PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, nông nghiệp được xác định là ngành quan trọng trong
chiến lược phát triển nền kinh tế đất nước. Trong những năm qua, ngành nông
nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn, đóng góp một phần quan
trọng vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Bên cạnh nhiều ngành hàng
nông nghiệp có thế mạnh như: lúa gạo, cà phê, cao su ngành trồng nấm mà
chủ yếu là trồng nấm rơm đang từng bước vươn lên khẳng định vị trí của
mình trên thị trường nông sản phẩm.
Kể từ năm 1990, ở Việt Nam sản xuất nấm rơm được xem là ngành
mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực thu hút sự tham gia đáng kể của bà con
nông dân. Nó không chỉ có khả năng tận dung nguồn lao động sẵn có mà còn
giải quyết việc làm cho nông dân, bên cạnh đó góp phần chuyển dịch cơ cấu
sản xuất nghề trồng nấm theo hướng đa dạng hoá sản phẩm với chất lượng
cao. Vì thế, nấm rơm được phát triển và trở thành một ngành sản xuất quan
trọng không thể thiếu được trong nông nghiệp ở nước ta.
Ở Thừa Thiên Huế, với lợi thế là một vùng đất Phật, xã Phú Lương là
một nơi có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nghề trồng nấm nói riêng và
nghề trồng nấm rơm nói chung. Phú Lương hiện đang là xã dẫn đầu về sản
lượng nấm của tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong các sản phẩm nấm hiện nay của
xã thì nấm rơm đang là sản phẩm được trồng nhiều nhất và có khối lượng tiêu
thụ lớn. Tuy nhiên nghề trồng nấm ở Việt Nam nói chung và xã Phú Lương
nói riêng hiện nay đang gặp một số khó khăn như: quy mô vẫn còn nhỏ lẻ và
thiếu ổn định, người dân vẫn còn bị động về giá, kỹ thuật sản xuất chủ yếu
dựa vào kinh nghiệm, và còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết khí hậu.
Mặc dù trong quá trình phát triển sản xuất nấm của địa phương đã có những
giải pháp để phát triển sản xuất nấm nhưng mới chỉ là tình thế chưa mang tính
hệ thống và đồng bộ. Việc nghiên cứu rõ tình hình trồng và tiêu thụ nấm rơm
ở địa phương đang là vấn đề bức thiết và có ý nghĩa quan trọng để góp phần
giải quyết những vấn đề khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ nấm rơm, đồng
1
Dũng, 2003).
2.3 Giá trị của nấm rơm
2.3.1 Giá trị dinh dưỡng
Ngoài việc cung cấp lương thực, nấm rơm là thức ăn rất tốt cho những
người bị cao huyết áp, rối loạn lipid máu, vữa xơ động mạch, tiểu đường, ung
thư và các bệnh lý mạch vành tim.
Phân tích thành phần dinh dưỡng cho thấy thành phần đạm có trong
nấm rơm chứa đủ các loại acide amine tối cần thiết cho cơ thể, hơn cả trong
thịt bò và đậu tương. Trong 100g nấm rơm tươi chứa 90% nước, 3,6% đạm,
0,3% chất béo, 3,2% chất đường, 1,1% chất xơ (cellulose), 0,8% tro, 28mg%
Ca, 80mg% P, 1,2% Fe, các vitamine A, B1, B2, C, D, PP Cứ 100g nấm
rơm tươi cho cơ thể 31 calorie.
3
Là loại giàu dinh dưỡng như vậy, nấm rơm có thể chế biến thành nhiều
món ăn có giá trị dinh dưỡng cao và còn có thể chế thành thực phẩm chức
năng. [1]
Thành phần dinh dưỡng của nấm rơm thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng của nấm rơm.
STT
Thành phần
(/1000 g nấm khô)
Đơn vị Nấm rơm
1 Độ ẩm 90,10
2 Protein khô 21,2
3 Carbonhydrate g 58,6
4 Béo g 10,1
5 Xơ g 11,1
6 Tro g 10,1
7 Calci mg 71,1
8 Phospho mg 677
thì
một
công đất (1000 m
2
) bình thường đã có thể thu được 1 tấn nấm tươi trong vòng
một tháng. Nếu với phương pháp trồng trong nhà và nguyên liệu là rơm rạ sử
dụng dàn kệ (5 tầng) thì 1 m
2
diện tích đất thu được từ 7 - 10 kg nấm tươi.
Đầu tư thấp, quay vòng nhanh: chu kỳ trồng nấm rơm thường ngắn, từ
25 – 30 ngày. Do đó, khi gặp thiên tai hoặc biến động của giá cả thị trường
vẫn kịp ngừng sản xuất hoặc chuyển hướng canh tác, đối với các loại cây
trồng khác thì khó có thể như vậy.
Nguyên liệu rẻ và dồi dào: nguyên liệu trồng nấm rơm chủ yếu là các
phế liệu nông nghiệp thường rất nhiều ở các địa phương, vừa giải quyết về
mặt môi trường, đồng thời tạo nên sản phẩm mới. Phế phẩm sau khi trồng
nấm còn có thể sử dụng cho chăn nuôi, trồng trọt.
5
Ngoài ra nấm rơm còn có giá trị kinh tế cao. Nấm rơm có giá bán trung
bình từ 1.200 - 1.300 $ Mỹ / tấn nấm muối. Như vậy, so với nhiều loại nông
sản thực phẩm khác thì nấm rơm có giá trị cao hơn nhiều.
2.3.4 Giá trị xã hội
Giải quyết lao động: giải quyết lao động nhàn rỗi, thu hút lượng lao
động lớn bao gồm: gia công chế biến meo giống, chất mô, xếp mô, chăm sóc,
thu mua và chế biến sản phẩm nấm rơm.
Giải quyết nguồn thực phẩm: ngoài mục đích để bán, nấm rơm còn bổ
sung khẩu phần ăn hằng ngày cho người dân góp phần bảo vệ và nâng cao sức
khoẻ cho mọi người
Nhờ trồng nấm rơm mà các hoạt động thương mại và dịch vụ ở đây
Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu nấm 11 tháng trong năm 2009 đạt
17 triệu USD, tăng 26,7% so với cùng kỳ 2008. [4]
Trong sản xuất có những thuận lợi như: Vốn đầu tư để trồng nấm rơm
so với các ngành khác không lớn vì đầu vào chủ yếu là công lao động nông
nghiệp (chiếm khoảng 30-40% giá thành 1 đơn vị sản phẩm) trong khi đó Việt
Nam đang dư thừa hàng triệu lao động ở các vùng nông thôn. Nếu tính trunh
bình để giải quyết việc làm cho 1 người lao động chuyên trồng Nấm ở nông
thôn hiện nay có mức thu nhập 800.000 đồng-1.000.000 đồng/tháng. Chỉ cần
một số vốn đầu tư ban đầu khoảng 5 triệu và 100 m
2
.
Thị trường tiêu thụ nấm rơm ngày càng mở rộng. Giá bán nấm tươi ở
các tỉnh, thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh cao gấp 2 - 3
lần giá thành sản xuất (40.000đ/kg). Riêng thành phố Đà Nẵng nhu cầu về
nấm rơm ngày càng tăng do nhiều người đã thấy được giá trị dinh dưỡng và
làm thuốc của nấm rơm. Trong tình hình giá cả các loại thực phẩm thông
dụng hiện nay như thịt, cá, rau có biến động tăng vọt về giá cả và đặc biệt là
nạn dịch cúm gà, dịch heo tai xanh thì nấm rơm là nguồn thực phẩm càng
được người tiêu dùng chú trọng.
2.4.2 Tình hình tiêu thụ nấm rơm
Tình hình tiêu thụ nấm rơm ở nước ta còn gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài
một số cơ sở như Meko (Hậu Giang), Linh Xuân (TP.HCM), là có quy trình
đóng hộp xuất khẩu, còn lại phần lớn sản lượng nấm nước ta sau khi làm ra
chủ yếu là sản xuất thô. Cơ sở chế biến còn thiếu nên việc phát triển còn gặp
nhiều khó khăn. HIện nay có rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu nấm rơm đến
các thị trường tiêu thụ nấm trên thế giới với thị trường tiêu thụ tương đối lớn,
tuy nhiên nấm rơm xuất khẩu vẫn ở mức giá thấp và chủ yếu ở dạng thô.
7
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU.
+ Tiêu chí và cách thức chọn hộ: Chọn những hộ có hoạt động sản xuất
nấm rơm trên địa bàn ba thôn Lê Xá Đông, Đông B và Vĩnh Lưu. Chọn ngẫu
nhiên 30 hộ trong số các hộ trồng nấm ở 3 thôn nghiên cứu. Mỗi thôn chọn 10
hộ để tiến hành điều tra.
+ Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc, quan sát.
+ Nội dung: Tình hình sản xuất, tiêu thụ nấm rơm của hộ.
3.3.1 Phương pháp phân tích dữ liệu
Sử dụng phần mềm EXCEL để xử lý số liệu. Phương pháp phân tích
định tính, phân tích định lượng để mô tả phân tích các chỉ tiêu nghiên cứu.
3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên: Thu thập các thông tin về vị trí địa lý của xã, các
nhân tố khí hậu thời tiết ảnh hưởng đến sản xuất nấm rơm, tình hình đất đai,
nguồn nước có ảnh hưởng đến sản xuất nấm rơm.
- Tình hình sản xuất nấm rơm: Tìm hiểu về nguồn giống, hình thức sản
xuất nấm rơm, mùa vụ trồng nấm rơm, năng suất và sản lượng nấm rơm.
Những thuận lợi và khó khăn gặp phải trong quá trình sản xuất nấm rơm.
- Tình hình tiêu thụ nấm rơm: Tìm hiểu về nhu cầu tiêu thụ nấm rơm,
thị trường tiêu thụ nấm rơm, hình thức tiêu thụ nấm rơm. Những thuận lợi và
khó khăn trong quá trình tiêu thụ nấm rơm.
- Hiệu quả của việc sản xuất nấm rơm ở địa phương: Hiệu quả về kinh
tế của hoạt động trồng nấm rơm.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nghề trồng nấm rơm của xã
Phú Lương: Giải pháp về kỹ thuật, về chính sách, về thị trường.
9
PHẦN IV: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên của xã Phú Lương
4.1.1 Vị trí địa lý
Phú Lương là một xã đồng bằng ven biển thuộc huyện Phú Vang, tỉnh
Thừa Thiên Huế, cách trung tâm huyện Phú Vang 3km về phía Tây, cách
thành phố Huế 17 km. Ranh giới của xã giáp với các xã sau:
tích đất tự nhiên. Loại đất này phân bố ở hầu hết các vùng trong xã.
- Đất khác: Bao gồm đầm phá, kênh mương và sông hồ, với diện tích
là 50,34 ha, chiếm 2,78% diện tích đất tự nhiên.
Hiện trạng sử dụng quỹ đất trên và được phân bổ cho các tổ chức và
các cá nhân sử dụng được thể hiện qua bảng sau:
11
Bảng 2: Cơ cấu diện tích đất của các thôn trong xã:
ĐVT: ha
STT Các thôn của xã
Diện tích
tự nhiên
Đất nông
nghiệp
Đất ở Đất khác
1 Vĩnh Lưu 220 119,40 3,08 10,00
2 Đông B 181 97,76 2,50 8,23
3 Lê Xá Trung 192 102,60 2,40 8,73
4 Lê Xá Tây 171 92,32 2,40 7,78
5 Lê Xá Đông 160 86,40 2,25 7,29
6 Đông A 175 94,50 2,41 7,96
7 Giang Trung 201 108,50 2,70 9,14
8 Giang Tây 176 94,50 2,43 8,00
9 Khê Xá 170 91,00 2,35 7,73
10 Lương Lộc 165 89,00 2,38 7,50
11 Toàn xã 1.811 982,48 25,10 82,38
Nguồn: Báo cáo thống kê đất đai xã Phú Lương.
4.1.4 Thời tiết và khí hậu
- Nhiệt độ:
Những tháng có nhiệt độ trung bình cao từ tháng 3 đến tháng 9 là
những tháng thuận lợi cho các loại cây trồng phát triển mạnh và cũng chính là
mạnh nên gây khô hạn kéo dài. Vậy nhưng nó không gây ảnh hưởng gì lớn
đến việc sản xuất nấm rơm.
+ Gió mùa Đông Bắc : Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, tốc độ
gió bình quân từ 4 - 6 m/s. Gió kèm theo mưa làm cho không khí lạnh ẩm, dễ
gây lũ ngập úng ở nhiều nơi.
+ Bão : Thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10. Tốc độ gió lớn, có
thể đạt đến 15 - 20 m/s trong gió mùa Đông Bắc và 30 - 40 m/s trong khi lốc
bão. Gió bão làm đổ cây cối, có khi là cả nhà cửa, làm cho các vòm nấm rơm
13
bị đổ hoặc là hư hỏng. Điều này gây khó khăn lớn cho người dân trong quá
trình trồng nấm rơm, làm tăng chi phí tu sửa lại các vòm nấm. Đây là một khó
khăn lớn trong ngành nông nghiệp nói chung và trong ngành sả xuất nấm rơm
nói riêng.
4.1.5 Nguồn nước
Nước là một loại tài nguyên quan trọng trong cuộc sống của mỗi người.
Nó không chỉ cần thiết trong sinh hoạt của người dân mà còn không thể thiếu
trong hoạt động sản xuất. Đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp, nếu nguồn
nước thuận lợi đủ phục vụ thì sẽ thúc đẩy việc sản xuất phát triển.
Nguồn tài nguyên nước của xã Phú Lương khá dồi dào so với những
vùng khác, nguồn nước của xã được cấp từ hai nguồn: Nguồn nước mặt và
nguồn nước ngầm.
+ Nguồn nước mặt: Hai con sông chính cấp nước cho xã Phú Lương đó là
sông Lợi Nông và sông Đại Giang dài 6 km lấy nước qua cống Phú Cam. Bên
cạnh đó có các hồ chứa nước như hồ Phú Thứ và các kênh mương tưới tiêu.
+ Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm chủ yếu lấy từ các giếng đào
có độ sâu từ 4 – 6 m, nguồn nước tương đối lớn phục vụ trong sinh hoạt và
cung cấp cho việc tưới cây trồng trong vườn nhà cũng như phục vụ cho việc
sản xuất nấm rơm.
4.2 Tình hình sản xuất nấm rơm ở xã Phú Lương
Nghề trồng nấm rơm ở xã Phú Lương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa
những hộ nông dân trong địa phương. Chủ yếu là các hộ nông dân có diện
tích trồng lúa tương đối lớn để có đủ hoặc gần đủ nguyên liệu cho việc sản
xuất nấm rơm.
4.2.2 Mùa vụ
Do đặc điểm của nấm rơm được trồng tại xã Phú Lương là để sinh
trưởng và phát triển được thì yêu cầu nhiệt độ môi trường phải từ 28
o
C - 36
o
C.
Đối với những vùng có nhiệt độ ổn định luôn nằm trong khoảng nhiệt độ
thuận lợi cho việc trồng nấm rơm thì có thể sản xuất quanh năm.
Đối với xã Phú Lương là một xã có khí hậu hai mùa rõ rệt, sự chênh
lệch nhiệt độ giữa hai mùa là tương đối lớn, vì thế trong những tháng có nhiệt
độ thấp như từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau thì nấm phát triển chậm và rất
khó ra. Nếu thời điểm nhiệt độ thấp kéo dài và không được sưởi ấm thì hầu
như nấm không đạt kết quả vì meo giống không thể phát triển được.
15
Ngoài ra, do đặc điểm của địa hình xã Phú Lương là một vùng thấp
trũng nên thường bị ngập lụt, chủ yếu là vào các tháng từ tháng 9 đến tháng
11. Do vậy việc bố trí mùa vụ sản xuất nấm sao cho phải phù hợp để khỏi bị
tình trạng ngập lụt gây ảnh hưởng.
Một số hộ trong địa phương bất chấp những điều kiện bất lợi của thời
tiết để tiến hành sản xuất nấm rơm, chấp nhận rủi ro để tiến hành trong những
thời điểm bất lợi trên. Trồng nấm vào những thời điểm trên thì năng suất nấm
không được cao, thậm chí có nhiều khi là mất trắng, tuy nhiên vào những thời
điểm đó số hộ trồng nấm hiếm hoi, sản lượng nấm trên thị trường ít nên nấm
bán được giá, do vậy hiệu quả cũng tương đương so với các thời điểm khác
trong năm.
Ngoài những đặc điểm về khí hậu thời tiết như trên thì việc bố trí trồng
Qua bảng trên ta có thể thấy rằng nghề trồng nấm rơm ở xã Phú Lương
chiếm một tỷ lệ rất lớn so với các ngành sản xuất nông nghiệp khác. Toàn xã
với 566/1343 hộ tham gia trồng nấm rơm chiếm 42.1 %. Đặc biệt là ở 3 thôn
Lê Xá Đông, Đông B và Vĩnh Lưu, số lượng hộ tham gia trồng nấm rơm lớn
nhất so với các thôn khác trong xã, chiếm 26.3% số hộ toàn xã.
4.2.4 Năng suất và sản lượng nấm rơm
Năng suất:
Theo kết quả điều tra từ nông hộ và số liệu thống kê của xã, năng suất
sản xuất nấm trung bình của người dân ở xã Phú Lương hiện nay là 35kg/lứa.
Tuy nhiên, năng suất này có sự khác nhau giữa các loại hộ, các thôn và các
thời điểm sản xuất trong năm. Nguyên nhân có sự khác nhau này là do sự ảnh
hưởng của thời tiết khí hậu, trình độ, kinh nghiệm sản xuất của người dân,
chất lượng nguyên liệu, chất lượng meo giống, Vào những thời điểm nhiệt
độ thích hợp, nhiều hộ có thể sản xuất nấm rơm với năng suất lên tới
50kg/vòm.
17
Ở xã Phú Lương thì thời điểm sản xuất nấm phù hợp nhất là từ tháng 4
đến tháng 9. Vào thời điểm này, năng suất có thể lên tới 40 - 50 kg/lứa/vòm.
Tuy nhiên vào những tháng này thì nhiều hộ cùng làm ra nấm nên giá thành
rẻ, chỉ từ 20.000 - 30.000 đ/kg nấm tươi.
Sản lượng:
Theo báo cáo của UBND xã Phú Lương về tình hình kinh tế - xã hội
của xã thì trên địa bàn xã có 792 vòm nấm và theo kết quả điều ra nông hộ thì
mỗi vòm nấm có thể sản xuất gần 10 lứa nấm/năm. Vì thế ước tính sản lượng
nấm rơm do người dân xã Phú Lương sản xuất hằng năm ra khoảng 227.2
tấn/năm. Tuy nhiên sản lượng nấm không phân đều trong các tháng của năm,
chủ yếu tập trung vào các tháng từ tháng 3 đến tháng 6 hằng năm. Đây là thời
điểm có điều kiện nhiệt độ phù hợp và là thời gian nhàn rỗi của người dân.
4.2.5 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất nấm rơm ở xã Phú
Lương
tích trung bình 16m
2
) sản xuất nấm rơm bao gồm những khoản như sau:
Bảng 4: Chi phí cho một lứa sản xuất nấm rơm
ĐVT: đồng
TT Loại chi phí Số lượng Đơn giá Thành tiền
1 Rơm nguyên liệu (mẫu) 2.5 200.000 500.000
2 Giống (bánh meo) 75 2.300 172.500
3 Làm vòm 1 vòm/20 lứa 2.000.000 100.000
4 Lao động (công) 2 100.000 200.000
5 Than (bao) 2 60.000 120.000
6 Chi phí khác 100.000
7 Tổng 1.192.500
Nguồn: Điều tra nông hộ 2011.
Về nguồn giống, có 2 nguồn cung cấp giống chủ yếu:
- Nguồn giống được sản xuất từ Sài Gòn: Ký hiệu: M1 có giá
2.300đ/bánh.
- Nguồn giống được sản xuất ở Huế: đây là nguồn meo giống do chú
Hiệp (Thuỷ Dương) sản xuất rồi phân phối lại cho các lái buôn trên địa bàn
19
đặc biệt là xã Phú Lương. Meo này không có nhãn, có giá bán 2.300 - 2.500
đ/ bánh.
Những năm trước đây, người dân địa phương thường sử dụng meo nấm
M1, nhưng những năm gần đây do có nguồn giống sản xuất được ở Huế nên
người dân chuyển qua dùng meo nấm sản xuất ở địa phương, giảm được một
phần trong chi phí sản xuất, mà chất lượng của meo giống cũng không có sự
khác biệt.
Làm một vòm nấm rơm thì nguyên vật liệu để làm gồm: tre, nilong,
đinh, dây gấc, rơm. Theo kết quả điều tra từ nông hộ, chi phí làm 1 vòm nấm
bao gồm:
hết vòm đó.
- Gửi bán: bán cho người thu mua, sau khi người thu mua bán lại cho
đại lý trên thì mới thanh toán lại cho người dân. Đại lý trên mua với giá nào
thì người thu mua thanh toán cho người dân với giá đó.
4.4 Tình hình tiêu thụ nấm rơm của xã Phú Lương
4.4.1 Nhu cầu thị trường
Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi người sản xuất phải nhạy bén để
định hướng sản phẩm nhằm đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho người tiêu dùng với
chi phí thấp, sản phẩm đạt chất lượng. Đồng thời phải biết cách quảng cáo,
tiếp thị cho sản phẩm để người tiêu dùng biết và an tâm về sản phẩm đó. Đối
với nghề sản xuất nấm rơm thì cần tìm kiếm được thị trường tiêu thụ phù hợp,
phải quan tâm xem địa phương có phong tục, tập quán, thói quen gì và cần
hướng cho người tiêu dùng có thói quen sử dụng mặt hàng nấm rơm.
- Tiềm năng tiêu thụ nấm rơm tại Thừa Thiên Huế:
Tỉnh Thừa Thiên Huế với lợi thế về nguyên nhiên vật liêu và nhu cầu
tiêu dùng nấm tăng lên do số lượng dân cư theo Phật tương đối lớn mà Phú
Lương hiện là xã dẫn đầu về sản lượng nấm của tỉnh Thừa Thiên Huế, với
hơn 6.000 tấn nấm mỗi năm trong đó chủ yếu là nấm rơm. Hàng tháng vào
các ngày đặc biệt như đầu tháng, rằm hoặc các dịp lễ Phật thì số lượng người
tiêu dùng nấm rơm tăng rõ rệt. Bên cạnh đó tình hình thực phẩm tiêu dùng
21
hiện nay đang có rất nhiều vấn đề về chất lượng sản phẩm, việc tiêu dùng
những sản phẩm có chất lượng và có nguồn gốc rõ ràng, uy tín đang là xu
hướng chủ yếu của người tiêu dùng.
4.4.2 Hình thức thu mua, tiêu thụ
Sơ đồ hình thức thu mua, tiêu thụ nấm rơm của xã Phú Lương
Nấm rơm chủ yếu có 2 hình thức tiêu thụ đó là: bán lẻ trực tiếp và bán
cho trung gian thu mua.
- Bán lẻ trực tiếp: người nông dân sẽ trực tiếp đem nấm rơm ra các chợ
địa phương để tiêu thụ, những chợ địa phương chủ yếu là những chợ có điều
hướng của xã, người dân đã đề xuất một số giải pháp để phát triển sản xuất
nấm rơm trên địa bàn xã như sau:
4.5.1 Giải pháp kỹ thuật
- Sản xuất meo giống tại chỗ để cung cấp cho người sản xuất để giảm
giá thành, tăng hiệu quả kinh tế.
- Các biện pháp kỹ thuật tác động: Muốn sản xuất nấm có năng suất,
đồng thời sản phẩm có giá trị hàng hóa cao thì cần tác động một cách liên
hoàn các biện pháp kỹ thuật, từ khâu xử lý nguyên liệu, đạp bánh, cấy meo,
chăm sóc đến khâu thu hái nấm.
- Thời vụ: Cần bố trí thời vụ sao cho đảm bảo chế độ nhiệt và độ ấm
thích hợp để nấm rơm sinh trưởng và phát triển thuận lợi nhất. Ngoài ra cần
chú ý bố trí thời vụ sản xuất làm sao phải tránh những thời điểm như lụt bão,
cũng như bố trí thời vụ sao cho nấm ra vào các thời điểm nhu cầu thì trường
nấm rơm lớn, giá bán cao.
4.5.2 Chính sách
23
- Chính quyền địa phương xã cần có chính sách trong việc đầu tư sản
xuất giống chất lượng. Ưu đãi, hỗ trợ cho các đơn vị đầu tư sản xuất giống
đảm bảo chất lượng phục vụ cho người dân.
- Các ngân hàng, cũng như các hội đoàn thể của xã như hội phụ nữ, hội
nông dân tập thể, cần hỗ trợ cho những người nông dân muốn đầu tư mở
rộng sản xuất.
- Cần phát triển 2 câu lạc bộ làm nấm ở 3 thôn Lê Xá Đông, Đông B và
Vĩnh Lưu để nhiều chị em phụ nữ có nhiều điều kiện phát triển hơn nữa nghề
trồng nấm rơm.
- Hình thành hiệp hội hoặc tổ chức có chức năng liên kết các vùng sản
xuất nấm rơm khác như ở xã Phú Đa, Quảng Nam, từ đó quy hoạch vùng
sản xuất, tránh sự thiệt thòi của các hộ nông dân khi cùng nhau sản xuất một
loạt dẫn đến rớt giá, bị tư thương ép giá.
- Giải quyết được đầu ra cho sản phẩm nhằm ổn định sản xuất và đời