PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, cùng với tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ, con người
đang phải đứng trước những thách thức lớn về các vấn đề môi trường, đặc biệt là
vấn đề biến đổi khí hậu (BĐKH). Đây là một trong những vấn đề nóng bỏng nhất
trên phạm vi toàn cầu trong giai đoạn hiện nay, được các quốc gia và vùng lãnh thổ
vô cùng quan tâm.
Trong báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ủy ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC)
được công bố tháng 2 năm 2007, nhiệt độ trung bình toàn cầu trong giai đoạn từ
1906 - 2005 đã tăng khoảng 0,74°C và xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây
là 0,13°C, gấp hai lần so với xu thế tăng của 100 năm qua. Mực nước biển trung
bình toàn cầu đã tăng lên 0,31m trong 100 năm gần đây. Trong những năm qua,
nhiều nơi trên thế giới đã phải chịu nhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn, nắng
nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt gây thiệt hại lớn về tính mạng
con người và vật chất. Điều này cho thấy biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực
tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trường toàn cầu.
Việt Nam là một trong 5 quốc gia dễ bị tổn thương nhất trên thế giới do sự
biến đổi của khí hậu (Dasgupta và cộng sự, 2007). Theo nghiên cứu của ngân hàng
thế giới (WB, 2009), dự báo đến năm 2100, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể
tăng thêm 3ºC, mực nước biển dâng cao từ 0,2 - 0,6m, theo đó sẽ có từ 100.000
đến 200.000 ha đất bị ngập và làm thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
Những đợt hạn hán, nắng nóng kéo dài, những đợt rét lịch sử, mực nước biển dâng
là những hậu quả của BĐKH, chúng gây ra nhiều hệ lụy đáng kể đối với phát triển
bền vững ở Việt Nam. Theo những ước tính gần đây, tổng thiệt hại do thiên tai, đặc
biệt là bão, lụt và lở đất chiếm gần 1% GDP của cả nước (MONRE, DFID và
UNDP, 2010). Khác với các ngành khác, ngành nông nghiệp Việt Nam phải chịu
ảnh hưởng lớn từ BĐKH nhưng lại có thể khắc phục những hậu quả không đáng có
đổi khí hậu của người dân trong sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Tân, huyện
Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa”.
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá nhận thức về BĐKH trong sản xuất nông nghiệp của người dân xã
Quảng Tân.
- Đánh giá khả năng thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp của người
dân xã Quảng Tân.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức và khả năng thích ứng với BĐKH của
người dân xã Quảng Tân trong sản xuất nông nghiệp.
1.3. Yêu cầu nghiên cứu
- Số liệu trung thực, khách quan để đánh giá nhận thức, khả năng thích ứng của
người dân trong sản xuất nông nghiệp xã Quảng Tân.
- Các giải pháp đề xuất phù hợp với điều kiện của địa phương, có tính thực tiễn và
khả năng áp dụng thực tế.
PHẦN 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Khái quát chung về biến đổi khí hậu
2.1.1. Một số khái niệm liên quan đến biến đổi khí hậu
Thời tiết và khí hậu
Thời tiết là tập hợp các trạng thái của các yếu tố khí tượng xảy ra trong khí
quyển ở một thời điểm, được xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ
ẩm, tốc độ gió, lượng mưa v.v...
Khí hậu là trạng thái vật lý của khí quyển xảy ra ở một vùng địa lý nào đó,
được đặc trưng bởi các trị số thống kê các yếu tố khí tượng nhiều năm về bức xạ,
nắng, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, lượng bốc thoát hơi nước, mây, tốc độ và hướng
Hiện nay có rất nhiều khía niệm, định nghĩa về Biến đổi khí hậu đang được
thế giới và Việt Nam sử dụng, ví dụ như:
- Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH (2007) định nghĩa: “Biến đổi khí
hậu là sự biến đổi của trạng thái khí hậu do các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp
của con người gây ra sự thay đổi thành phần của khối khí quyển toàn cầu và nó có
thể so sánh được”.
- Theo IPCC (2007), “Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí
hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các
thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập
kỷ hoặc dài hơn”.
- Bộ NN&PTNN(2008) nêu ra: “Biến đổi khí hậu đề cập đến sự thay đổi về trạng
thái của khí hậu mà có thể xác định được (ví dụ sử dụng các phương pháp thống
kê) diễn ra trong một thời kỳ dài thường là một thập kỷ hoặc lâu hơn. BĐKH đề
cập đến bất cứ biến đổi theo thời gian, có hay không theo sự biến đổi của tự nhiên
do hệ quả các hoạt động của con người”.
Nhìn chung, các định nghĩa, khái niệm có đôi chút khác nhau song nội dung
chính vẫn đồng quan điểm với nhau, đó là sự thay đổi của trạng thái khí hậu trong
khoảng thời gian dài, có liên quan đến con người. Như vậy, ta có thể hiểu một cách
đơn giản: “BĐKH là sự biến đổi theo một xu thế nào đó dẫn tới các đặc trưng thời
tiết dần dần trở nên khặc nhiệt hơn hoặc ôn hòa hơn, theo thời gian nó không trở
lại xung quanh trị số khí hậu trung bình nữa”.
2.1.2. Biểu hiện của biến đổi khí hậu
Theo nghiên cứu của Uỷ ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) năm 2007,
BĐKH thường có một số biểu hiện sau đây:
-
Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung.
BĐKH đó là do tự nhiên và do con người.
2.1.3.1. Nguyên nhân do tự nhiên
Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên bao gồm: thay đổi cường độ sáng
của mặt trời, xuất hiện các điểm đen mặt trời (Sunspots), các hoạt động núi lửa,
thay đổi đại dương và thay đổi quỹ đạo quay của trái đất.
(1) Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt trời gây ra sự thay đổi năng lượng
chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất. Cụ thể là từ khi
tạo thành mặt trời đến nay gần 4,5 tỷ năm, cường độ ánh sáng mặt trời đã tăng lên
hơn 30%. Như vậy có thể thấy với khoảng thời gian khá dài như vậy thì sự thay đổi
cường độ ánh sáng mặt trời là không ảnh hưởng đáng kể đến BĐKH.
(2) Sự xuất hiện các Sunspots làm cho cường độ tia bức xạ mặt trời chiếu
xuống trái đất thay đổi, nghĩa là năng lượng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay
đổi nhiệt độ bề mặt trái đất.
(3) Núi lửa phun trào: Khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khí
quyển một lượng cực kỳ lớn khối lượng sulfur dioxide (SO 2), hơi nước, bụi và tro
vào bầu khí quyển. Khối lượng lớn khí và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong
nhiều năm. Các hạt nhỏ được gọi là các sol khí phản chiếu lại bức xạ mặt trời trở
lại không gian, vì vậy chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt trái đất.
(4) Đại dương: Các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí
hậu. Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh. Thay đổi
trong lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động
của CO2 vào trong khí quyển.
(5) Thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất: Trái đất quay quanh Mặt trời với
một quỹ đạo. Trục quay có góc nghiêng 23,5°. Thay đổi độ nghiêng của quỹ đạo
quay trái đất có thể dẫn đến những thay đổi nhỏ. Tốc độ thay đổi cực kỳ nhỏ có thể
tính đến thời gian hàng tỷ năm, vì vậy có thể nói không ảnh hưởng lớn đến BĐKH.
trình tăng nhiệt độ trái đất với quá trình tăng nồng độ khí CO 2 và các khí nhà kính
khác trong khí quyển, đặc biệt trong kỷ nguyên công nghiệp (UNDP, 2008). Trong
suốt gần 1 triệu năm trước cách mạng công nghiệp, hàm lượng khí CO 2 trong khí
quyển nằm trong khoảng từ 170 - 280ppm. Hiện tại, con số này đã tăng cao hơn
nhiều và ở mức 387ppm và sẽ còn tiếp tục tăng với tốc độ nhanh hơn nữa (Ngân
hàng Thế giới, 2010). Chính vì vậy, sự gia tăng nồng độ khí CO2 trong khí quyển
sẽ làm cho nhiệt độ trái đất tăng và nguyên nhân của vấn đề biến đổi khí hậu là do
trái đất không thể hấp thụ được hết lượng khí CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà
kính khác đang dư thừa trong bầu khí quyển (UNDP, 2008).
Đánh giá khoa học của IPCC cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên
liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận
tải, xây dựng v.v... đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá
rừng nhiệt đới khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9%, các ngành sản xuất
hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại 3% là các hoạt động khác (chôn lấp
rác thải,...).
Theo thông báo thứ 2 của Việt Nam với Công ước Khung Liên Hiệp Quốc
về BĐKH thì kết quả kiểm kê khí nhà kính (KNK) năm 2000 của Việt Nam là
khoảng 143 triệu tấn CO2/năm. Trong đó Nông nghiệp chiếm 45% tổng lượng phát
thải KNK của Việt Nam, ngành năng lượng chiếm 35%, lâm nghiệp chiếm 11%,
công nghiệp chiếm 7% và các hoạt động khác (chôn lấp chất thải v.v...) chiếm 2%.
Khác với xu hướng toàn cầu, Việt Nam là một đất nước có tỷ trọng sản xuất nông
nghiệp cao nên lượng phát thải KNK chiếm đến 45% tổng lượng phát thải của cả
nước.
2.2. Thực trạng về biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam
2.2.1. Thực trạng về biến đổi khí hậu trên thế giới
Nếu như cách đây khoảng 5 năm, thế giới vẫn còn hoài nghi và tranh luận về vấn
đề liệu biến đổi khí hậu trên thực tế có xảy ra hay không và có phải do con người
gây ra hay không thì ngày nay, cuộc tranh luận này không còn nữa và sự hoài nghi
Hình 2.1. Thay đổi nhiệt độ bề mặt giai đoạn 1901 - 2012
(Nguồn: IPCC, 2013)
(2) Biến đổi của lượng mưa
Báo cáo tổng hợp thông tin của Viện khí tượng thủy văn và môi trường
(IMHEN, 2010) cho biết trong thời kỳ 1901 - 2005, xu thế biến đổi của lượng mưa
rất khác nhau giữa các khu vực và giữa các tiểu khu vực trên từng khu vực và giữa
các thời đoạn khác nhau trên từng tiểu khu vực:
- Ở Bắc Mỹ, lượng mưa tăng lên ở nhiều nơi, nhất là ở Bắc Canađa nhưng lại giảm
đi ở Tây Nam nước Mỹ, Đông Bắc Mexico và bán đảo Bafa với tốc độ giảm chừng
2% mỗi thập kỷ, gây ra hạn hán trong nhiều năm gần đây.
- Ở Nam Mỹ, lượng mưa lại tăng lên trên lưu vực Amazon và vùng bờ biển Đông
Nam nhưng lại giảm đi ở Chile và vùng bờ biển phía Tây.
- Ở Châu Phi, lượng mưa giảm ở Nam Phi, đặc biệt là ở Sahen trong thời đoạn
1960 - 1980.
- Ở khu vực nhiệt đới, lượng mưa giảm đi ở Nam Á và Tây Phi với trị số xu thế là
7,5% cho cả thời kỳ 1901 - 2005. Khu vực có tính địa phương rõ rệt nhất trong xu
thế biến đổi lượng mưa là Australia do tác động lớn của ENSO.
- Ở đới vĩ độ trung bình và vĩ độ cao, lượng mưa tăng rõ rệt ở miền Trung Bắc Mỹ,
Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á.
- Trên phạm vi toàn cầu lượng mưa tăng lên ở các đới phía Bắc vĩ độ 30°N thời kỳ
1901 - 2005 và giảm đi ở các vĩ độ nhiệt đới, kể từ thập kỷ 1990.
- Tần số mưa lớn tăng lên trên nhiều khu vực, kể cả những nơi lượng mưa có xu
thế giảm.
(3) Băng tan và nước biển dâng
Khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên, lượng mưa tại các khu vực khác nhau đang
thay đổi; các vùng biển ấm lên, băng tại các cực đang tan ra và mực nước biển
đang dâng lên (UNDP, 2008).
nóng hơn; số ngày lạnh, đêm lạnh và sương giá giảm đi, trong khi các đợt nắng
nóng ngày càng xảy ra thường xuyên hơn; cường độ của những cơn bão và lốc
nhiệt đới đã trở nên nghiêm trọng hơn.
2.2.2. Thực trạng về biến đổi khí hậu ở Việt Nam
(1)
Nhiệt độ tăng
Theo Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam (2012)
cho thấy rằng:
Ở Việt Nam, xu thế biến đổi của nhiệt độ là rất khác nhau trên các vùng.
Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5°C trên phạm vi lãnh
thổ cả nước. Nhiệt độ tháng I (tháng đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độ tháng VII
(tháng đặc trưng cho mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi cả
nước. Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với mùa hè và nhiệt độ vùng sâu trong
đất liền tăng nhanh hơn so với nhiệt độ vùng ven biển, hải đảo. Vào mùa đông,
nhiệt độ tăng nhanh nhất là ở Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc
Trung Bộ (khoảng 1,3 - 1,5°C/50 năm). Nam Trung Bộ có nhiệt độ tháng I tăng
chậm hơn so với các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng 0,6 - 0,9°C/50 năm). Tính
trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta đã tăng lên 1,2°C/50 năm.
Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng 0,3 - 0,5°C/50 năm trên tất cả các vùng khí hậu
của nước ta. Nhiệt độ trung bình năm tăng 0,5 - 0,6°C/50 năm ở Tây Bắc, Đông
Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, còn mức tăng
nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ vào khoàng 0,3°C/50 năm
(Hình 2.3).
Hình 2.3. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (°C) trong 50 năm qua
(Nguồn: IMHEN, 2010)
Lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu, nhất là
trong những năm gần đây. Số ngày mưa lớn cũng có xu thế tăng lên tương ứng,
nhiều biến động mạnh xảy ra ở khu vực miền Trung. Tồn tại mối tương quan khá
rõ giữa sự nóng lên toàn cầu và nhiệt độ bề mặt biển khu vực Đông xích đạo Thái
Bình Dương với xu thế biến đổi của số ngày mưa lớn trên các vùng khí hậu phía
Nam.
(3) Nước biển dâng
Theo kết luận trong nghiên cứu của Trần Thục, Huỳnh Thị Lan Hương, Đào
Minh Trang (2012): Số liệu mực nước đo đạc từ vệ tinh từ năm 1993 đến 2010 cho
thấy xu thế tăng mực nước biển trên toàn biển Đông là 4,7mm/năm, phía Đông của
biển Đông có xu thế tăng hiều hơn hơn phía Tây. Chỉ tính cho dải ven bờ Việt
Nam, khu vực ven biển Trung Trung Bộ và Tây Nam Bộ có xu hướng tăng mạnh
hơn, trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam tăng khoảng 2,9mm/năm.
Theo viện khoa học khí tượng và thủy văn (2011) đánh giá:
- Trong 50 năm qua, mực nước biển trung bình ở Việt Nam dâng lên khoảng
25 - 30cm.
- Mực nước biển cao nhất có tốc độ xu thế cao hơn, còn mực nước biển thấp
nhất thì ngược lại, tăng ít hơn thậm chí có nơi thấp so với mực nước biển trung
bình.
- Trong thời kỳ gần đây, mực nước biển cao hơn thời kỳ 1961 - 1990 về trị
số trung bình cũng như trị số cao nhất và trị số thấp nhất.
(4) Xoáy nhiệt đới
Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam (Bộ Tài nguyên – Môi
trường, 2012) kết luận rằng:
Về xoáy thuận nhiệt đới, trung bình hàng năm có khoảng 12 cơn bão và áp
Giới hạn xâm nhập mặn (từ ngày 19 đến ngày 28 tháng 12 năm 2007) có
đỉnh mặn lớn nhất kỳ triều ở các sông: Trà Lý, sông Hồng, Ninh Cơ, sông Đáy. Độ
sâu xâm nhập mặn diễn biến từ 21,3km đến 28,5km theo S đỉnh max ở mức xâm nhập
mặn 1‰.
- Giới hạn xâm nhập mặn (từ ngày 16 đến ngày 25 tháng 1 năm 2008) gồm
các con triều cường và triều trung bình thuộc 1 kỳ triều cường có đỉnh mặn lớn
nhất ở các sông: Trà Lý. Sông Hồng, Ninh Cơ, sông Đáy. Độ sâu xâm nhập mặn
diễn biến từ 30,3km đến 40km theo Sđỉnh max ở mức xâm nhập mặn 1‰.
- Đỉnh mặn lớn thường xuất hiện ở đầu và cuối kỳ triều, đỉnh mặn ở các con
triều cường thuộc giữa kỳ không lớn. Đỉnh mặn còn phụ thuộc vào lưu lượng nước
xả từ các hồ kịp thời khống chế được mực nước tối thiểu và đẩy xâm nhập mặn
làm giảm độ sâu nhập mặt vào các các cửa sông.
(6) Các hiện tượng thời tiết cực đoan
Theo số liệu quan trắc, trong khoảng 70 năm qua (1931 - 2000):
-
Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm rõ rệt trong 2 thập kỷ
gần đây, từ 29 đợt mỗi năm trong các thập kỷ 1971 - 1980, 1981 - 1990 xuống
còn 24 đợt mỗi năm trong thập kỷ 1991 - 2000, đặc biệt trong các năm 1994 và
2007, chỉ có 15 - 16 đợt mỗi năm.
-
Hạn hán có xu hướng mở rộng ở hầu hết các vùng, đặc biết là cực Nam Trung
Bộ, dẫn đến gia tăng hiện tượng hoang mạc hóa.
tiết và thiên tai làm tăng khả năng phát triển sâu hại, dịch bệnh dẫn đến giảm năng
suất và sản lượng, tăng nguy cơ và rủi ro đối với nông nghiệp và an ninh lương
thực (IMHEN, 2011).
Một nghiên cứu do Viên Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRR) thực hiện kết luận
rằng: Cứ nhiệt độ tối thiểu ở giai đoạn sinh trưởng tăng lên 1°C thì nhu cầu tưới
tiêu cho nông nghiệp tại các khu vực khô cằn và bán khô cằn ở Đông Nam Á cũng
sẽ tăng 10%, điều này hạn chế khả năng gieo trồng 2 vụ mỗi năm.
Theo đánh giá của ADB, nếu nhiệt độ tăng 1°C, năng suất lúa sẽ giảm 10%,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia. Do vậy, giá lương thực
sẽ tăng cao và nạn đói sẽ gia tăng ở quốc gia hiện đang phải đối mặt với những vấn
đề này. “Ngày nay có một tỷ người đang thiếu dinh dưỡng. Nếu như xuất hiện
bùng nổ dân số ở Trung Quốc hay Ấn Độ vào cuối thế kỷ này thì một nửa dân số
thế giới có thể lâm vào tình trạng thiếu ăn”.
Năm 1899, sự suy yếu hoàn lưu gió mùa ở Ấn Độ đã gây ra hạn hán và nạn
đói ở nước này. Năm 2010, Nga đã phải trải qua đợt nắng nóng gay gắt khiến sản
lượng lúa mì và ngũ cốc sụt giảm tới 20% và nước này đã phải tuyên bố ngừng
xuất khẩu lúa mì và ngũ cốc.
(2) Tác động của sự thay đổi lượng mưa, bão, lũ lụt
Bão lũ là hiểm họa thiên nhiên mang lại nhiều mất mát với sức tàn phá nặng
nề cả về người và của. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, bão lũ gây ra thiệt hại
nặng nề đến năng suất và chất lượng nông sản.
Theo Viện Lương thực toàn cầu (1998), mưa lũ gây ra sạt lở đất ở Braxin,
Trung Quốc, Philippines; động đất và sóng thần ở Nhật Bản, Myanmar, các nước
ven biển Thái Bình Dương,... Mưa lũ cuốn trôi của cải vật chất, mùa màng, làm
cho đất bị ngập úng. Năm 1987, mưa lũ đã gây ra thiếu hụt trên quy mô lớn về
năng suất cây trồng ở Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan, khiến cho 2 nước Ấn Độ và
Pakistan phải quay trở lại tình trạng nhập khẩu lúa mì.
tác, tập trung ở hầu hết các tỉnh Tây Nguyên, Ninh Thuận và Bình Thuận. Hạn hán
cũng đã bắt đầu ảnh hưởng đến các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ, mực nước trên các
sông, hồ đều cạn kiệt. Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi còn nhiều vùng đồi núi
trọc đang bị mưa lũ làm lỡ đất, xói mòn và suy thoái đến khô cằn hoang mạc.
(2) Tác động của sự thay đổi lượng mưa, bão, lũ lụt
Việt Nam là một nước nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt
đới, có nhiều thiên tai bất thường như bão, lũ lụt, lũ quét. Khi ảnh hưởng kết hợp
của bão, áp thấp nhiệt đới hay dãy hội tụ nhiệt đới sẽ có mưa lớn và sinh ra lũ.
Hằng năm, lũ và lũ quét đã gây ra nhiều thiệt hại cả về người và của.
Nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu tới tăng trưởng và phát triển
kinh tế ở Việt Nam (IMHEN, 2011) cho biết : Giữa năm 1954 và 2000, trung bình
có 6,9 cơn bão/năm ảnh hưởng tới đất liền dọc theo bờ biển Việt Nam. Cấp độ gió
mạnh và mực nước dâng kết hợp với các cơn bão gây ra phá hủy lớn đối với vùng
duyên hải. Lượng mưa đi kèm với các cơn bão cũng gây ra lũ lụt rộng lớn trong
các vùng thấp hơn một mét so với mực nước biển. Kết quả các trận lụt phá hủy
đáng kể các vùng đất thấp như các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng và gây
ngập lụt ruộng lúa.
Theo nghiên cứu của Mai và các cộng sự (2009), giữa năm 1976 và 2005, lũ
lụt và nước ngập mặn làm hỏng 40.000 hecta đất trồng trọt và phá hủy trên
100.000 tấn lương thực. Tỷ lệ phá hủy có thể tăng do biến đổi khí hậu. Bão cũng
góp phần làm xói mòn bờ biển nghiêm trọng của Việt Nam, dự kiến sẽ tồi tệ hơn
do biến đổi khí hậu. Việt Nam đã phải chịu cả hai xói mòn dọc bờ biển và xói mòn
đất bồi, dẫn đến đào sâu xói mòn thêm các bãi biển ở phía trước đê biển. Trong
100 năm qua, bờ biển tại Việt Nam đã ăn sâu vào bờ khoảng 3.000m và khoảng
18.000 ha đất đã bị mất.
(3) Tác động của mực nước biển dâng
diện tích chịu ảnh hưởng của độ mặn lớn hơn 1‰ khoảng 2.524.100 ha, chiếm
diện 64% tích tự nhiên, tăng 4561ha.
2.4. Khái quát chung về vai trò của nhận thức trong thích ứng với BĐKH
Theo kết quả nghiên cứu của Phan Văn Tân và Ngô Đức Thành (2013), về
mặt khoa học, BĐKH là một lĩnh vực liên kết nhiều ngành khoa học khác nhau.
Việc nghiên cứu BĐKH có thể được chia thành ba bước lớn: (1) Bản chất, nguyên
nhân, cơ chế vật lý của sự BĐKH; (2) Đánh giá tác động của BĐKH, tính dễ bị tổn
thương do BĐKH và giải pháp thích ứng và (3) Giải pháp, chiến lược và kế hoạch
hành động nhằm giảm thiểu BĐKH. Ở qui mô khu vực, quốc gia và vùng lãnh thổ,
về cơ bản trình tự bài toán nghiên cứu BĐKH vẫn phải tuân thủ theo từng bước
như đối với qui mô toàn cầu, tuy nhiên có thể kế thừa để “bỏ qua” bước từ (1) sang
bước (3) nhưng không thể tiến hành bước (2) song song hoặc trước bước (1), lại
càng không thể thực hiện bài toán thích ứng với BĐKH trước khi đánh giá tác
động của BĐKH trong bước (2). Nghĩa là để thích ứng với BĐKH cần phải biết
BĐKH sẽ tác động như thế nào, muốn vậy trước đó cần phải chỉ ra khí hậu đã và
sẽ biến đổi như thế nào. Từ đó, ta có thể thấy được việc nhận thức, đánh giá về
BĐKH có vai trò quan trọng trong công tác phòng chống và thích ứng với BĐKH.
Đối với sản xuất nông nghiệp, trước khi thích nghi với biến đổi khí hậu,
người nông dân đầu tiên phải nhận thức được những thay đổi đang diễn ra, và điều
này có nghĩa là nhận thức của nông dân về BĐKH là rất quan trọng trong sự hấp
thu của các biện pháp thích ứng. Thích ứng với BĐKH đòi hỏi người nông dân đầu
tiên phải nhận thấy rằng khí hậu đã thay đổi, sau đó xác định sự thích nghi hữu ích
và tiến hành thực hiện (Maddison, 2006).
2.5. Khái quát chung về giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam
2.5.1. Khái niệm
Gần đây, khả năng thích ứng được xem xét trong bối cảnh các vấn đề về biến
đổi khí hậu toàn cầu. Khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu được định nghĩa
theo nhiều cách khác nhau: