đã tận tình giảng
dạy, hướng dẫn trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu và rèn luyện tại trường Đại học Nông
lâm Huế.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo
hướng dẫn TS. Hồ Kiệt đã tận tình, chu đáo
hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn các cô, chú, anh, chị đang
công tác tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thị
xã Hương Trà đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong
suốt thời gian tôi thực tập tại cơ quan. Chúc các
cô, chú, anh, chị dồi dào sức khỏe và công tác
tốt.
Tuy đã cố gắng hết sức để hoàn thành khóa
luận này nhưng vẫn không thể tránh khỏi những
sai sót nhất định mà bản thân chưa nhận ra. Rất
mong nhận được những góp ý chân thành và quý
báu của các thầy, cô và các bạn để khóa luận
được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, Ngày 22 tháng 5
năm 2014
tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây. Hương Trà có 16 đơn vị hành chính trực
thuộc, gồm 7 phường và 9 xã; với diện tích tự nhiên là 51.853,4 ha, chiếm
khoảng 10,3% diện tích toàn tỉnh. Trung tâm hành chính - kinh tế - văn hóa của
thị xã là phường Tứ Hạ, cách thành phố Huế 15 km về phía Bắc. Địa hình của
thị xã được chia thành 3 vùng: vùng miền núi, gò đồi; vùng đồng bằng và vùng
đầm phá, ven biển. Thị xã Hương Trà có vai trò ngày càng quan trọng đối với
tỉnh Thừa Thiên Huế, là địa bàn cung cấp một lượng lớn lương thực, thực phẩm
cho thành phố Huế, đặc biệt là khu vực Bắc sông Hương.
Nước ta đang trên đà tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa làm tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng
ngành nông nghiệp. Mặc dù tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm đi nhưng giá trị
sản xuất lại được nâng cao đáng kể. Có thể nói rằng, nông nghiệp là hoạt động
sản xuất chính của hơn 70% lao động toàn thị xã và cũng là ngành sản xuất then
chốt trong nền kinh tế của thị xã Hương Trà.
Tốc độ đô thị hóa của thị xã Hương Trà đang diễn ra nhanh chóng đặc
biệt là ở các xã, phường vùng đồng bằng. Cùng với đó là sự gia tăng dân số nên
việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp ngày càng nhiều. Điều
này đã tạo ra áp lực rất lớn lên đất đai. Tuy nhiên, việc khai thác đất đai chỉ
nhằm mục đích đem lại lợi ích cao nhất về kinh tế mà không quan tâm tới các
khía cạnh khác như môi trường, xã hội. Đồng thời, để tăng thu nhập nhiều hộ gia
5
đình đã thay đổi cơ cấu cây trồng, thay đổi loại hình sử dụng trên đất sản xuất
nông nghiệp một cách tự phát và thiếu cơ sở khoa học dẫn tới giảm đa dạng sinh
học và ảnh hưởng đến tính bền vững trong sử dụng đất. Chính vì vậy, tiến hành
đánh giá toàn diện về hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của thị xã
Hương Trà trên cả ba phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường để đề ra giải
pháp khắc phục các vấn đề tồn tại cũng như hướng sử dụng đất hiệu quả, tiết
kiệm và bền vững là việc làm rất cấp bách hiện nay.
Thừa Thiên Huế đã và đang thực hiện Kế hoạch phát triển bền vững trong
giai đoạn 2008 - 2020 với những định hướng nhằm phát triển kinh tế - xã hội toàn
nghiệp tại địa bàn nghiên cứu?
- Cần có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp vùng đồng bằng ven biển thị xã Hương Trà trong thời gian tới?
7
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Những vấn đề liên quan đến đất đai
2.1.1. Khái niệm về đất đai
Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (Land scape ecology), đất đai
được coi là vật mang của hệ sinh thái. Đất đai được định nghĩa như sau: “Một
vạt đất xác định về mặt địa lý là một diện tích bề mặt của trái đất với những
thuộc tính tương đối ổn định, hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ, có thể dự đoán
được của sinh quyển bên trên, bên dưới, và bên trong nó như: không khí, đất
(soil), điều kiện địa chất, thực vật và động vật cư trú”. Những hoạt động hiện
nay và trước đây của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này ảnh
hưởng có ý nghĩa tới việc sử dụng đất đó của con người ở hiện tại và tương lai.
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất được nhìn nhận như một
nhân tố sinh thái (FAO, 1976). Trên quan điểm nhìn nhận của FAO, đất đai bao
gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng
nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất.
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động, đồng thời là sản
phẩm lao động. Khái niệm đất đai bao hàm nội dung mặt bằng lãnh thổ sử dụng
cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Tóm lại, từ những định nghĩa trên, có thể hiểu đơn giản như sau: Đất đai là
một vùng có ranh giới, vị trí cụ thể và có các thuộc tính tổng hợp của tự nhiên, kinh
tế, xã hội như khí hậu, địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự
nhiên, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do hoạt động của con người [2].
2.1.2. Đặc điểm của đất đai
2.1.2.1. Các đặc điểm tự nhiên của đất đai
Trong đất luôn có các đặc điểm tự nhiên được hình thành nhờ vào các tính
liệu sản xuất khác. Độ phì là khả năng của đất đai có thể cung cấp cho cây
trồng thức ăn, nước và những điều kiện khác cần thiết cho sự sinh trưởng và
phát triển của cây trồng.
- Tính giới hạn về số lượng
Cùng với sự phát triển của sức sản xuất, các tư liệu khác không ngừng
tăng lên về số lượng, riêng số lượng của đất đai (diện tích) bị giới hạn trong
phạm vi ranh giới của lục địa. Do là sản phẩm của tự nhiên, đất đai có tính
nguyên thủy là không thể gia tăng về số lượng.
Do vậy, việc sử dụng hợp lý, triệt để đất đai và không ngừng làm tăng
thêm hệ số sử dụng đất chính là một trong những biện pháp vô cùng quan trọng
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người.
- Tính cố định về không gian
Đất là tư liệu sản xuất có vị trí không thể thay đổi trong không gian. Đây
là tính chất đặc thù của đất làm cho những mảnh đất ở những vị trí khác nhau có
giá trị không giống nhau.
- Tính không thay thế
9
Trong quá trình sản xuất con người có thể thay tư liệu sản xuất này bằng
tư liệu sản xuất khác nhưng đất là tư liệu sản xuất không thể thay thế được đặc
biệt trong nông lâm nghiệp.
- Đất có khả năng tăng tính sản xuất
Nếu xét về mặt không gian (diện tích), đất là tư liệu vĩnh cửu, không chịu sự
phá hủy của thời gian. Mặt khác, nếu sử dụng hợp lý, hiệu quả thì độ phì nhiêu của
đất còn được nâng lên, cải thiện làm cho đất tốt lên về mặt chất lượng [6].
2.2. Sản xuất nông nghiệp
2.2.1. Khái niệm và đặc điểm sản xuất nông nghiệp
2.2.1.1. Khái niệm về sản xuất nông nghiệp (SXN)
Đất sản xuất nông nghiệp (SXN) là đất sử dụng vào mục đích sản xuất
nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm.
* Đất trồng cây hàng năm (CHN) là đất chuyên trồng các loại cây có thời
* Đất trồng cây lâu năm (CLN) là đất trồng các loại cây có thời gian sinh
trưởng trên một (01) năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian
sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như thanh
long, chuối, dứa, nho… bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm (LNC), đất
trồng cây ăn quả lâu năm (LNQ) và đất trồng cây lâu năm khác (LNK).
- Đất trồng cây công nghiệp lâu năm (LNC): là đất trồng cây lâu năm có
sản phẩm thu hoạch (không phải là gỗ) để làm nguyên liệu cho sản xuất công
nghiệp hoặc phải qua chế biến mới sử dụng được gồm chủ yếu là chè, cà phê,
cao su, hồ tiêu, điều, ca cao, dừa,…
- Đất trồng cây ăn quả lâu năm (LNQ): là đất trồng cây lâu năm có sản
phẩm thu hoạch là quả để ăn tươi hoặc kết hợp chế biến.
- Đất trồng cây lâu năm khác (LNK): là đất trồng cây lâu năm không phải
đất trồng cây công nghiệp lâu năm và đất trồng cây ăn quả lâu năm gồm chủ yếu
là đất trồng cây lấy gỗ, lấy bóng mát, tạo cảnh quan không thuộc đất lâm nghiệp,
đất vườn trồng xen lẫn nhiều lại cây lâu năm hoặc cây lâu năm xen lẫn cây hàng
năm [8].
2.2.1.2. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
- Sản xuất nông nghiệp có tính vùng: Sản xuất nông nghiệp được tiến
hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang
tính chất khu vực rõ rệt. Chịu ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu (nhiệt độ, lượng
mưa, ánh sáng, độ ẩm…) rất lớn.
- Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và
không thể thay thế được. Ruộng đất bị giới hạn về diện tích, con người không
thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan nhưng sức sản xuất ruộng đất là chưa có
11
giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thỏa
mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm. Do đó trong quá trình sử
dụng phải biết quý trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế chuyển đổi đất
nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp, tìm cách để cải tạo, duy trì và
nâng cao độ phì nhiêu của đất.
sinh tồn của cây trồng, là môi trường hòa tan các chất tạo ra chất dinh dưỡng
cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, nó cũng là điều kiện quan trọng cho sự
phát triển tập đoàn vi sinh vật đất.
- Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: trong nhóm yếu tố này độ phì của
đất có ảnh hưởng lớn nhất đến sự sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất
cây trồng vật nuôi.
- Vị trí địa lý: vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh
sáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp… sẽ quyết
định đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất. Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất
nông lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có
nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội, môi trường.
- Điều kiện khí hậu: các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất
nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người. Tổng tích ôn, nhiệt độ bình
quân, sự khác nhau về nhiệt độ, ánh sáng, về thời gian và không gian… trực tiếp
ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và
thực vật thủy sinh,… lượng mưa, bốc hơi có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ
nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cũng cấp nước cho sinh
trưởng của cây trồng, gia súc, thủy sản [13].
2.2.2.2. Biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác chính là các tác động của con người vào đất
đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản
xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Biện pháp kỹ thuật canh
tác là những tác động mà thông qua đó thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người
về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự
báo thông minh, sắc sảo của con người. Chính sự hiểu biết sâu sắc đó giúp con
người lựa chọn loại tác động kỹ thuật, chủng loại cũng như cách sử dụng các yếu
tố đầu vào một cách phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục
tiêu đề ra.
Với biện pháp canh tác thô sơ, con người chỉ có thể khai thác và sử dụng
hiệu quả lớp đất bề mặt. Việc ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ sẽ góp phần
thể hiện ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về
vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền
thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất. Do
vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập nhật
thông tin khoa học, kỹ thuật là hết sức quan trọng.
- Hệ thống chính sách: Bao gồm chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
phục vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách
định canh định cư, chính sách dân số, lao động, việc làm, đào tạo kiến thức,
14
chính sách khuyến khích đầu tư, xóa đói giảm nghèo… Các chính sách này đã
có những tác động rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các
loại hình sử dụng đất mới [7].
Tóm lại: Tùy vào thực tế của từng vùng, từng địa phương mà có thể nhận
biết thêm nhiều nhân tố khác cũng có tác động đến hiệu quả sử dụng đất, có
nhân tố ảnh hưởng trực tiếp nhưng có những nhân tố lại ảnh hưởng gián tiếp, có
nhân tố thuận lợi và cũng có nhân tố hạn chế. Do đó, cần phải tìm ra những nhân
tố có tác động chủ yếu tới hiệu quả sử dụng đất của địa bàn nghiên cứu trên cơ
sở đó đề xuất những biện pháp thích hợp để thay đổi nhằm nâng cao hiệu quả.
2.2.3. Vai trò của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp
với tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và với nước ta nói riêng - đất
nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời. Vấn đề đặt ra hiện nay là người tham
gia sản xuất nông nghiệp phải có cái nhìn toàn diện về ngành kinh tế này, đồng
thời kỹ năng chăm sóc, nuôi trồng và sự quan tâm của họ đối với nông nghiệp
phải thỏa đáng. Mặc khác, họ phải gắn lợi ích sản xuất với các quá trình sinh
học diễn ra trong sản xuất vì tiềm năng sinh học của cây trồng, vật nuôi phát
triển theo quy luật sinh học nhất định mà con người không thể can thiệp vào các
quá trình như phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng.
Vai trò đầu tiên của ngành nông nghiệp đó là ngành cung cấp lương thực cho
triển mạnh mẽ nông nghiệp.
Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu. Đây cũng được coi là nguồn thu
nhập ngoại tệ lớn ở các nước đang phát triển chủ yếu dựa vào các loại nông,
lâm, thủy sản. Tỷ trọng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cao sẽ làm tiền đề cho
công nghiệp, dịch vụ phát triển và tỷ trọng này sẽ giảm dần cùng với sự phát
triển cao của nền kinh tế [9].
2.2.4. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng ven biển
- Sản xuất nông nghiệp ở vùng đồng bằng ven biển chủ yếu là sản xuất cây
hàng năm như lúa, ngô, sắn, cây thực phẩm và nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó còn
có cây lâu năm, chủ yếu là cây ăn quả trong các vườn của hộ gia đình.
- Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu là hộ gia đình. Số lượng các trang trại
có quy mô sản xuất lớn, khép kín như vườn - ao - chuồng (VAC), vườn - ao -
chuồng - ruộng (VACR) không nhiều vì bị hạn chế bởi diện tích đất đai.
- Lực lượng lao động nông nghiệp có trình độ thâm canh tốt hơn so với
khu vực miền núi. Bên cạnh đó lực lượng lao động vùng đồng bằng ven biển có
nhiều cơ hội để làm thêm các ngành nghề phụ trong thời gian nông nhàn.
- Giao thông, thủy lợi và hệ thống phân phối vật tư nông nghiệp đầy đủ,
thuận tiện cho quá trình sản xuất [5].
2.3. Lý luận về hiệu quả sử dụng đất
16
2.3.1. Khái niệm về hiệu quả
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả: Kết quả là hiệu quả; hiệu
quả là sự tăng trưởng GDP; hiệu quả là nâng cao mức sống cho người dân, mục
tiêu là nền sản xuất xã hội phát triển; hiệu quả là mức độ tiết kiệm chi phí trong
một đơn vị sản xuất và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.
Theo Trung tâm từ điển ngôn ngữ: Hiệu quả chính là kết quả cũng như
yêu cầu của việc làm mang lại. Do đó, hiệu quả sử dụng đất được hiểu là kết quả
của quá trình sử dụng đất [11].
Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: “Hiệu quả sử dụng đất là chỉ
tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế. Thể hiện
sử dụng đất là: trên một diện tích đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của
cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp
nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội. Xuất phát từ
vấn đề này mà trong quá trình đánh giá đất nông nghiệp cần phải chỉ ra được
loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao nhất.
2.3.1.2. Hiệu quả xã hội
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chính
là thể hiện mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại.
Theo Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự thì hiệu quả xã hội là mối tương
quan so sánh giữa kết quả về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra.
Hiệu quả về mặt xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác
định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp [15].
Biểu hiện của hiệu quả xã hội:
- Thứ nhất là mức độ thu hút lao động và giải quyết công ăn việc làm cho
người dân với mức thu nhập có thể chấp nhận được.
- Thứ hai, trình độ dân trí của người dân, mức độ nhận thức và tiếp thu
khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp góp phần nâng cao năng suất
và chất lượng sản phẩm.
- Thứ ba, sự phát triển cơ sở ha tầng phục vụ cho sản xuất và đáp ứng các
nhu cầu khác của người dân.
- Thứ tư, đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định chính trị, an ninh lương
thực và khả năng bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
2.3.1.3. Hiệu quả môi trường
Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không
có những tác động xấu đến vấn đề môi trường như đất, nước, không khí về hệ
sinh học; là hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không
làm cho môi trường xấu đi mà ngược lại quá trình sản xuất đó còn làm cho môi
trường xanh, sạch, đẹp hơn trước. Hiệu quả môi trường vừa đảm bảo lợi ích
18
trước mắt vì phải gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng đất, vừa đảm bảo lợi
đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Ngoài ra cũng theo tác giả này, phát
triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp khi con người biết cách làm cho môi
trường phát triển, điều này không đồng nghĩa với việc đánh giá hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp phải quan tâm tới những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp
19
tới môi trường xung quanh [3].
2.3.2.2. Ý nghĩa của đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa đặc
biệt đối với đời sống xã hội nói chung và đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng.
Khi đánh giá về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sẽ thu được các kết quả:
- Xác định được hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất đai, từ đó đưa ra
những quyết định đúng đắn trong việc bố trí sản xuất, đạt lợi nhuận cao nhất.
- Đi sâu vào những lợi ích, bất cập về mặt xã hội của việc sử dụng đất
nông nghiệp đem lại như tăng thu nhập, giải quyết công ăn việc làm, sự phù hợp
của quá trình sản xuất với tập quán, văn hóa của vùng. Từ đó khuyến cáo với
các cấp chính quyền và người dân bố trí lao động, cơ sở vật chất, hạ tầng xã hội
cho phù hợp.
- Xem xét sự ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường sinh thái,
đặc biệt là môi trường đất. Đề xuất những loại hình sử dụng đất phù hợp với từng
khu vực, phương án cải tạo đất, chất lượng nước và môi trường xung quanh.
2.4. Tình hình sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam
Kinh tế Việt Nam gồm công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ
nhưng nông nghiệp là ngành có sức lan tỏa lớn nhất, có tính kết nối rất cao với
nhiều ngành kinh tế. Nông nghiệp cung cấp đầu vào cho công nghiệp chế biến
thực phẩm, chế biến xuất khẩu; đồng thời, sử dụng sản phẩm của các ngành
công nghiệp và dịch vụ, như: nhiên liệu, phân bón, hóa chất, máy móc cơ khí,
năng lượng, tín dụng, bảo hiểm Ngoài ra, nông nghiệp còn liên quan mật thiết
đến sức mua của dân cư và sự phát triển thị trường trong nước. Với 50% lực
lượng lao động cả nước đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và 70% dân
số sống ở nông thôn, mức thu nhập trong nông nghiệp sẽ có ảnh hưởng rất lớn
vụ khác. Chi phí sản xuất ngày càng cao cũng bắt đầu làm giảm khả năng cạnh
tranh của các sản phẩm của nông nghiệp Việt Nam với vị thế là nước sản xuất có
chi phí thấp so với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do đầu tư cho nông
nghiệp ngày càng giảm dần, không tương xứng với sự đóng góp của nông
nghiệp cho nền kinh tế. Nếu như năm 2000, tỷ trọng đầu tư vào ngành Nông
nghiệp chiếm 13,85% tổng đầu tư của xã hội, thì tới năm 2005 chỉ còn 7,5%;
năm 2008: 6,45%; năm 2009: 6,26%; năm 2010: 6,2%. Đầu tư từ ngân sách nhà
nước và trái phiếu Chính phủ cho nông nghiệp cũng giảm, từ 21,5% năm 2006
xuống 21,3% năm 2010 trong tổng số.
Đặc biệt, việc thống kê về đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn rất khó bóc
tách do có rất nhiều khoản chi cho công nghiệp, kết cấu hạ tầng quốc gia nằm trên
địa bàn nông thôn. Trong khi đó, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp luôn chịu
độ rủi ro rất cao (Tuy chính sách bảo hiểm nông nghiệp đã được ban hành nhưng
mới chỉ thực hiện thí điểm ở 20 tỉnh, thành phố) khiến các doanh nghiệp dè dặt khi
21
đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã giảm đáng kể,
từ 8% năm 2001 xuống còn chỉ 1% năm 2010. Đầu tư của tư nhân trong nước chỉ
chiếm từ 13 - 15% tổng số vốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.
Nguyên nhân tiếp theo là thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là các
tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất, chế biến nông sản được đưa vào ứng dụng sản
xuất chưa nhiều nên năng suất, chất lượng hiệu quả trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng, khai thác hải sản còn thấp.
Tình trạng sản xuất nông nghiệp manh mún, ruộng đất bị xé lẻ, phần lớn
nông hộ có diện tích đất nhỏ, rải rác làm tăng rủi ro, ngăn cản quá trình áp dụng
công nghệ tiên tiến, khó bảo quản hàng hóa, tăng chi phí sản xuất, gây phức tạp
cho quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm soát dịch bệnh.
Một nguyên nhân khác là công nghiệp chế biến nông sản vẫn còn kém
phát triển. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô, trong khi hàng hóa
thành phẩm được sản xuất ở nước khác và sau đó lại được nhập khẩu trở lại
* Những thành quả đạt được
- Diện tích gieo trồng các cây trồng chính ổn định, riêng lúa tăng 977
ha, năng suất lúa tăng 02 tạ/ha, góp phần đưa sản lượng lúa trên địa bàn toàn
tỉnh đạt trên 29 vạn tấn/năm, đảm bảo an ninh lương thực tại địa phương. Năng
suất các loại cây khác như sắn, lạc đều có tăng lên so với năm trước.
- Công tác khảo nghiệm, chọn lọc giống mới có chất lượng cao để đưa vào
trong sản xuất ngày càng được chú trọng. Cơ cấu cây trồng được chuyển dịch
theo hướng phát triển về chất lượng sản phẩm. Các giống lúa mới có chất lượng
cao (như HT1, IRi352, HT6, HC95, BT7), giống lạc mới L14, L18; giống sắn
công nghiệp được đưa vào sản xuất với diện tích ngày càng tăng, tạo được sản
phẩm mang tính hàng hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích.
- Công tác khuyến nông, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật được tiến hành
thường xuyên, kịp thời và ngày càng có hiệu quả, đã có tác động tích cực đến
nâng cao thu nhập cho người dân. Các dịch vụ phục vụ sản xuất như cung ứng
giống, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tưới tiêu được nâng cao đã đáp
ứng được phần lớn nhu cầu của người nông dân, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Tình hình giá cả vật tư phân bón, giá nông sản phẩm từng bước ổn định theo
chiều hướng có lợi cho người sản xuất.
- Công tác bảo vệ thực vật, thú y được chú trọng, mạng lưới ở cơ sở
không ngừng được củng cố và phát triển, công tác điều tra dự tính dự báo,
phòng chống dịch bệnh được thực hiện thường xuyên, kịp thời, có hiệu quả.
- Các chính sách hỗ trợ của tỉnh để phát triển sản xuất và khắc phục thiên
tai được ban hành kịp thời nên phát huy hiệu quả, có vai trò lớn trong kết quả
đạt được của sản xuất nông nghiệp năm 2010.
* Những tồn tại, hạn chế
- Cơ cấu giống lúa chủ lực vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể, có giống đã
23
tồn tại qua nhiều năm, nhiễm nặng các loại sâu bệnh đang còn chiếm tỷ lệ lớn,
chưa có nhiều giống có khả năng chống chịu bệnh đạo ôn, lem lép hạt, rầy,
chưa lựa chọn và đưa ra sản xuất các giống có năng suất cao và chống chịu hạn
- Thực trạng và hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp vùng đồng
bằng, ven biển tại thị xã Hương Trà.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu các số liệu từ năm 2005 đến năm
2013, được thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày 02/01/2014 đến ngày
06/05/2014.
- Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành tại các xã, phường vùng đồng
bằng và ven biển thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Hương Trà.
- Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của địa bàn.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của vùng thông qua
một số loại hình sử dụng đất chính.
- Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản
xuất nông nghiệp.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
3.4.1.1. Số liệu thứ cấp
Các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình sử
dụng đất… từ các báo cáo của địa phương, định hướng sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp của thị xã, quy hoạch sử dụng đất.
3.4.1.2. Số liệu sơ cấp
Xây dựng phiếu điều tra nông hộ. Tiến hành điều tra ở các xã vùng đồng
bằng ven biển thị xã Hương Trà về mùa vụ, cơ cấu cây trồng, mức đầu tư, lợi
nhuận thu được, những khó khăn, thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp…
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành điều tra được 188
hộ trong tổng số 200 hộ dự kiến tại 7 xã, phường vùng đồng bằng ven biển thị
25