Đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tươi Việt Nam giai đoạn 2006 - 2008 - Pdf 25

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay thu nhập của người dân nước ta đã tăng lên đáng kể. Nhu cầu của họ
không chỉ là “ăn no mặc ấm” nữa mà đã nâng lên một mức mới đó là “ăn ngon mặc đẹp”
và các nhu cầu về vui chơi giải trí, thăm quan du lịch trở nên rất cần thiết. Chính những
nhu cầu đó đã làm phát sinh và thúc đẩy cho ngành hoa tươi Việt Nam trong những năm
gần đây phát triển mạnh. Qui mô hiện nay không chỉ giới hạn ở những hộ gia đình trồng
hoa nhỏ lẻ với mục đích vui chơi nữa mà ngày nay nó đã trở thành một ngành kinh doanh
chính thức và có mức lợi nhuận tương đối cao nên đã xuất hiện những công ty, tập đoàn,
khu vực trồng hoa chuyên canh với qui mô lớn như:Hà Nội, Đà lạt…
Hoa tươi không chỉ cung cấp cho nhu cầu trong nước đặc biệt là những ngày lễ
lớn như: ngày Valentine, ngày 8 tháng 3, ngày 20 tháng 10… mà nó còn mở rộng sang
lĩnh vực xuất khẩu ra nước ngoài như: thị trường Trung Quốc, Nhật Bản…Việc xuất
khẩu này không chỉ làm tăng GDP của quốc gia mà còn giải quyết được công ăn việc làm
và góp phần cải thiện mức sống của người dân nước ta. Chính vì lý do nóng bỏng và thiết
thực của đề tài nên em đã quyết định chọn đề tài “Đánh giá tình hình sản xuất và tiêu
thụ hoa tươi Việt Nam giai đoạn 2006 - 2008 ” làm đề tài nghiên cứu chuyên đề kinh
tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
2.1. Mục tiêu chung:
Phân tích và đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tươi Việt Nam giai đoạn
2006 - 2008, trên cơ sở đó để định hướng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao khả
năng tiêu thụ hoa tươi của Việt Nam trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
 Phân tích khái quát tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tươi Việt Nam.
 Đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tươi Việt Nam.
 Đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng tiêu thụ hoa tươi của Việt Nam
trong thời gian tới.
3. Phương pháp nghiên cứu:
3.1. Phương pháp thu thập số liệu:
Thu thập số liệu thứ cấp trên sách, báo, tạp chí kinh tế, tivi và Internet…

Ngoài ra, sản lượng hoa cắt cành tại Ireland và các quốc gia đông âu khác như Ba
Lan, Hungari cũng đang trên đà phục hồi và thậm chí còn tăng. Xét toàn diện thì tổng sản
lượng hoa của Eu dự báo sẽ vẫn ổn định trong những năm tới.Tuy nhiên EU vẫn phải
nhập hoa tươi từ các khu vực khác nữa như: Kenya, Colombia, Ecuador, Israel…
Xu hướng biến động sản lượng hoa ở khu vực EU đã đem lại cho các doanh
nghiệp xuất khẩu hoa ở nước đang phát triển những cơ hội sau: tăng số lượng nhà sản
xuất những trang trại sản xuất Rosa ở châu ÂU đang chuyển sang sản xuất các loài hạt
mầm kích thước lớn vì chịu sự cạnh tranh mạnh từ các nhà cung cấp loại “sweethearts”
(ví dụ như các hạt mầm loại nhỏ) từ các nước đang phát triển.
Quy mô sản xuất và năng suất của các nước sản xuất hoa ở châu Âu đang tăng cao
đó là những khó khăn mà nhà xuất khẩu hoa ở các nước đang phát triển phải đối mặt.
Việc các cơ sở trồng hoa ở Eu ứng dụng công nghệ sản xuất hiện đại đã giúp họ
tăng sản lượng và chất lượng hoa, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Xu hướng
giảm lượng hoa sản xuất từ các nước Trung Âu và Bắc Âu sang các nước vùng ngoại vi
châu Âu. Nguy cơ dư cung và áp lực giảm giá đặc biệt là đối với loại hoa hồng trên thị
trường này.
Hiện nay có khoảng 50 đến 60% người tiêu dùng mua hoa chủ yếu phục vụ nhu
cầu quà tặng, 15% mua hoa để phục vụ các đám tang và khoảng 20% nhằm mục đích tiêu
dùng cá nhân. Tuy nhiên, số liệu thống kê cho từng quốc gia riêng lẻ là rất khác nhau.
Nhìn chung, mức tiêu thụ hoa nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân ở những nước có thu
nhập cao thuộc Eu thường cao hơn so với các nước khác có mức thu nhập thấp hơn.
Trong những kỳ nghỉ, lễ lớn là những khoảng thời gian mà nhu cầu về trang trí, quà tặng
tăng cao nên đã góp phần quan trọng thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ hoa cắt và sản phẩm trang
trí. Vào những ngày đặc biệt như giáng sinh, ngày Valentine; ngày của Mẹ, ngày của Thư
ký (Secretary’s Day), doanh số kinh doanh hoa thường tăng mạnh. Bên cạnh những ngày
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 3

nghỉ lễ quốc tế nổi tiếng, hầu hết các quốc gia còn có những ngày lễ kỷ niệm riêng của
mình.
1.1.2. Thị trường Châu Mỹ:

năm 2006 đạt 654 nghìn tấn.
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 4

Phòng thương mại Ấn Độ đang rất quan tâm đến việc canh tác những sản phẩm
hoa định hướng xuất khẩu và hiện nước này có 500 hecta hoa đang được trồng trong nhà
kính. Ngoài ra, ngành hoa Ấn Độ cũng đang nỗ lực cải tổ lại những cơ sở sản xuất và
kinh doanh hoa kém hiệu quả để tập trung vào những cơ sở có tiềm năng xuất khẩu lớn
và tạo nhiều việc làm cho nước này.
1.1.5. Trung Quốc:
Là nước sản xuất và tiêu thụ hoa cắt cành lớn nhất thế giới. Diện tích trồng
hoa ở Trung Quốc là 122.400 ha, với công suất sản xuất 2,7 triệu tấn mỗi năm, đạt trị giá
6,6 tỷ USD (tiêu thụ hoa toàn cầu đạt 25 tỷ USD mỗi năm) trong đó xuất khẩu đạt 32
triệu USD.
Năm 2006 giá hoa thế giới tăng cao đẩy kim ngạch xuất khẩu hoa cắt cành của
tỉnh Vân Nam - vùng trồng hoa chính của Trung Quốc tăng mạnh. Chỉ tính đến tháng
11/2006, lượng hoa xuất khẩu của tỉnh Vân Nam đã đạt 4.362 nghìn tấn, với kim ngạch
10,45 triệu USD, tăng 8,6% về lượng và tăng 85,9% về kim ngạch so với cùng kỳ năm
2005.
Theo thống kê, giá hoa xuất khẩu trung bình của tỉnh Vân Nam trong 11 tháng
đầu năm 2006 tăng trên 73%, đạt khoảng 2,37USD/kg. Hoa hồng, cẩm chướng và lyli là
những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu ở khu vực này. Hoa cắt cành của Vân Nam chủ yếu
được xuất sang Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc...
Trong đó, thị trường xuất khẩu hoa lớn nhất của Vân Nam trong năm qua là Nhật
Bản, với kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm 2006 đạt 2,75 triệu USD, tăng 18% so với
cùng kỳ năm 2005.
Nhật Bản, Hồng Kông cũng là thị trường xuất khẩu hoa lớn của Vân Nam với kim
ngạch xuất khẩu trong 11 tháng năm 2006 đạt 2,71 triệu USD, gấp 3,5 lần so với cùng kỳ
năm 2005. Ngoài ra, xuất khẩu hoa sang thị trường ASEAN năm qua của Vân Nam cũng
tăng cao, đạt 3,62 triệu USD, tăng gấp 2 so với cùng kỳ năm ngoái.
Ngoài ra, trong năm 2006 kim ngạch xuất khẩu hoa tươi cắt cành của các doanh

nước ngoài. Vân Nam có 7.864,7 ha đất trồng hoa, cho sản lượng hoa trị giá 0,4 tỷ USD,
trong đó xuất khẩu hoa khoảng 18 triệu USD, chủ yếu sang Thái Lan, Singapore,
Malaixia, Philipin và Hàn Quốc.
Zhangzhou, tỉnh Phúc Kiến, đã đề ra kế hoạch phát triển ngành trồng hoa từ nay
tới năm 2010, theo đó sẽ xuất khẩu khoảng 26,9 triệu USD. Hiện Zhangzhou trồng 1.400
loại hoa, trong đó có 800 giống nhập từ nước ngoài. Zhangzhou là trung tâm sản xuất và
xuất khẩu hoa lớn nhất của tỉnh Phúc Kiến, đồng thời cũng là trung tâm thông tin và hợp
tác giữa Trung Quốc lục địa và Đài Loan.
Ngành kinh doanh hoa ở Trung Quốc phát triển mạnh từ mấy năm qua và Internet
có vai trò ngày càng quan trọng trong ngành này. Hiện Trung Quốc đã có trên 20.000
website của các vườn hoa cũng như nhà kinh doanh hoa chuyên nghiệp.
1.1.6. Các nước khác trong khu vực như:
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 6

Thái Lan, Việt Nam… cũng có tiềm năng để trở thành những cường quốc sản
xuất và xuất khẩu hoa tươi cắt cành lớn trong khu vực và thế giới dựa vào điều kiện khí
hậu thuận lợi, nguồn nhân lực rẻ, đặc biệt là sự phong phú của các chủng loại hoa…
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tươi trong nước.
1.2.1. Tình hình sản xuất:
Hoa cắt cành các loại là một trong những điểm mạnh của các nhà xuất khẩu hoa
Việt Nam trong những năm gần đây đã thu được một lượng ngoại tệ đáng kể cho quốc
gia. Mở rộng diện tích sản xuất trồng hoa của cả nước đạt 8000 ha với sản lượng 4,5 tỷ
cành trong đó mục tiêu xuất khẩu 1 tỉ cành hoa, trị giá trên 60 triệu USD vào năm 2010,
tương đương với Hà Lan. Trong đó Đà Lạt là nơi sản xuất hoa lớn nhất cả nước. Đó là
thông điệp của Bộ Thương mại đưa ra từ chiến lược phát triển hoa xuất khẩu.
Hiện nay, cả nước có khoảng 4.000 ha diện tích sản xuất hoa cắt cành với sản
lượng khoảng 3 tỷ cành hoa. Quy mô về diện tích này tương đương Tây Ban Nha, nước
đứng thứ 5 châu Âu về sản xuất hoa. Sản xuất hoa cắt cành ở nước ta hiện nay tập trung
xung quanh một số đô thị lớn. Ở Hà Nội và vùng lân cận có trên 1.000 ha trong đó vùng
hoa Tây Tựu- Từ Liêm- Hà Nội với diện tích trồng hoa đạt 330 ha chủ yếu là hoa hồng,

Trong diện tích gần 136 ha trồng hoa của vùng Trung du và miền núi phía Bắc,
diện tích trồng hoa hồng đã chiếm tới trên 55,27% với sản lượng 26,53 triệu bông/năm.
Diện tích trồng hoa cúc lớn thứ hai với 14,5 ha, sản lượng 5 triệu cành/năm.
Với tỷ lệ hoa hồng và hoa cúc khá cao, cơ cấu ngành hoa Việt Nam tương đối phù
hợp với thị hiếu của các thị trường cao cấp trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc và
Tây Âu. Tuy nhiên, đây đều là những thị trường khó tính với những yêu cầu về chất
lượng, mẫu mã và an toàn thực vật rất cao. Các tiêu chuẩn về hàm lượng thuốc trừ sâu,
thuốc bảo vệ, bảo quản thực vật được đặt lên hàng đầu. Bên cạnh đó, để có thể thâm nhập
các thị trường này, hoa Việt Nam còn phải cạnh tranh về hình thức, giá cả và độ tươi lâu.
1.2.2 Tình hình xuất khẩu - tiêu thụ:
Đà Lạt được xem là trung tâm sản xuất hoa lớn nhất của cả nước với sản lượng,
chủng loại hoa phong phú và đa dạng. Việc hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những cơ hội
thuận lợi cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu hoa tươi Việt Nam ra thị trờng thế giới.
Mà chủ yếu là xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản với các loại hoa chủ lực như: cúc, cẩm
chướng, hồng, lan, lys, kỳ lân.
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 8

Kim ngạch xuất khẩu hoa của Đà lạt từ năm 2004 đến 2006
năm 2004 2005 2006
Sản lượng (ngàn cành) 31000 29000 32000
giá tri xk (ngàn USD) 6920 7510 8100
Tỷ trọng % 11 9.5 7
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ vnnet)
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ vnnet)
Thị trường Nhật Bản:
Nhu cầu hoa tươi của thị trường Nhật Bản những năm gần đây liên tục tăng. Sự
gia tăng này đang mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trồng hoa Việt Nam. Cụ thể là
năm 2002, nhập khẩu hoa tươi của Nhật chỉ chiếm tỷ trọng 10,6%, nhưng đã tăng lên
11,4% trong năm 2003, 12,9% trong năm 2004 và kim ngạch nhập khẩu hoa tươi của
Nhật trong năm 2005 đã lên tới 500 triệu USD.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status