DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1: Quan điểm của người dân về tình hình và diễn biến hạn hán tại vùng
nghiên cứu
Bảng 2: Quan điểm của người dân về sâu bệnh, dịch hại trên cây Lúa khi xảy
ra hạn hán
Bảng 3: Quan điểm của người dân về sâu bệnh, dịch hại trên Khoai Lang và
một số cây trồng khác khi xảy ra hạn hán
Bảng 4: Một số hoạt động thích ứng của người dân với hạn trong trồng trọt tại
vùng nghiên cứu
Bảng 5: Một số hoạt động thích ứng của người dân với hạn trong chăn nuôi
tại vùng nghiên cứu
Bảng 6: Mối tương quan giữa đặc điểm hộ và kinh nghiệm thích ứng với hạn
được hộ vận dụng vào trong sản xuất năm 2009-2010 ở 2 xã nghiên cứu
Bảng 7: Số lượng hoạt động thích ứng với hạn áp dụng ở các nhóm hộ khác
nhau trong sản xuất năm 2009 - 2010 tại vùng nghiên cứu
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, BẢN ĐỒ
Biểu đồ 1: Quan điểm của người dân về tác động của hạn hán đến năng suất
cây trồng
Biểu đồ 2: Quan điểm của người dân về tác động của hạn hán đến nguồn thức
ăn chăn nuôi
Biểu đồ 3: Ảnh hưởng của hạn hán đến quy mô đàn vật nuôi
Bản đồ 1: Bản đồ các xã nghiên cứu
NHŨNG CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chú thích
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
FAO Tổ chức nông lương thế giới
WMO Tổ chức Khí tượng Thế giới
WB Ngân hàng Thế giới
UBND Ủy ban nhân dân
CHND Cộng hòa nhân dân
BĐKH Biến đổi khí hậu
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
PHẦN 2 4
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Một số khái niệm liên quan 4
2.1.1 Khái niệm thích ứng 4
2.1.2 Khái niệm hạn hán 4
2.2 Các loại hình hạn hán 5
2.3 Nguyên nhân gây ra hạn hán 6
2.4 Tình hình hạn hán trên thế giới và ở Việt Nam 6
2.4.1 Tình hình hạn hán trên thế giới 6
2.4.2 Tình hình hạn hán ở Việt Nam 9
2.5 Tác động của hạn hán đối với sản xuất nông nghiệp 11
2.5.1 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp 11
2.5.2. Ảnh hưởng của hạn hán đối với sản xuất nông nghiệp 12
PHẦN 3 15
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1. Địa bàn nghiên cứu 15
3.2. Nội dung nghiên cứu 15
3.3. Phương pháp thu thập số liệu 15
3.3.1.Thu thập số liệu thứ cấp 15
3.3.2. Thu thập số liệu sơ cấp 15
3.4. Phương pháp xử lý số liệu 16
PHẦN 4 17
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 Một số đặc điểm chính về tình hình kinh tế, xã hội và sản xuất nông nghiệp của địa bàn
nghiên cứu 17
4.1.1 Đặc điểm chung của huyện Bố Trạch 17
4.1.2 Đặc điểm chung của địa bàn nghiên cứu 18
4.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu 19
là một trong năm quốc gia đang phát triển bị tác động lớn bởi biến đổi khí
hậu.
Theo nhận định của viện Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường (Bộ Tài
nguyên và Môi trường) Việt Nam là một trong số những nước bị ảnh hưởng
nặng nề nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu và mực nước biển dâng cao. Tình
hình thiên tai ở Việt Nam có chiều hướng tăng tần suất và cường độ các hiện
tượng như bão, lụt, trượt lở đất, hạn hán, gió khô nóng Đặc biệt hầu như
năm nào cũng có hạn hán gay gắt hơn so với các thập kỷ trước đây [1].
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC năm 2007, nhiệt độ trung
bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,74
o
C trong thời kỳ 1906 - 2005 và tốc độ tăng
của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó. Ở
Việt Nam trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng
0,5 - 0,7
o
C, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm. Biến đổi khí hậu đã làm
cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt [2].
Khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp hơn, mùa động đang ngày càng
lạnh hơn, mùa hè ngày càng nóng hơn, các hiện tượng thời tiết bất thường
như hạn hán, lũ lụt ngày càng biến đổi thất thường hơn, thường đến sớm hơn ,
kết thúc muộn hơn, cường độ ngày càng mạnh hơn, tần suất nhiều hơn và diễn
biến phức tạp hơn. Chúng ta đang sống chung với biến đổi khí hậu. Làm thế
nào để thích ứng với nó là một vấn đề đang được quan tâm.
Trong 10 năm trở lại đây, hạn hán đã hoành hành ở nhiều nơi, nhất là ở
miền Trung, Tây Bắc và Tây Nguyên gây ra nhiều tổn thất nghiêm trọng đối
1
với sản xuất nông nghiệp. Gần đây, các đợt hạn hán kéo dài nhiều tháng liền
trong năm 2005 trên diện rộng đã gây hậu quả nặng nề đối với sản xuất nông
nghiệp ở huyện Bố Trạch [10].
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.1 Khái niệm thích ứng
Thích ứng là một khái niệm rất rộng, có nhiều khái niệm được nhiều tác
giả đưa ra khi áp dụng vào lĩnh vực biến đổi khí hậu, nó được dùng trong rất
nhiều trường hợp:
Sự thích nghi với khí hậu là một quá trình, qua đó con người làm giảm
những tác động bất lợi của khí hậu về sức khoẻ và đời sống, và sử dụng
những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại.
Thuật ngữ thích nghi có nghĩa là điều chỉnh, một cách chủ động, tác động trở
lại hoặc dự tính trước, nhằm làm giảm thiểu những hậu quả có hại của biến
đổi khí hậu [7].
Tính thích nghi đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động,
xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay
thật sự sẽ xảy ra của khí hậu. Sự thích nghi có thể là tự phát hay được lập kế
hoạch, và có thể được thực hiện thích ứng với những biến đổi trong nhiều
điều kiện khác nhau [7].
Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc
con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm
khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm
tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại [3].
2.1.2 Khái niệm hạn hán
Khái niệm hạn hán được xây dựng trên cơ sở sự khác biệt giữa các
vùng về nhu cầu và triển vọng chính. Ở một số vùng, hạn hán là một đặc tính
bình thường và mang tính chu kỳ của khí hậu. Còn với một số vùng khác, hạn
hán lại được xem là một thời kỳ khô hạn bất thường kéo dài. Chẳng hạn, hạn
hán ở vùng Libya xuất hiện khi lượng mưa trung bình hàng năm thấp hơn
180mm, nhưng đối với vùng Bali sau 6 ngày mà không có hạt mưa nào thì
cấp cho mùa màng. Loại hạn hán này chính là tác động tổng hợp của hạn hán
khí tượng và hạn hán thuỷ văn đối với mùa màng, làm cho cây trồng không
đủ độ ẩm để duy trì sự tăng trưởng và sản lượng trung bình. Ảnh hưởng
của hạn hán nông nghiệp rất khó để ước lượng vì tính phức tạp trong
sự tăng trưởng cây trồng và khả năng xuất hiện của các nhân tố khác như sâu
bọ, cỏ dại, đất kém màu mỡ và giá cả thấp cũng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng
và năng suất cây trồng [8].
5
2.3 Nguyên nhân gây ra hạn hán
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hạn hán là do không có mưa trong một
thờì gian dài, (trong nhiều tuần, một mùa hoặc một năm). Hạn hán có quan
hệ mật thiết với các nhân tố khí hậu cơ bản như lượng mưa, nhiệt độ không
khí. Tần số xuất hiện các cơn mưa giảm và sự bất thường của các cơn mưa
thường gắn liền với hiện tượng nhiệt độ cao hơn (hạn hán vào mùa hè) hoặc
thấp hơn (hạn hán mùa đông). Một số nguyên nhân cơ bản dẫn tới hạn hán là:
+ Sự khai thác quá mức nguồn nước trên mặt đất và nguồn nước
ngầm
+ Thiếu các biện pháp để bảo vệ và phục hồi nguồn nước
+ Chặt phá rừng bừa bãi
+ Bất hợp lý trong chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp (chuyển từ trồng
những loại cây nhu cầu về nước ít sang trồng những loại cây có nhu cầu nước
cao).
+ Cơ sở hạ tầng thuỷ lợi nghèo nàn
+ Sử dụng nguồn nước kém hiệu quả ở trong các hộ gia đình và trong
các nông trại .
+ Khí hậu bị biến đổi do hiệu ứng nhà kính của các loại khí tăng (như
CO
2
, H
2
số này đang tiếp tục tăng. Hơn 10 nghìn chủ trang trại chăn nuôi gia súc ở
Xô-ma-li-a đã phải vượt biên giới sang Kê-ni-a, trong khi khoảng 30 nghìn
gia súc và 10 nghìn chủ trang trại của Kê-ni-a lại di cư sang U-gan-đa. Sự di
cư từ Kê-ni-a và Xô-ma-li-a sang Ê-ti-ô-pi-a cũng xảy ra. Tình trạng di cư
xuyên biên giới dẫn đến cạnh tranh ngày càng gay gắt các nguồn thức ăn hiếm
hoi và gây nguy cơ xung đột giữa những người di cư và cộng đồng dân bản
địa.
Một nghiên cứu tại khu vực Giu-ba ở miền nam Xô-ma-li-a cho thấy, tỷ
lệ suy dinh dưỡng cấp chiếm 30% dân số. Tỷ lệ này tại vùng đông bắc Kê-ni-
a là hơn 25% và tại Gi-bu-ti là 20%. Lĩnh vực giáo dục cũng bị ảnh hưởng
nghiêm trọng do ngày càng nhiều giáo viên và học sinh phải bỏ trường đi
kiếm sống. Tại Xô-ma-li-a, từ tháng 12-2010, hơn 400 trường học phải đóng
cửa do hạn hán, ảnh hưởng việc học tập của 55 nghìn học sinh. Tại Ê-ti-ô-pi-
a, 58 nghìn học sinh phải bỏ học.
Từ Giáng sinh, nhiều khu vực của New South Wales, bang đông dân
nhất của Australia, phải gánh chịu đợt hạn hán nghiêm trọng nhất trong thế kỷ
qua. Forbes, thị trấn nông nghiệp nằm cách Sydney 380km về phía Tây, hậu
quả của hạn hán nhìn thấy rõ: nước dòng sông Lachlan River gần như ngừng
chảy, đất đai nức nẻ.
British Columbia, bang cực Tây của Canada, một trong những vùng có
nhiều núi nhất Bắc Mỹ, đang hứng chịu một một khoảng thời gian nắng và ấm
bất thường khiến chính phủ bang lo ngại về một mùa hè hạn hán lớn. Thời tiết
7
khắp bang này trong 2 tháng qua bị ảnh hưởng mạnh của hiện tượng El Nino,
khiến trời trở nên nóng và khô.
Trong khi đó, tại Bồ Đào Nha, Viện Nước quốc gia thông báo một đợt
nắng nóng và hạn hán dữ dội nhất trong vòng 300 năm qua sẽ xuất hiện ở
nước này. Nhiệt độ ở Bồ Đào Nha thường xuyên lên tới 38-40
o
C khiến các
Ở nước ta, hạn hán xảy ra ở rất nhiều nơi với những thiệt hại ngày càng
lớn hơn. Hạn hán năm 1976 ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ làm 370,000 ha cây
lương thực bị hại. Hạn hán năm 1982 làm cho 180,000 ha cây lương thực ở 6
tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long bị mất trắng. Năm 1983, hạn hán làm cho
291,000 ha lúa mùa ở miền Trung và Nam Bộ không thu hoạch được. Vụ
đông xuân năm 1992, hạn hán và sâu bệnh đã làm cho sản lượng lúa ở Đồng
bằng sông Cửu Long giảm 559,000 tấn. Năm 1993, diện tích bị hạn ở miền
Trung lên tới 175,000 ha, trong đó có tới 35,000 ha bị cháy khô, thất thu ước
tính tới 150,000 tấn lúa và hoa màu [9].
Nhiệt độ cao, lượng mưa giảm, độ ẩm không khí thấp và gió Lào khô
nóng đã làm cho các hệ thống sông ngòi, hồ chứa nước cạn kiệt. Hạn hán và
nắng nóng đã gây cháy rừng ở nhiều nơi. Riêng 6 tháng đầu năm 1998 có 60
vụ cháy rừng ở Đồng Nai (làm mất 1.200 ha) và ở Đắk Lắk (làm mất 316 ha).
Đợt khô hạn từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1998 đã làm 11,370 ha rừng bị cháy.
Theo ước tính, thiệt hại tổng cộng trong cả nước lên tới trên 5,000 tỷ
đồng.Cháy rừng đã làm huỷ hoại nhiều cánh rừng trên đất nước. Khoảng 5
triệu ha rừng bị liệt vào loại dễ cháy ở bất cứ mùa nào trong năm. Trong số
diện tích rừng hiện có, 56% dễ bị cháy trong mùa khô. Mỗi đe doạ cháy rừng
lớn nhất là rừng Thông ở vùng cao nguyên Trung Bộ và rừng tràm ở châu thổ
sông Mê Công.
Trong mùa khô 1997-1998, do thời tiết khô nóng đã có 1,681 đám cháy
rừng trên toàn quốc làm mất khoảng 19,819 ha, trong đó có 6,293 ha rừng tự
nhiên, 7,888 ha rừng trồng, 494 ha rừng tre nứa và 5.123 ha cỏ và cây bụi. ở
Quảng Ninh và Lâm Đồng, các vụ cháy rừng Thông đã làm tê liệt nhiều nhà
máy sản xuất nhựa thông (Cục Kiểm Lâm, 1999). Các loại rừng bị cháy
thường là các loại rừng non mới tái sinh, rừng trồng từ 3-5 tuổi, trảng cỏ và
cây bụi. Các vùng sinh thái nông nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của
đợt hạn hán 1997-1998 là:
9
+ Miền núi và trung du phía Bắc: Khoảng 20% diện tích lúa đông -
kết, độ thấm, hàm lượng các chất dinh dưỡng và hàm lượng vi sinh bị giảm đi
đáng kể, đất trở nên khô, cứng, bị nén chặt, không thích hợp cho trồng trọt.
Hàng triệu ha đất trống, đồi trọc đã mất rừng lâu năm, đất mặt bị biến đổi cấu
10
tượng và lý hoá tính, trở nên dễ bị xói mòn, rửa trôi mạnh, tích tụ sắt nhôm
gây nên hiện tượng kết von và đá ong hóa, đất hoàn toàn mất sức sản xuất
nông nghiệp.
2.5 Tác động của hạn hán đối với sản xuất nông nghiệp
2.5.1 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp
Hiện tượng suy thoái đất, suy kiệt dinh dưỡng có liên quan chặt chẽ đến
chất lượng đất và môi trường. Để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho
con người, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng trong
điều kiện hầu hết đất canh tác đều bị nghèo về độ phì, đòi hỏi phải bổ sung
một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón.
Báo cáo của Viện Tài nguyên Thế giới cho thấy, gần 20% diện tích đất
đai châu á bị suy thoái do những hoạt động của con người. Hoạt động sản
xuất nông nghiệp là nguyên nhân làm suy thoái đất do thông qua quá trình
thâm canh tăng vụ, phá huỷ cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng [11].
Dự án điều tra, đánh giá thoái hoá đất ở một số nước vùng nhiệt đới
châu Á nhằm phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môi trường
của Trung tâm Đông Tây và khối các trường Đại học Đông Nam châu Á đã
tập trung nghiên cứu những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh thái nông
nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố dinh dưỡng N, P, K của
hầu hết các hệ sinh thái đều bị giảm. Nguyên nhân của của sự thất thoát dinh
dưỡng trong đất là do thâm canh thiếu phân bón và đưa các sản phẩm của cây
trồng, vật nuôi ra khỏi hệ thống [4].
Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu cho thấy đất ở vùng trung du miền
núi đều nghèo các chất dinh dưỡng P, K, Ca, Mg; đất phù sa sông Hồng có
hàm lượng dinh dưỡng khá song quá trình thâm canh với hệ số sử dụng đất
từ 2 – 3 vụ/ năm nên lượng dinh dưỡng mà cây lấy đi lớn hơn nhiều so với
và Robertson đã đưa ra phương pháp dự báo năng suất một số cây trồng cạn
như ngô, khoai tây, lúa mì ở Canada theo phương trình bậc 2 có dạng chung
như sau: Y = Co + C1X + C2X2
Trong đó: X là độ ẩm hữu hiệu của đất, là hàm số của độ ẩm không khí và
lượng mưa: X = b1Md1 + b2Md2 + b3Md3 + b4Md4
Md1: Độ ẩm tích luỹ vào cuối tháng 4,
Md2, Md3, Md4: Lượng mưa tháng từng vùng,
Co, C1, C2, b1, b2, b3, b4 : các hệ số.
12
Hạn hán là nguyên nhân gây ra thoái hoá đất do đất khô hạn không có
các liên kết giữa các hạt đất nên bị phá vỡ kết cấu. Hiện nay khoảng 30% diện
tích bề mặt Trái Đất là hoang mạc hoặc đang diễn ra quá trình hoang mạc hoá.
Sự mở rộng của hoang mạc chủ yếu ở các vùng khô hạn, bán khô hạn. Hàng
năm trên toàn thế giới có 11 - 13 triệu ha rừng bị chặt phá, hàng chục triệu ha
đất bị khô hạn đang bị suy thoái, dẫn tới hoang mạc hoá. Tổ chức Khí tượng
thế giới (WMO - 2004) đưa ra khái niệm, hoang mạc hoá là sự thoái hoá của
các hệ sinh thái và sự xuất hiện của môi trường sa mạc trên các vùng khô hạn,
bán khô hạn và một số vùng bán ẩm ướt. Quá trình hoang mạc hoá biểu thị
bằng sự tăng cường khô hạn, thiếu ẩm, giảm độ phì của đất, giảm độ che phủ
thực vật, thay đổi giống loài kèm theo sự mở rộng của các bãi cát hoặc sự
xâm lấn của các cồn cát di động [5].
Theo Vietnam IUCN (2005), Việt Nam có diện tích đất hoang mạc hóa
là 850.000 ha trên tổng số 3.292.970 ha diện tích tự nhiên trong cả nước. Quá
trình hoang mạc hoá đang xảy ra mạnh mẽ ở nhiều nơi trong đó có giải đất
ven biển.
Theo Hà Học Ngô (1977), trong suốt thời gian sinh trưởng cây ngô yêu
cầu độ ẩm đất khoảng 70% - 85%. Ngoài giới hạn độ ẩm đất này sẽ làm giảm
năng suất từ 9% - 32%, nhất là khi gặp hạn, thiếu ẩm vào thời kỳ 13 - 14 lá
[6].
Trong thời kỳ sinh trưởng, cây trồng cạn cần 300- 500 mm nước, độ ẩm
Cho đến nay người ta chưa tìm được mô hình hoặc một công nghệ dự
báo hạn có độ chính xác mong muốn. Tuy nhiên các nhà khoa học đã phác
họa được một vài căn cứ khoa học quan trọng giúp ích cho dự báo hạn như:
- Tương tác đại dương khí quyển và hiện tượng Elnino.
Các Elnino và Lanina xảy ra ở vùng xích đạo nhiệt đới Thái Bình
Dương có quan hệ chặt chẽ với sự tăng hay giảm mạnh mẽ lượng mưa ở các
khu vực xung quanh Thái Bình Dương, đặc biệt đối với những khu vực thuộc
nhiệt đới. Ở nước ta hiệu ứng Elnino có xu hướng tăng cường khả năng hạn
hán trên một số khu vực.
- Áp cao phó nhiệt đới Thái Bình Dương
Sự khống chế của hệ thống áp cao gắn liền với thời kỳ ít mưa. Đối với
những khu vực nhất định, hạn hán hình thành và kéo dài khi áp cao Thái Bình
Dương phát triển trên phần lớn đại dương nhiệt đới. Người ta bắt đầu xây
dựng và đưa vào thử nghiệm một số mô hình dự báo thời tiết hạn dài, cảnh
báo hạn hán dựa trên quá trình vận động của các trung tâm khí áp, trong đó có
áp cao phó nhiệt đới Thái Bình Dương.
14
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Địa bàn nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại xã Trung Trạch và xã Đại Trạch của huyện Bố
Trạch. Đây là hai xã có các đặc điểm tự nhiên mang tính đại diện cho huyện,
là hai xã đồng bằng ven biển, địa hình trải rộng, sông ngòi ít, sông thường
ngắn nhỏ, lượng nước ít, thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió Lào và
thường xảy ra hạn hán vào mùa khô.
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm chung của huyện Bố Trạch và địa bàn nghiên cứu
- Tìm hiểu tình hình sản xuất nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu
- Tìm hiểu tình hình hạn hán ở địa bàn nghiên cứu
- Tìm hiểu ảnh hưởng của hạn hán đến sản xuất nông nghiệp của vùng nghiên
thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu, bảng câu hỏi bán cấu trúc được xây dựng
và tiến hành thực hiện phỏng vấn hộ tại hai xã nghiên cứu.
+ Cách thức chọn hộ: Các hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên có định
hướng bao gồm hộ nghèo và hộ không nghèo có tham gia sản xuất nông
nghiệp với 20 hộ/xã, mỗi xã chọn 2 thôn.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Nhằm nắm tình hình sản xuất tại địa
phương và có những hiểu biết về địa phương.
3.4. Phương pháp xử lý số liệu
Các thông tin dữ liệu định lượng sẽ được mã hóa, lưu trữ và xử lí phân
tích định lượng bằng phần mềm SPSS.
+ Xử lý thống kê mô tả các đặc điểm của hộ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi của
hộ.
+ Phân tích tương quan được sử dụng để phân tích mối tương quan giữa đặc
điểm hộ với kinh nghiệm mà hộ đã áp dụng.
+ Phương pháp phân tích định tính được sử dụng để phân tích thực trạng
nhận thức của người dân trong thích ứng với hạn hán.
16
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Một số đặc điểm chính về tình hình kinh tế, xã hội và sản xuất nông
nghiệp của địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm chung của huyện Bố Trạch
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Bố Trạch có 30 đơn vị hành chính, bao gồm 28 xã và 2 thị trấn;
trong đó có 8 xã và 1 thị trấn miền núi, 2 xã miền núi rẻo cao dân tộc thiểu
số. Vị trí địa lý nằm ngay cửa ngõ phía Bắc thành phố Đồng Hới và là một
trong số ít huyện có chiều từ Tây sang Đông chiếm toàn bộ chiều ngang của
Việt Nam.
4.1.2.1 Xã Trung Trạch
Xã Trung Trạch thuộc huyện Bố Trạch, toàn xã có 8 thôn, từ thôn 1đến
thôn 8. Cách trung tâm thành phố Đồng Hới khoảng 15 km về phía Nam. Xã
có vị trí địa lý:
+ Phía Đông giáp Biển Đông
+ Phía Tây giáp Thị Trấn Hoàn Lão
+ Phía Nam giáp xã Đại Trạch,
+ Phía Bắc giáp xã Đồng Trạch, xã Đức Trạch.
18
Tính đến năm 2010, toàn xã có 1257 hộ với 5266 nhân khẩu, mật độ
dân số là 496 người/Km
2
. Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 10.59 km
2
,
tổng diện tích gieo trồng hàng năm là 260 ha, rừng trồng là 132 ha, rừng phi
lao ven biển là 150 ha, rừng cây phân tán là 10,000 cây.
4.1.2.2 Xã Đại Trạch
Xã Đại Trạch thuộc huyện Bố Trạch, toàn xã có 8 thôn với 29 xóm. Xã
có vị trí địa lý:
+ Phía Đông giáp Biển Đông
+ Phía Tây giáp xã Hòa Trạch, xã Nhân Trạch
+ Phía Nam giáp xã Lý Trạch, xã Nam Trạch
+ Phía Bắc giáp xã Trung Trạch
Tính đến năm 2010, toàn xã có 2192 hộ với 9192 nhân khẩu, mật độ
dân số là 314 người/Km
2
. Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 29.24 km
2
,
chăn thả và bãi lầy nhiều phù hợp với điều kiện của Trâu nên Trâu được nuôi
nhiều ở đây. Đa số các hộ được hỏi chỉ nuôi từ 1 – 2 con. Phương thức nuôi
chủ yếu là chăn thả tự nhiên.
Trâu, Bò được nuôi chủ yếu để cày kéo, lấy phân và bán thịt. Giống
Trâu được nuôi là giống Trâu Mura. Giống Bò được nuôi chủ yếu ở đây là Bò
vàng địa phương.
Trong năm 2010, 100% số hộ được phỏng vấn ở cả 2 xã đều nuôi Lợn.
Chủ yếu chăn nuôi nhỏ, từ 1 – 3 con. Giống Lợn được nuôi chủ yếu là giống
Lợn Móng Cái, Lợn lai F1 giữa Lợn Móng Cái với Lợn Đại Bạch và Lợn
Landrat.
Đối với gia cầm, chủ yếu bao gồm gà, vịt. Thường thả rong trong vườn,
nuôi chủ yếu phục vụ tiêu dùng cho gia đình, số lượng bán không đáng kể.
Hầu như các hộ được phỏng vấn là có nuôi gà với số lượng ít, từ 3 – 5 con.
Riêng đối với Vịt, chỉ những hộ có áp dụng mô hình trang trại, VAC hoặc gần
nguồn nước thì mới nuôi. Tuy nhiên, số lượng nuôi cũng rất ít thường chỉ từ 5
– 10 con. Hộ nuôi nhiều nhất được phỏng vân cũng chỉ nuôi 20 con.
Cá cũng là nguồn đóng vai trò quan trọng trong thu nhập của nông hộ.
Kết quả phỏng vấn hộ cho thấy, những hộ có nuôi cá là những hộ khá, có vốn
đầu tư để đào ao, cải tạo ao và mua giống. Giống cá được nuôi chủ yếu là cá
20