HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
------ ------
NGUYỄN THU HẰNG
ĐÁNH GIÁ HÌNH THỨC LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT
MÍA NGUYÊN LIỆU GIỮA CÔNG TY CP NCN DVTM
VÂN SƠN VỚI NÔNG DÂN TẠI XÃ VÂN SƠN,
HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
------ ------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HÌNH THỨC LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT
MÍA NGUYÊN LIỆU GIỮA CÔNG TY CP NCN DVTM
VÂN SƠN VỚI NÔNG DÂN TẠI XÃ VÂN SƠN,
HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
Tên sinh viên
: Nguyễn Thu Hằng
3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
đại học, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm,
giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết, tôi xin cảm ơn các Thầy Cô trong khoa KT & PTNT trường
Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản,
những định hướng đúng đắn trong học tập cũng như tu dưỡng đạo đức để tôi có
được một nền tảng vững chắc trong học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn trực
tiếp TS. Nguyễn Thị Dương Nga, người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết, tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài và hoàn
thành khóa luận.
Tôi xin đặc biệt cảm ơn tới Giám đốc Công ty CP NCNDVTM Vân Sơn,
cùng các chú, anh, chị trong Công ty đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá
trình thực tập tại công ty.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Đảng ủy, UBND, các ban
ngành, đoàn thể bà con nhân dân xã Vân Sơn đã cung cấp những số liệu cần
thiết và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu
tại địa bàn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã
khích lệ, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thu Hằng
4
yếu tố ảnh hưởng về liên kết; lợi ích và tính bền vững của liên kết. Về thực tiễn:
Đề tài tìm hiểu thực tiễn về hình thức liên kết sản xuất mía nguyên liệu ở ngoài
nước Trung Quốc và Thái Lan, trong nước.
Với các phương pháp nghiên cứu: phương pháp thu nhập số liệu; phương
pháp xử lý và phân tích số liệu, phương pháp thống kê so sánh kết hợp với nhóm
chỉ tiêu phản ánh hoạt động liên kết, lợi ích và tính bền vững của liên kết. Liên
kết giữa Công ty và nông dân diễn ra mang lại lợi ích gì cho cả nông dân và
Công ty? Từ đó đề ra các giải pháp nhằm phát triển hợp lý hình thức liên kết.
Kết quả nghiên cứu chia làm 5 phần:
1. Tình hình sản xuất mía nguyên liệu trên địa bàn xã Vân Sơn.
2. Liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giữa Công ty CP NCN DVTM Vân
Sơn với nông dân xã Vân Sơn
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu ở xã Vân Sơn.
4. Đánh giá tiềm năng phát triển hình thức liên kết mía nguyên liệu.
5. Định hướng và giải pháp hợp lý để phát triển hình thức liên kết giữa Công ty
CP NCN DVTM Vân Sơn trong thời gian tới.
Kết quả nghiên cứu cho thấy Công ty và nông dân liên kết trong sản xuất mía
nguyên liệu thông qua HĐ thuê quyền sử dụng đất được ký kết với thời hạn 20
năm chia làm hai giai đoạn trong đó xác định rõ quyền và nghĩa vụ của hai bên,
diện tích, tiền thuê đất. Diện tích đất Công ty thuê của toàn xã 69,8 ha với 490
hộ cho thuê năm 2014. Lợi ích mang lại cho Công ty trước tiên chất lượng đảm
bảo, năm 2014 với chữ lượng đường 10 CCS, chủ động được nguyên liệu với
sản lượng 6.282 tấn năm 2014 và năng suất đạt 90 tấn/ha cao hơn so với các hộ
dân trồng mía. Đối với hộ dân liên kết giúp đời sống của họ được nâng cao, tạo
việc làm cho 220 lao động (năm 2014), số hộ có lao động làm thuê cho Công ty.
Có thu nhập ổn định và cao hơn so với hộ không liên kết, với thu nhập/hộ/năm
là 32.462,6 nghìn đồng cao hơn so với các hộ không liên kết, gấp 1,16 lần so với
hộ trồng mía và gấp 1,22 lần so với hộ trồng lúa. Khi tham gia liên kết với số
DANH MỤC BẢNG
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
Ký hiệu viết tắt
BQ
CBNV
CCS
CNH-HĐH
CP NCN DVTM
ĐVT
HĐ
HĐND
HTX
KHKT
ích của các bên tham gia liên kết kinh tế. Liên kết giúp cho các bên tham gia
giảm thiểu được rủi ro trong sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp, đảm
bảo hiệu quả trong sản xuất, thu nhập của nhà nông, liên kết giúp cho doanh
nghiệp giảm thiểu rủi ro, đảm bảo chất lượng sản phẩm và nguồn nguyên liệu ổn
định. Để tránh được rủi ro nhiều nhà sản xuất phân tán sự rủi ro bằng cánh mời
gọi các chủ thể khác tham gia thực hiện và triển khai dụ án. Thậm chí mỗi doanh
nghiệp phải đảm bảo một phần công việc tùy theo năng lực của các chủ thể. Như
vậy mỗi chủ thể tham gia đều chịu một phần rủi ro nếu có.
Thực hiện Nghị quyết TW 7: “ Tăng cường sự liên kết giữa các doanh
nghiệp, đội ngũ trí thức nông dân trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi; có chính
sách khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp, tri thức về nông thôn. Đóng góp tích
cực và có hiệu quả cho quá trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn
theo đường lối của Đảng” việc vận dụng các hình thức liên kết đã triển khai với
mục tiêu phát triển bền vững giữa các bên tham gia.
Liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giữa doanh nghiệp và nông dân,
một bộ phận của liên kết trong nền kinh tế nói chung, một trong những thể chế
thực hiện mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất
mía nguyên liệu, đồng thời là một bộ phận của quan hệ giữa công nghiệp và
nông nghiệp. Việc liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giúp cho doanh
nghiệp và nông dân cùng tồn tại và hỗ trợ nhau, thúc đẩy các hình thức chuyên
môn hóa, liên hợp hóa và tập trung hóa, xã hội hóa sản xuất tiến bộ, phù hợp với
xu thế đi lên sản xuất quy mô lớn, thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp và nông
thôn và toàn bộ nền kinh tế. Do đó việc hình thành hình thức liên kết trong sản
10
xuất mía nguyên liệu giữa doanh nghiệp và nông dân xã Vân Sơn là điều có lợi
và tất yếu khách quan.
Vân Sơn là xã thuần nông vùng có 1780 hộ/ 7.235 nhân khẩu nhưng chỉ
có 677,4 ha đất sản xuất nông nghiệp trong đó, đất 2 vụ lúa là 328 ha nằm rãi
liên kết giữa Công ty với nông dân? Tính bền vững của liên kết? Những nhân tố
nào ảnh hưởng đến hình thức liên kết? Có những giải pháp nào hoàn thiện và
phát triển hợp lý hình thức liên kết? Để góp phần giải quyết câu hỏi trên, em
nghiên cứu đề tài:" Đánh giá hình thức liên kết trong sản xuất mía nguyên
liệu giữa Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn với nông dân tại Xã Vân Sơn,
huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa".
1.2 . Mục tiêu nghiên cứu.
I.2.1. Mục tiêu chung.
Đánh giá thực trạng hình thức liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu
giữa Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn với nông dân tại Xã Vân Sơn-Triệu
Sơn-Thanh Hóa. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp phát triển hình thức liên
kết trong sản xuất mía nguyên liệu tại xã Vân Sơn-Triệu Sơn-Thanh Hóa.
I.2.2. Mục tiêu cụ thể.
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về hình thức liên kết
giữa Công ty với nông dân trong sản xuất mía nguyên liệu.
- Đánh giá thực trạng hình thức liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giữa Công
ty với nông dân tại Xã Vân Sơn-Triệu Sơn-Thanh Hóa trong thời gian qua.
- Đề xuất các giải nhằm phát triển hợp lý hình thức liên kết trong sản xuất mía
nguyên liệu giữa Công ty với nông dân tại xã Vân Sơn-Triệu Sơn-Thanh Hóa
trong thời gian sắp tới.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau đây liên quan đến liên kết
trong sản xuất mía nguyên liệu giữa Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn với
nông dân xã Vân Sơn thời gian tới:
1) Thực trạng liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu trên địa bàn xã thời
gian qua diễn ra như thế nào?
2) Lợi ích đem lại cho Công ty và nông dân khi tham gia vào liên kết?
12
2.1.1. Khái niệm về Nông dân.
13
Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn tham gia sản xuất
nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành
nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kỳ lịch
sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất, họ hình thành nên
giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội.(Wikipedia, 2009).
2.1.2 Vai trò của các tác nhân trong liên kết giữa Công ty và nông dân
* Người sản xuất
Đối với nhà nông, bộc lộ rõ nhất là sự hạn chế về trình độ học vấn, tâm lý
e ngại khi tiếp xúc với các nhà khác. Đa số nông dân Việt Nam vẫn chưa gạt bỏ
được, tư tưởng ham lợi trước mắt và không tính toán được chiến lược âu dài, dễ
vi phạm hợp đồng trong quá trình liên kết, là người cung cấp số lượng và chất
lượng sản phẩm ra thị trường nên sự hạn chế về thông tin thị trường làm cho họ
không chủ động trong các mối liên kết.
* Các yếu tố từ Doanh nghiệp
Các cơ sở chế biến thu mua sản phẩm nông sản ổn định nhưng vẫn còn
tình trạng cơ sở chế biến ngừng mua hoặc giảm giá lại không thông báo cho
nông dân, trong khi mua còn gây khó dễ cho nông dân….nhất là vào thời điểm
chính vụ nông sản.
Chế tài mà công ty đưa ra để xử phạt các hộ phá vỡ hợp đồng có hiệu lực
chưa cao, mới chỉ dừng lại phạt tiền nên tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn còn xảy
ra nhất là khi thời vụ nguyên liệu khan hiếm.
Sự chủ động phối hợp liên kết phục vụ cho sản xuất, quy hoạch vùng
nguyên liệu của các cơ sở chế biến với cấp chính quyền địa phương với các hộ
nông dân chưa cao.
*Các yếu tố nhà nước và yếu tố khác
Tác động của chính quyền địa phương ít ảnh hưởng, sau đó vấn đề sản
kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền vững.
Tác giả Trần Văn Hiếu (2005) cho rằng: “ Liên kết kinh tế là quá trình
thâm nhập, phối hợp với nhau trong sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế
15
dưới hình thức tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi
nhất trong khuôn khổ pháp luật, thông qua hợp đồng kinh tế khai thác tốt các
tiềm năng của các chủ thể tham gia liên kết. Liên kết kinh tế có thể tiên hành
theo chiều dọc hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành, trong một quốc gia hay
nhiều quốc gia, trong khu vực và quốc tế”.
Trong các văn bản của Nhà nước mà cụ thể là trong quy định ban hành theo
Quyết định số 38-HĐBT ra ngày 10/04/1989 thì liên kết kinh tế là những hình thưc
phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra
các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của
mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất. Sau khi bàn bạc thống nhất,
các đơn vị thành viên trong tổ chức liên kết kinh tế cùng nha ký kết hợp đồng về
những vấn đề có liên quan đến phần họa động của mình để thực hiện.
Theo ThS. Hồ Quế Hậu thì Liên kết kinh tế trong kinh tế thị trường và hội
nhập kinh tế là sự chủ động nhận thức và thực hiện mối liên kết kinh tế khách
quan giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế xã hội, nhằm thực hiện mối
quan hệ phân công và hợp tác lao động để đạt tới lợi ích kinh tế xã hội chung.
Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt
động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các
chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh phát triển
theo hướng có lợi nhất. Được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện bình
đẳng cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và
trong khuôn khổ pháp luật của các nhà nước hay thông qua hợp đồng miệng dựa
trên sự tín nhiệm, niềm tin trách nhiệm cam kết giữa các tác nhân tham gia thị
trường. Mục tiêu là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng
quan hệ chặt chẽ giữa các tác hân khi tham gia liên kết sản xuất nguyên liệu, chế
biến và tiêu thụ.
Trong hoạt động liên kết có thể thiết lập mối quan hệ liên kết ở tất cả các
khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng, từ khâu chuẩn bị các yếu tố sản xuất và
phục vụ sản xuất, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, đào tạo, bảo vệ tài
17
nguyên môi trường, khai thác thị trường, thúc đẩy quá trình lưu thông tiêu thụ
sản phẩm,….Hoạt động liên kết có thể diễn ra ở phạm vi không gian hẹp như ở
một địa phương, một vùng và cũng có thể diễn ra ở phạm vi không gian rộng
như thông qua hình thức hợp đồng liên kết giữa các chủ thể kinh tế độc lập
cũng có thể thực hiện thông qua hình thành một loại hình tổ chức mới, làm
nhiệm vụ điều phối họa động của các bên tham gia.
Sự thỏa thuận hay cam kết giữa các tác nhân trong sản xuất nguyên liệu,
chế biến và tiêu thụ thể hiện sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau vì lợi ích chung của các
bên, dựa trên nguyên tắc bình đẳng và sự phát triển của các bên.
Các cam kết, thỏa thuận phải có điều kiện ưu đãi, các ưu đãi này phải
được xây dựng thông qua bàn bạc, thống nhất vì lợi ích của các bên.
Các thỏa thuận cam kết phải thể hiện trách nhiệm của mỗi bên khi thực
hiện cam kết và các hình thức phạt nếu một bên không thực hiện đúng, đủ theo
thỏa thuận, cam kết. Các mối liên kết này thể hiện thông qua các hình thức như
hợp đồng văn bản, hợp đồng miệng. Tùy nội dung liên kết mà nội dung hợp
đồng là khác nhau. Như hợp đồng DN thuê đất của nông dân sản xuất mía
nguyên liệu, nông dân sẽ có mức giá thuê xác định. Hai bên thỏa thuận một mức
giá cố định trước khi tiến hành ký hợp đồng thuê đất. Doanh nghiệp sẽ tiến hành
trả tiền thuê nông dân, tiến hành dồn điền đổi thửa để sản xuất mía nguyên liệu.
2.1.3.3. Đặc trưng và nguyên tắc cơ bản của liên kết kinh tế
* Đặc trưng của liên kết
Từ lý thuyết về liên kết, chúng ta đưa ra những đặc trưng cơ bản của liên
hoạt động liên kết kinh tế ấy phải đảm bảo để sản xuất và kinh doanh của các
chủ thể tham gia không ngừng được phát triển, doanh thu ngày càng tăng, năng
suất và chất lượng sản phẩm ngày càng cao. Liên kết kinh tế phải nâng cao được
trình độ công nghệ, mở rộng mặt hàng, sản xuất ngày cnagf phù hợp với nhu cầu
thị trường, giá thành hạ, đem lại nhiều lợi nhuận cho các chủ thể trên cơ sở giá
bán và chất lượng sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận.
19
Thứ hai, phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện và tự chịu trách nghiệm
giữa các bên tham gia liên kết
Các hoạt động hợp tác, liên kết kinh tế giữa các chủ thể tham gia được thể
hiện một cách thuận lợi, trôi chảy, thành công và đem lại hiểu quả cao khi các chủ
thể tự nguyện tìm đến với nhau, tự tỏa thuận quan hệ hợp tác, liên kết làm ăn với
nhau lâu dài trên tinh thần bình đẳng, cùng chịu trách nhiệm đến cùng về các
thành công cũng như thất bại và rủi ro. Tất cả các hình thức hợp tác, liên kết kinh
tế, tổ chức kinh tế được thiết lập trên cơ sở những ý đồ không xuất phát từ tự
nguyện, từ những liên hệ tất yếu về phương diện kinh tế, nghĩ là tiến hành trên cơ
sở gò bó, gượng ép bắt buộc đều hoạt động không thành công, kém hiệu quả.
Thứ ba, phải đảm bảo sự thống nhất hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên
tham gia liên kết.
Lợi ích kinh tế chính là động lực thúc đẩy các bên tham gia liên kêt kinh
tế với nhau, là chất kết dính với nhau trong quá trình liên kết. Các bên tìm đến
vơi nhau thỏa thuận tiến hành hợp tác, liên kết với nhau vì họ tìm thấy những lợi
ích lâu dài. Cho nên việc đảm bảo thống nhất hài hòa lợi ích giữa các bên sẽ tạo
nên chât kêt dính bền vững. Khi lợi ích kinh tế của hoặc mọt số chủ thể nào đó
bị xâm phạm hoặc thiếu sự công bằng, thống nhất sẽ tạo ra sự rạn nứt của mối
liên hệ bền vững, dẫn đến sự phá vỡ tổ chức liên kết, mối liên hệ đã được thiết
lập. Sự phân chia lợi nhuận, phổ biến thiệt hại, rủi ro, các tính toán về chi phí giá
chất nhựa gắn bó các doanh nghiệp, các chủ thể liên kết lại với nhau trên cơ sở
đảm bảo lợi ích sống còn trên thị trường. Hoạt động liên kết kinh tế là cơ sở đảm
bảo lợi ích sống còn trên thị trường. Hoạt động liên kết kinh tế là nhằm phát
triển, tìm kiếm, khai thác ngày càng nhiều nguồn nguyên liệu cho sản xuất đa
dạng hóa mặt hàng tăng nhanh khối lượng và chất lượng sản phẩm, rút ngắn và
đẩy nhanh quá trình lưu thông, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng và phát triển thị
trường, tức là nâng cao năng suất lao động, tồn tại, phát triển và mang lại hiệu
quả kinh tế ngày càng cao (Phan xuân Dũng, 2007).
21
Tuy từng loại hình tổ chức và yêu cầu của sản xuất kinh doanh, mức độ
liên kết giữa các thành viên có thể theo từng loại công việc, từng bước của công
nghệ sản xuất, theo từng loại sản xuất hoặc lĩnh vực hoạt động chuyên môn hóa
cũng như cung ứng, chuẩn bị sản xuất, bảo quản, tiêu thụ.....
Ngoài ra liên kết kinh tế phải kết hợp hài hoà lợi ích của các bên tham gia
và các mối liên kết cần phải được pháp lý hoá. Tuy nhiên trong thực tế chúng ta
vẫn thấy nhiều quan hệ kinh tế được xây dựng trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, nhưng
không phải lúc nào những mối liên kết này cũng bền vững vì vậy để hướng tới
những mối liên kết lâu dài, ổn định và phù hợp với sản xuất, kinh doanh quy mô
lớn pháp lý hoá các mối liên kết là một nguyên tắc cần thiết.
2.1.3.4. Các hình thức và phương thức liên kết kinh tế.
a. Các hình thức liên kết.
Theo quyết định số 38-HĐBT ngày 10/4/1989 của Hội đồng Bộ trưởng,
liên kết kinh tế có nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau.
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung, thời gian, phạm vi hoạt động và đối tượng
liên kết, có các hình thức: Theo GS.TS khoa học Vũ Huy Từ thì có những loại
hình liên kết sau:
- Theo mục tiêu và thời gian liên kết, có: Liên kết thường xuyên; Liên kết
nguồn lực tài chính khả năng tổ chức và trách nhiệm giữ tín với các đối tác.
Tuy nhiên, hợp đồng bằng miệng thường chỉ là các thỏa thuận trên
nguyên tắc về số lượng, giá cả, điều kiện giao nhận hàng hóa. Hợp đồng bằng
miệng cũng có thể có hoặc không có đầu tư ứng trước về tiền vốn, vật tư cũng
như các hỗ trợ, giám sát kỹ thuật. So với hợp đồng thì hợp đồng bằng miệng
lỏng lẻo và có tính chất pháp lý thấp hơn.( Ngô Thị Thủy, 2004)
- Hợp đồng bằng văn bản( hợp đồng chính thống).
Liên kết theo hợp đồng là quan hệ mua bán chính thức được thiết lập giữa
các tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán sản phẩm. Theo Eaton and
Shepherd (2001), liên kết dạng hợp đồng là hình thức một công ty cam kết mua
hàng hóa từ nhà sản xuất với mức giá được xác định trước khi mua. Mối quan hệ
hợp đồng giữa nhà sản xuất với nhà chế biến chỉ sự điều chỉnh của những văn
23
bản thỏa thuận cá nhân mang tính pháp lý, những giao dịch này có thể về giá
mua bán, thị trường, chất lượng và số lượng nguyên liệu đầu vào, các dịch vụ kỹ
thuật, cung cấp tài chính….được thỏa thuận trước khi bán. Liên kết dạng hợp
đồng tạo ra sự linh hoạt trong việc chia sẽ rủi ro và quyền kiểm soát giữa các
chủ thể tham gia hợp đồng.( Ngô Thị Thủy, 2004)
b. Phương thức liên kết.
* Liên kết dọc
liên kết dọc( liên kết giữa các tác nhân trong cùng một ngành hàng mà
trong đó mỗi tác nhân đảm nhận một bộ phận hoặc một số công đoạn nào đó) là
liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh( theo dòng vận động của sản phẩm). Kiểu liên kết theo chiều dọc toàn
diện nhất bao gồm: Các khâu sản xuất đến thu gom và tiêu thụ sản phẩm. Trong
liên kết này mỗi tác nhân vừa là khách hàng của các tác nhân kế trước, vừa bán
hàng kế sau trong chuỗi ngành hàng. Kết quả của liên kết dọc là hình thành
chuỗi ngành hàng làm giảm chi phí vận chuyển, giảm chi phí trung gian(Lê Văn
sản phẩm. Trong những hợp đồng kiểu này, lượng sản phẩm doanh nghiệp đặt
hàng các trang trại được phân bổ ngay từ đầu mùa vụ và chất lượng được giám
sát một cách chặt chẽ.
Mô hình tập trung đảm bảo nông dân tiêu thụ được nông sản, doanh
nghiệp có nguyên liệu phục vụ cho chế biến. Ngoài ra mô hình này hình thành
sự liên kết giữa doanh nghiệp và các trang trại, tạo ra vùng sản xuất tập trung
với chất lượng cao, an toàn theo quy trình sản xuất nông nghiệp an toàn, đạt tiêu
chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm, nhằm góp phần nâng cao sức cạnh
tranh cho doanh nghiệp và tạo sự phát triển bền vững cho các trang trại.
-
Mô hình trang trại hạt nhân( The nucleus Estate Model)
Mô hình trang trại hạt nhân tương tự như mô hình tập trung nhưng bên
mua sản phẩm là doanh nghiệp nắm quyền sở hữu đất đai, chuồng trại, vườn
cây. Bên bán sản phẩm chỉ thực hiện hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm và bán
lại sản phẩm cho doanh nghiệp. Chủ thể tham gia trực tiếp vào mô hình này
cũng chỉ bao gồm doanh nghiệp và các trang trại. Trong đó các trang trại do
nông dân sản xuất thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Do đó, các hộ nông
25