PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước phát triển nông nghiệp lâu đời. Các sản phẩm từ
nông nghiệp của nước ta rất phong phú đa dạng và có chất lượng tốt đã
đươc xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới, tiêu biểu phải kể đến: gạo, cà
phê, hồ tiêu Với lợi thế về điều kiện tự nhiên thêm vào đó nước ta lại có
nguồn phế thải nông nghiệp khá dồi dào, dẫn đến sự hình thành gần như là
tất yếu: nghành sản xuất nấm, trong đó trồng nấm rơm là một xu hướng
được rất nhều vùng nông thôn chọn lựa để phát triển vì tinh hiệu quả kinh
tế của nó
Nấm rơm hay nấm mũ rơm (danh pháp khoa học: Volvariella volvacea)
là một loài nấm trong họ nấm lớn sinh trưởng và phát triển từ các
loại rơm rạ. nấm gồm nhiều loài khác nhau, có đặc điểm hình dạng khác
nhau như có loại màu xám trắng, xám, xám đen… kích thước đường kính
“cây nấm” lớn, nhỏ tùy thuộc từng loại. Là loại nấm giàu dinh dưỡng. Nấm
rơm chứa nhiều vitamin A, B1, B2, PP, D, E, C và chứa 7 loại a-xít amin,
nấm rơm là món ăn trị nhiều bệnh là loại quen thuộc, nhất là các làng quê
vì thường được sử dụng làm thực phẩm. Nấm rơm là một loại thực phẩm có
từ lâu đời của Việt Nam. Nghề trồng nấm không những đem lại hiệu quả
kinh tế mà các món ăn chế biến từ nấm rơm còn là một vị thuốc chữa bệnh
cho con người. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới rất phù hợp để trồng nấm
rơm. Trồng nấm rơm sử dụng ít diện tích, nguồn nguyên liệu chủ yếu được
tận dụng từ rơm rạ, chi phí nuôi trồng thấp, giá bán tương đối cao, đem lại
hiệu quả cho người trồng nấm.
1
Huyện Tiên Lãng là một huyện trồng nấm rơm nhiều nhất của thành phố
Hải Phòng. Nhân dân trong huyện ngoài trồng lúa nhằm cung cấp lương
thực còn coi trồng nấm rơm là một nghề chính đem lại thu nhập cho gia
đình. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thời tiết, biến động của thị trường, ảnh
hưởng của khủng hoảng kinh tế công tác bảo quản nấm thu hoạch còn khó
- Hiệu quả kinh tế là gì? Nêu nội dung và bản chất của hiệu quả kinh
tế? Tiêu thụ, hiệu quả tiêu thụ là gì?
- Thực trạng tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm rơm trên địa bàn
huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng như thế nào?
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới công tác tiêu thụ nấm của các hộ
nông dân trồng nấm?
- Các biện pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả trong tiêu thụ nấm rơm
của các hộ nông dân tại Tiên Lãng?
3
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm.
2.1.1.1 Khái niệm nấm
Theo quan niệm cũ, nấm là thực vật, nhưng là thực vật không có diệp
lục tố. Tuy nhiên, những nghiên cứu ngày càng nhiều về sinh lý và dinh
dưỡng, cho thấy nấm khác biệt với thực vật.
- Nấm không có khả năng quang hợp, nghĩa là không thể tự tổng hợp các
chất hữu cơ cho cơ thể từ nước và khí CO
2
.
- Vách tế bào chủ yếu là chitin và glucan.
- Nấm dự trữ đường dưới dạng glycogen, thay vì tinh bột. Có thể so sánh
các túi nấm mèo, nấm sò với các cây trồng để hiểu rõ vấn đề. Cây trồng có
rễ, thân, lá, hoa và quả (có cây có củ). Cái nấm mà ta thấy mọc ra trên túi
giá thể chỉ là cơ quan sinh sản, tương tự như quả của cây nên còn gọi
là “quả thể”. Nấm rơm khi già nở ra, phía dưới mũ nấm có những hạt bụi
màu hồng, đó là các bào tử tương tự như hạt của cây trồng.
Nấm mộc nhĩ (nấm mèo), nấm bào ngư (nấm sò) mọc ra từ túi nấm khi
đã có màu trắng. Hay khi trồng nấm rơm, ta dễ nhận thấy là ở những chỗ
kiện thuận lợi chũng sẽ nẩy mầm theo nhiều hướng và tạo ra những sợi tơ
thứ cấp. Quá trình tạo quả thể nấm rơm trải qua 6 giai đoạn:
- Giai đoạn đinh ghim
- Giai đoạn hình nút nhỏ
- Giai đoạn hình nút
- Giai đoạn hình trứng
5
- Giai đoạn hình chuông
- Giai đoạn trưởng thành
* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm
rơm
- Nhiệt độ:
Nhiệt độ tối thích cho sợi nấm phát triển là 30-32
0
C và cho sự hình
thành của quả thể là 30
0
C.
Từ 10
0
-20
0
C: sợi sinh trưởng yếu; ở 20
0
C: quả thể hình đinh ghim sẽ
bị chết sau 12 giờ và sự sinh trưởng của quả thể hình cầu bị đình chỉ.
Dưới 15
0
C và trên 45
0
năm.
2.1.1.3 Hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh tế. Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có
phục vụ cho lợi ích của con người có nghĩa là nâng cao chất lượng của các
hoạt động kinh tế. Nâng cao HQKT là một đòi hỏi khách quan của mọi nền
sản xuất xã hội, xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày
càng tăng. Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế làm xuất hiện phạm trù
HQKT (Nguyễn Tiến Mạnh, 1995).
Một là, theo quan điểm triết học Macxit thì bản chất của HQKT là sự
thực hiện yêu cầu của qui luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử
dụng nguồn lực của xã hội. Các Mác cho rằng qui luật tiết kiệm thời gian là
qui luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản
xuất. Mọi hoạt động của con người đều tuân theo qui luật này, nó qui định
động lực phát triển của lực lượng sản xuất tạo điều kiện phát triển xã hội
và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại.
7
Hai là, theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là
một hệ thống các yếu tố sản xuất và các mối quan hệ vật chất hình thành
giữa con người với con người trong quá trình sản xuất. Hệ thống sản xuất
xã hội bao gồm trong nó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và
tiếp tục đời sống xã hội. Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội, đáp ứng
các nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yếu tố khách quan
phản ánh mối liên hệ nhất định của con người đối với môi trường bên
ngoài, đó là quá trình trao đổi chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môi
trường.
Ba là, HQKT là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà là
mục tiêu phương tiện xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế. Trong kế hoạch,
hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra, là lợi ích lớn
nhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi
quả là một đại lượng vật chất được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội
dung tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể. Khi xác định HQKT không nên
chỉ quan tâm đến hoặc là quan hệ so sánh hoặc là quan hệ tuyệt đối mà nên
xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng tương đối
và đại lượng tuyệt đối. HQKT ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản
phẩm, thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
HQKT trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi phối: quy
luật cung - cầu và quy luật năng suất cận biên giảm dần.
HQKT là một đại lượng để đánh giá, xem xét kết quả hữu ích được tạo
ra như thế nào, chi phí là bao nhiêu, trong điều kiện sản xuất cụ thể nào, có
được chấp nhận hay không? Như vậy, HQKT liên quan trực tiếp đến yếu tố
đầu vào và các yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất.
9
Việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKT trong sản xuất nông nghiệp
là rất đa dạng và ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có
chi phí vật chất, lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất. Việc đánh
giá phần lớn phụ thuộc vào quy trình sản xuất là sự kết hợp gắn bó giữa các
yếu tố đầu vào và khối lượng đầu ra, nó là một trong những nội dung hết
sức quan trọng trong việc đánh giá HQKT. Tuỳ thuộc vào từng ngành, quy
mô, đặc thù của ngành sản xuất khác nhau thì hiệu quả kinh tế được xem
xét dưới góc độ khác nhau, cũng như các yếu tố tham gia sản xuất. Xác
định các yếu tố đầu ra: Các mục tiêu đạt được phải phù hợp với mục tiêu
chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hoá sản xuất ra phải được trao đổi
trên thị trường, các kết quả đạt được là: Khối lượng, sản phẩm, lợi nhuận…
Xác định các yếu tố đầu vào: Đó là những yếu tố chi phí về vật chất, cung
lao động, vốn…
Phân tích HQKT trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị
trường, việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra gặp các trở ngại sau:
- Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu vào: Tính khấu hao, phân
bổ chi phí, hạch toán chi phí… yêu cầu này phải chính xác và đầy đủ.
của người sản xuất nhờ đó hàng hoá được chuyển thành tiền thực hiện vòng
chu chuyển vốn trong người sản xuất và chu chuyển tiền tệ trong xã hội,
đảm bảo phục vụ cho nhu cầu xã hội.
Tiêu thụ hàng hóa là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh doanh, là
yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của người sản xuất.
* Hiệu quả tiêu thụ
Trong cơ chế cạnh tranh đầy khắc nghiệt, môi trường kinh doanh của
người sản xuất luôn biến động đòi hỏi mỗi người sản xuất đều phải tự vận
động để tìm ra phương án kinh doanh có hiệu quả nhất đặc biệt là hiệu quả
của việc tiêu thụ hàng hóa. Vì vậy ngay từ khi sản xuất hàng hoá người sản
11
xuất phải tính xem tình hình tiêu thụ như thế nào để đem lại hiệu quả cao
nhất. Do đó hiệu quả tiêu thụ là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử
dụng các nguồn nhân lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa kết quả
đạt được và chi phí bỏ ra trong quá trình tiêu thụ hàng hóa của người sản
xuất.
Hiệu quả tiêu thụ được thể hiện dưới hai hình thức:
(1) H=K- F
(2) H=K/ F
H. Hiệu quả tiêu thụ.
K. Kết quả tiêu thụ.
F. Chi phí bỏ ra trong quá trình tiêu thụ.
Ở công thức 1 ta chưa thấy hết được hiệu quả tiêu thụ do còn phụ
thuộc vào những yếu tố chi phí trong tiêu thụ. Theo công thức (2) thì
nhược điểm trên được khắc phục, vì chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả tiêu
thụ càng cao và ngược lại.
2.1.2 Đặc điểm tổ chức tiêu thụ nấm rơm.
- Cung về sản phẩm nấm rơm được hiểu là khả năng ngành sản xuất
nấm rơm có thể cung cấp cho thị trường một khối lượng sản phẩm nấm
trong điều kiện các yếu tố khác không đổi.
+ Chủng loại, chất lượng sản phẩm và giá cả sản phẩm nấm rơm hàng hóa
trên thị trường.
+ Quan hệ cung cầu về sản phẩm nấm rơm và kết cấu sản xuất, tiêu dùng.
+ Sự phát triển nhu cầu tự nhiên của người tiêu dùng, thị hiếu và tập quán
người tiêu dùng.
+ Sức mua hay khả năng thanh toán của người tiêu dùng.
+ Sự phát triển của thương mại quốc tế và khả năng hòa nhâp các loại sản
phẩm nấm trên thị trường thế giới.
13
+ Trình độ tập trung chuyên môn hóa trong sản xuất nấm và sự phát triển
của ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ nấm rơm.
+ Chính sách về sản xuất và lưu thông hàng hóa của nhà nước trong từng
thời kỳ.
- Thị trường sản phẩm nấm rơm xét từ khía cạnh cung: Khối lượng
sản phẩm nấm rơm đưa ra thị trường tuy có thay đổi nhưng không thể có
biến đổi lớn trong khoảng thời gian nhất định. Không phải có nhu cầu tiêu
dùng và giá đắt là người sản xuất cung ngày một khối lượng lớn sản phẩm
ra thị trường được vì sản xuất nấm rơm còn phụ thuộc vào thời vụ.
- Thị trường nấm rơm có tính thời vụ: Chính vì thế mà cung và cầu
sản phẩm nấm rơm trên thị trường không cân bằng cả về không gian và
thời gian
- Sự hình thành và phát triển của thị trường sản phẩm nấm rơm gắn
liền với việc sử dụng các yếu tố sinh học và có quan hệ chặt chẽ với việc
duy trì sức khỏe đời sống con người.
- Sự hình thành và phát triển của thị trường sản phẩm nấm rơm gắn
chặt với việc khai thác và sử dụng lợi thế so sánh các điều kiện tự nhiên,
khí hậu và thời tiết.
2.1.3 Vai trò ý nghĩa của ngành sản xuất nấm.
Nấm là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Hàm lượng protein
chỉ sau thịt, cá, nấm rất giàu khoáng và các axit amin không thay thế, các
khẩu còn hạn chế.
Sản xuất nấm nhằm cải thiện môi trường sinh thái. Với đặc trưng của
ngành trồng nấm là không trồng trên đất, không phun thuốc trừ sâu, không
bón phân, thời gian trồng và thu hoạch nhanh nên các sản phẩm dễ dàng
được công nhận tiêu chuẩn rau sạch.
15
Sản xuất nấm còn góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
vì sau khi thu hoạch nấm thì tạo ra một khối lượng phân hữu cơ rất lớn từ
nguồn nguyên liệu trồng, đây cũng là yếu tố làm tăng năng suất cây trồng.
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới tiêu thụ nấm rơm.
- Yếu tố sản xuất:
Để tiêu thụ nấm rơm được nhanh chóng và thuận lợi thì khâu sản
xuất phải đảm bảo là chỉ sản xuất với số lượng đủ nhu cầu của thị trường,
cơ cấu sản phẩm phải thích hợp với nhu cầu của thị trường, chất lượng sản
phẩm đảm bảo, giá sản phẩm hạ. Trong đó quan trọng nhất là chất lượng
sản phẩm và giá cả sản phẩm. Để có được điều này, người nghiên cứu phải
tiến hành nghiên cứu quá trình sản xuất, trồng những loại nấm có giá trị
cao chất lượng tốt, nghiên cứu quá trình sản xuất để tối thiểu hóa chi phí
sản xuất sản phẩm. Hiện nay trong công tác nghiên cứu nhu cầu của thị
trường của các hộ nông dân còn gặp khó khăn do thiếu trình độ, khả năng
nắm bắt thông tin còn hạn chế. Do đó các cơ quan chức năng, quản lý nhà
nước cần vào cuộc để hỗ trợ nông dân nắm bắt, cập nhật chính xác nhu cầu
của thị trường để có kế hoạch sản xuất nấm cụ thể hạn chế tồn đọng sản
phẩm.
- Thị trường tiêu thụ nấm:
Thị trường tiêu thụ nấm rơm chịu ảnh hưởng các quy luật giá trị, quy
luật cạnh tranh, quy luật cung cầu như các thị trường khác. Nó là sự kết
hợp chặt chẽ giữa hai khâu sản xuất và tiêu thụ. Nếu thị trường tiêu thụ
chấp nhận thì quy mô sản xuất sẽ được duy trì và mở rộng phát triển mở
rộng.
nhiên không phải điều đó lúc nào cũng đúng vì nó bị chi phối bởi thói quen
tiêu dùng nấm của từng người. Khi người tiêu dùng có thói quen sử dụng
17
nấm rơm thì họ ít khi thay đổi chuyển sang dùng các loại nấm khác hoặc
các loại thực phẩm khác thay thế.
- Sự cạnh tranh của đối thủ cạnh tranh trên thị trường:
Sự cạnh tranh của các đối thủ có thể là cạnh tranh về giá cả, về chất
lượng sản phẩm, cạnh tranh về quảng bá thương hiệu sản phẩm. Đối với
các doanh nghiệp chế biến nấm ăn, sự cạnh tranh quá khốc liệt có thể làm
giảm sản lượng bán hàng của doanh nghiệp đó, dẫn đến giảm sản lượng
tiêu thụ của người sản xuất nấm rơm cung cấp nguyên liệu cho doanh
nghiệp đó.
- Chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm:
Đối với người sản xuất nấm nhỏ lẻ, đầu ra sản phẩm rất quan trọng.
Do đó nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ bao tiêu sản phẩm bằng
việc liên hệ với các doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp tiêu thụ nấm tạo
liên kết giữa họ với nh sản phẩm.
- Thương hiệu sản phẩm:
Xây dựng thương hiệu sản phẩm là 1 quá trình lâu dài, bắt đầu từ khi
sản phẩm đầu tiên cung cấp ra thị trường. Thương hiệu sản phẩm được xây
dựng chủ yếu thông qua chất lượng sản phẩm, giá bán sản phẩm. Đối với
sản xuất nấm, thương hiệu của sản phẩm cần được xây dựng lâu đời. Khi
đó người tiêu dùng chỉ cần nhắc đến sản phẩm nấm ở đâu là họ biết ngay
được chất lượng sản phẩm đó như thế nào.
2.1.5 Các hình thức tiêu thụ nấm ăn.
- Tiêu thụ trực tiếp:
Người sản xuất nấm ăn bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Nấm ăn ở
đây có thể là nấm tươi hoặc nấm đã qua chế biến. Đây là kênh tiêu thụ có
giá thành cao nhất nhưng sản lượng bán hàng có thể thấp và tốn nhân lực
bán hàng. Người sản xuất cần có địa điểm tiêu thụ hoặc tiêu thụ tại nhà.
giảm một phần lợi nhuận của người sản xuất nấm do phải chia sẻ với các trung
gian khác. Đối với các trung gian người sản xuất nấm có thể gặp khó khăn trong
việc kiểm soát hành vi của họ trong việc tiêu thụ sản phẩm do họ là những tổ
chức độc lập với người sản xuất nấm. Các thông tin về thị trường và thông tin
phản hồi của khách hàng về sản phẩm có thể không chính xác khi về đến người
sản xuất nấm do phải qua nhiều cấp trung gian. Hoạt động của người sản xuất
nấm có thể bị ảnh hưởng nếu giữa người tiêu dùng và các trung gian hoặc giữa
trung gian và người sản xuất xảy ra trục trặc. Khi sử dụng các trung gian trong
kênh phân phối, người sản xuất nấm có thể giảm mức độ mạo hiểm khi thâm
nhập một thị trường mới do các trung gian là những người am hiểu về khu vực
thị trường mà họ phụ trách và họ đã xây dựng được một mạng lưới phân phối.
Kênh một cấp
Kênh cấp hai
Kênh ba cấp
20
Người sản xuất Người bán lẻ Người tiêu dùng
Người
sản
xuất
Người
bán
buôn
Người
bán lẻ
Người
tiêu
dùng
Người
Sản
hương. Mỗi năm gần 1 triệu tấn nguyên liệu. Hàn quốc nổi tiếng với nấm Linh
chi, mỗi năm xuất khẩu thu về hàng trăm triệu USD. Ở Trung Quốc từ những
năm 1960 bắt đầu trồng nấm có áp dụng các biện pháp cải tiến kỹ thuật nên
năng suất gấp 4-5 lần và sản lượng tăng vài chục lần. Tổng sản lượng nấm ăn
của Trung Quốc chiếm 60% sản lượng nấm ăn của thế giới gồm nhiều loại nấm
như: nấm mỡ, nấm hương, mộc nhĩ, nấm sò, nấm kim châm và một số loại nấm
khác chỉ có ở Trung Quốc như Đông Trùng Hạ Thảo. trào sản xuất nấm
21
Theo số liệu thống kê của Chang (1993, 2005) sản lượng nấm rơm đứng thứ
hai sau nấm mỡ (Agaricus bisporus):
Sản lượng của một số nấm ăn trên thế giới (Chang, 1993)
Tên nấm Tên khoa học Năm 1986(tấn) Năm 1991(tấn) Tỉ lệ tăng (%)
Nấm mỡ Agaricus bisporus 1.215.000 1.590.000 30,9
Nấm rơm Lentinula edodes 320.000 526.000 64,4
Nấm bào ngư Pleurotus spp. 169.000 917.000 442,6
Nấm mèo Auricularia spp. 119.000 465.000 290,8
Gần đây sản xuất nấm trên thế giới tăng nhanh chóng, với vai trò chủ đạo
của Trung quốc. Chính ST Chang đã tổng kết và nêu bật tiến trình phát triển này
(Chang, 2005). Hiện nay trên thế giới ba nước nuôi trồng nấm chủ yếu là Nhật
Bản, Trung Quốc và Đài Loan. Sản lượng nấm của ba nước này chiếm trên 90%
tổng sản lượng toàn thế giới. Ngoài ra một số nước khác nuôi trồng với sản
lượng đáng kể như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Canada, Singapore, Thái Lan.
Giá nấm trên thị trường thế giới biến thiên từ 15 – 30 USD/1kg nấm khô.
Năm 1979 sản lượng nấm rơm là 179.000 tấn trị giá 334 triệu USD. Nếu chỉ tính
giá tương đương thời điểm này thì năm 1991 sản lượng nấm hương trên toàn thế
giới có giá trị hàng tỷ USD.
2.1.5.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm trong nước
Việt Nam mỗi năm có khoảng 20 triệu tấn rơm, rạ đủ để sản xuất 2
triệu tấn nấm tươi, nhưng năm 2002 cả nước chỉ sản xuất được 100.000 tấn.
nấm rơm muối, sấy khô, đóng hộp của Việt Nam cũng chưa đáp ứng đủ.
Tại Hải Phòng, nghề trồng nấm đã phát triển mạnh từ năm 2007, tập trung tại
một số huyện như: Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Thuỷ Nguyên, An Lão, Kiến Thụy. Toàn
thành phố đã sản xuất được 2663,8 tấn nguyên liệu, các loại nấm phổ biến là: nấm
mỡ, nấm sò. Năm 2008 Hải Phòng đã xây dựng được 439 lán trại trồng nấm trong
đó Tiên Lãng và Vĩnh Bảo là hai huyện đi đầu trong phong trào trồng nấm.
23
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Tiên Lãng là một huyện đồng bằng ven biển của thành phố Hải Phòng có
diện tích tự nhiên là 18.904 km
2
, bao gồm 23 xã và thị trấn. Phía Bắc giáp huyện
An Lão và Kiến Thụy; phía Nam giáp huyện Vĩnh Bảo; phía tây giáp huyện
Thanh Hà (Hải Dương); phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ.
Tiên Lãng được bao bọc bởi sông và biển: sông Văn Úc, sông Thái Bình,
sông Mía và phần còn lại tiếp giáp với biển. Vì vậy Tiên Lãng có ưu thế về phát
triển sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, Tiên Lãng có tuyến đường
quốc lộ 10 chạy qua, đây là tuyến quốc lộ nối liền các tỉnh: Hà Nội, Nam Định,
Quảng Ninh tạo thành cánh cung miền duyên hải Bắc Bộ, có ý nghĩa quan trọng
cả về kinh tế, chính trị và quốc phòng an ninh. Đặc biệt trong thời kì hội nhập
với WTO và tự do hóa thương mại thì vị trí địa lý của Tiên Lãng là lợi thế quan
trọng tạo điều kiện cho huyện mở rộng, giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùng
ĐBSH và cả nước, là tiền đề quan trọng để các ngành kinh tế phát triển.
Tuy nhiên vị trí của Tiên Lãng cũng có nhiều bất lợi trong phát triển kinh
tế xã hội: là nơi đầu sóng ngọn gió, luôn hứng chịu sự tàn phá của bão lũ, đất đai
chịu sự nhiễm mặn trực tiếp của nước biển. Tiên Lãng bị các hệ thống sông ngòi
- Vùng từ xã Đại Thắng - Tiên Cường đến Tiên Tiến được hình thành
sớm, khá bằng phẳng và màu mỡ, chiếm 12% diện tích đất tự nhiên trong huyện.
25